SKKN dạy học đọc hiểu truyện ngắn chí phèo (nam cao) trong chương trình ngữ văn 11 theo quan điểm của lý thuyết ki - Pdf 57

MỤC LỤC


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn mà
ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 40/QH10 2000 yêu cầu đổi mới tất cả các khâu của quá trình dạy học, trong đó nhấn mạnh
đổi mới phương pháp. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng,
phát triển năng lực”.
Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí quan trong hàng đầu trong
chương trình giáo dục phổ thông nhưng trong thực tế dạy học, ngày càng có
nhiều học sinh không coi trọng môn Ngữ văn, không yêu thích học văn. Đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy đọc hiểu văn bản nói riêng theo
hướng phát huy chủ thể sáng tạo của học sinh; giúp học sinh thông qua đọc Văn,
học Văn mà bồi dưỡng tâm hồn, phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo là
một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Lý thuyết kiến tạo đang là một trong những lý thuyết về dạy học vượt trội
được sử dụng trong giáo dục. Lý thuyết kiến tạo được đề xuất vào đầu thế ky
XX bởi Jean Piaget (1896-1980), nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ. Tư
đó cho tới nay, nó đã được ứng dụng vào nhiều ngành khoa học, đặc biệt là trong
giáo dục. Ở nhiều quốc gia, dạy học theo Lý thuyết kiến tạo đã trở thành xu
hướng tất yếu của đổi mới giáo dục. Theo Jeans Piaget: “Quá trình nhận thức
của người học thực chất là quá trình người học xây dựng nên những kiến thức
cho bản thân thông qua các hoạt động đồng hoá và điều ứng các kiến thức và kỹ
năng đã có để có thể thích ứng với môi trường học tập. Đây chính là nền tảng
của lý thuyết kiến tạo”.

trình Ngữ văn 11 theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tôi thực hiện đề tài này nhằm hướng tới mục đích cơ bản sau: đề xuất
cách dạy học đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) trong chương trình Ngữ
văn 11 theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo nhằm phát huy năng lực và niềm
hứng thú học tập cho học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu Lý thuyết kiến tạo và dạy học đọc-hiểu truyện ngắn Chí
Phèo (Nam Cao) trong chương trình Ngữ văn 11 theo quan điểm của Lý thuyết
kiến tạo.

3


1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết gồm:
Để xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài, tôi đã nghiên cứu về Lý thuyết
kiến tạo, về dạy học đọc-hiểu truyện ngắn trong nhà trường phổ thông nói chung
và truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) nói riêng.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Dự giờ của giáo viên, xây dựng giáo án, dạy thực nghiệm, đánh giá kết
quả dạy học thực nghiệm.

4


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Tư tưởng nền tảng cơ bản của Lý thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể
nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Theo thuyết kiến tạo, mỗi

quả nhất định. Song việc đổi mới phương pháp vẫn còn tồn tại những hạn chế
5


nhất định.Qua thực tế giảng dạy của bản thân và dự giờ của đồng nghiệp, tôi
nhận thấy một số thực trạng khi dạy đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao)
trong chương trình Ngữ văn 11 như sau: vẫn còn việc máy móc, rập khuôn, áp
đặt kiến thức trong quá trình giảng dạy, đọc chép, quá tham kiến thức, chưa thực
sự đưa văn học đến gần hơn với cuộc sống hiện tại của học sinh. Điều đó dẫn tới
việc khi kiểm tra đánh giá, phần lớn học sinh chỉ viết lại những gì giáo viên
truyền thụ, chỉ làm được những đề có trong vở, trong sách còn những đề sáng
tạo, yêu cầu thể hiện quan điểm cá nhân lại không làm được hoặc có làm nhưng
sơ sài, chưa thuyết phục. Nguyên nhân phần lớn là do cách dạy của giáo viên
chưa chú ý đến việc phát huy tính tích cực của chủ thể học sinh trong dạy học,
quá tham kiến thức, chưa có những câu hỏi kích thích học sinh đưa ra quan điểm
của mình. Nhiều giáo viên do tâm lí sợ hết giờ, cháy giáo án nên đã làm thay
học sinh hoặc thuyết trình quá nhiều khiến cho tiết học trở nên nặng nề, nhàm
chán. Có những học sinh khi được kiểm tra, giáo viên chỉ yêu cầu kể tên các
nhân vật trong truyện, các sự việc, chi tiết cũng không thể nhớ. Học sinh không
có khả năng liên hệ các tác phẩm văn học với đời sống, với bản thân, không
rung cảm trước những số phận, cuộc đời trong tác phẩm.
Tóm lại, qua thực trạng dạy học truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) trong
chương trình Ngữ văn 11 nhìn tư quan điểm của Lý thuyết kiến tạo, chúng tôi
nhận thấy việc đổi mới phương pháp dạy học đã có nhiều chuyển biến song vẫn
chưa thoát khỏi khuôn mẫu của giáo viên về cách hiểu, cách cảm, cách nghĩ.
Chưa có nhiều hình thức tổ chức dạy học, chưa có nhiều hoạt động học tập
phong phú, chưa có nhiều nội dung mang tính phức hợp tư văn bản đọc hiểu phù
hợp với hứng thú người học. Bởi vậy nghiên cứu áp dụng Lý thuyết kiến tạo vào
dạy học truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) trong chương trình Ngữ văn 11 nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học và bắt kịp với xu thế dạy học của thế giới là việc làm

tạo nội dung của truyện. Khi dạy học đọc-hiểu truyện ngắn Chí Phèo của nhà
văn Nam Cao, giáo viên định hướng để học sinh tự tóm tắt văn bản như sau:
- Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi trong một lò gạch cũ bỏ hoang.
- Chí Phèo được một anh đi thả ống lươn mang về cho người dân làng Vũ
Đại nuôi.
- Lớn lên, Chí làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Lúc này, Chí là một thanh
niên hiền lành, khỏe mạnh, chịu thương chịu khó.
- Chí cứ bị bà Ba nhà Bá Kiến bắt bóp chân, lại bóp lên trên.
- Chí bị Bá Kiến ghen và tìm cách đẩy vào tù
- Sau khi ra tù, Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi: ngoại hình, tính cách…
Hắn giống hệt một con quy dữ.
- Chí Phèo đến nhà Bá Kiến chửi bới, rạch mặt ăn vạ.
- Chí Phèo đến nhà Bá Kiến để xin đi ở tù và bị Bá Kiến biến thành tay sai.
- Chí Phèo gặp Thị Nở và đã thức tỉnh, khát khao làm người lương thiện.
- Bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo đã giết Bá Kiến và tự sát.
7


- Sau khi Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong đầu
thoáng hiện ra cái lò gạch cũ bỏ hoang.
Như vậy, với dạy học kiến tạo, việc đọc truyện, tóm tắt truyện hay tái
hiện cố truyện của học sinh vô cùng quan trọng, giúp học sinh tiếp cận và kiến
tạo nội dung của văn bản nhanh chóng và dễ dàng hơn, rút ngắn quá trình chinh
phục tri thức. Trong thực tế giảng dạy, nhiều học sinh đã không đọc truyện,
không thể tóm tắt (tái hiện được cốt truyện) khiến cho quá trình dạy học gặp
nhiều khó khăn. Mỗi giáo viên cần phải hình thành cho học sinh thói quen đọc
truyện, không chỉ đọc truyện trong sách giáo khoa mà còn đọc cả những truyện
có liên quan (cùng tác giả, cùng đề tài…) để có thể liên hệ so sánh trong quá
trình kiến tạo.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức thông qua hoạt động phân

ngữ, hành động, tính cách. Khi dạy học truyện ngắn Chí Phèo của nhà Văn Nam
Cao, GV có thể định hướng để học sinh kiến tạo tri thức về nhân vật Chí Phèo theo
trình tự như sau:
- Sự xuất hiện độc đáo của Chí ở đầu tác phẩm.
- Hoàn cảnh xuất thân đặc biệt của Chí.
- Con người Chí trước khi bị đẩy vào tù.
- Sự thay đổi của Chí sau khi ra tù.
- Sự thay đổi của Chí sau khi gặp thị Nở.
- Hành động giết Bá Kiến và tự sát của Chí.
- Ý đồ nghệ thuật của nhà văn Nam Cao qua hình tượng Chí Phèo.
Tư những định hướng trên mà giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi sao cho
hợp lí để học sinh kiến tạo tri thức vưa lô gíc, vưa sáng tạo.Ví dụ giáo viên có thể
định hướng để học sinh kiến tạo bằng những câu hỏi như sau:
- Nam Cao chọn cách mở đầu truyện bằng hình ảnh Chí Phèo say rượu vưa
đi vưa chửi là có dụng ý gì? Cách mở đầu này đã đem lại hiệu quả gì?
- Hoàn cảnh xuất thân của Chí Phèo (bị bỏ rơi, không người người thân
thích…) đã dự báo điều gì về cuộc sống và tương lai của Chí?
- Khi bị bà Ba nhà Bá Kiến bắt bóp chân, Chí không muốn nhưng vẫn
không phản kháng là vì lí do gì?
- Nhà văn Nam Cao muốn phản ánh điều gì và bộc lộ thái độ như thế nào
khi khi tái hiện hình ảnh Chí Phèo sau khi ra tù?
- Tại sao Chí Phèo nói là đến để giết con khọm già nhưng cuối cùng lại
giết Bá Kiến?
Khi đã quan sát, dõi theo diễn biến của truyện, phân tích nhân vật trong
truyện, học sinh sẽ kiến tạo nên những kiến thức cần thiết. Như vậy, kiến tạo tri
thức tư vai người quan sát, phân tích ý nghĩa của truyện tư hệ thống nhân vật là
không thể thiếu khi đọc - hiểu văn truyện ngắn Chí Phèo. Đây thực chất là một
khía cạnh của đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. Cả giáo viên và học sinh
đều phải nhận thức rõ điều này để xác định được tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
2.3.3. Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức trên cơ sở nhận biết, phân

truyện nghĩa là học sinh đã khám phá được phần lớn tác phẩm, những vấn đề sau
đó đều có liên quan mật thiết, thậm chí là đều xuất phát tư tình huống truyện. Ví
dụ như sự thức tỉnh của Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao).
2.3.4. Hướng dẫn học sinh kiến tạo tri thức bằng cách nhập vai, hóa
thân vào nhân vật trong truyện
Khi kiến tạo với tư cách là người quan sát, chứng kiến, mỗi học sinh sẽ có
những nhìn nhận, đánh giá khách quan về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm,
giúp các em nắm vững kiến thức cần thiết và phần nào đó bộc lộ năng lực của
10


bản thân. Song như vậy vẫn là chưa đủ đối với việc đọc hiểu truyện ngắn nói
chung và truyện ngắn Chí Phèo nói riêng. Phải khi các em thực sự nhập vai,
nghĩa là tự hóa thân vào nhân vật, trải qua những tình huống của nhân vật thì lúc
đó các em mới có thể hiểu sâu sắc hơn về nhân vật, về tác phẩm và bộc lộ tư
tưởng, tình cảm cũng như quan điểm, cách nhìn nhận của mình. Có những học
sinh, nếu coi đó là chuyện của người khác thì các em không quan tâm nhưng khi
nói đó là chuyện của mình các em sẽ có những phản ứng mạnh mẽ. Vì vậy khi
dạy học truyện ngắn Chí Phèo theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo, mỗi giáo
viên cần dẫn dắt học sinh nhập vai, hóa thân vào nhân vật để các em tự xử lí
theo cách của mình.
Học sinh có thể nhập vai, hóa thân vào nhân vật trong truyện bằng
những cách sau đây: đọc phân vai, diễn kịch, đóng vai nhân vật để trả lời
phỏng vấn,… Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh diễn một số trích đoạn
trong truyện ngắn Chí Phèo như đoạn Chí Phèo bị ép bóp chân cho Bà Ba nhà
Bá Kiến, Chí Phèo say rượu đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ, Chí Phèo bị Thị
Nở cự tuyệt… Hoặc học sinh sẽ tự hóa thân vào nhân vật để bộc lộ suy nghĩ,
cách ứng xử của mình…
Khi dạy học tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, GV có thể định
hướng để học sinh kiến tạo bẳng những câu hỏi như sau:

tố chưa rõ nghĩa trong truyện, thử thách khả năng bằng cách viết lại câu
chuyện, thử làm đạo diễn để chuyển thể tác phẩm thành kịch, phim, vẽ chân
dung nhân vật…
Mỗi nhà văn khi hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện, nhân vật…đã có
những ý đồ nghệ thuật rõ ràng vì tác phẩm là đứa con tinh thần của mỗi nhà văn,
là thông điệp cuộc sống mà nhà văn muốn gửi gắm trong hoàn cảnh đó. Song
cũng với tác phẩm văn học đó nhưng được người đọc là học sinh tiếp nhận ở
trong hoàn cảnh lịch sử xã hội khác, trình độ, vốn sống khác thì thông điệp cuộc
sống có thể sẽ lại khác. Mỗi thế hệ người đọc khi tiếp nhận tác phẩm tiếp sẽ bồi
đắp cho tác phẩm nhiều lớp nghĩa mới mà ngay cả nhà văn cũng không ngờ tới.
Ở thời đại của Nam Cao khi viết tác phẩm Chí Phèo, kết thúc tác phẩm
ông đã để cho Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát vì trong hoàn cảnh ấy Chí Phèo
không còn sự lựa chọn nào khác. Chí Phèo không được làm người lại không thể
làm quy khi thiên lương đã trở về. Nhưng nếu trong một hoàn cảnh khác có thể
Chí Phèo đã không làm như vậy. Cách kết thúc của Nam Cao chỉ phù hợp với xã
hội lúc bấy giờ. Giáo viên sẽ định hướng để học sinh kiến tạo bằng cách đưa ra
giả thiết: Nếu được quyền viết lại đoạn kết của truyện ngắn Chí Phèo, em sẽ viết
lại như thế nào? Hoặc nếu là Nam Cao em có để cho Thị Nở đối xử quá quắt và
làm Chí Phèo tổn thương và tuyệt vọng như vậy không?
Một trong những hình thức học sinh kiến tạo tri thức tư vai người đồng
sáng tạo là tập vẽ chân dung nhân vật tư những thông tin trong tác phẩm. Ví dụ
học sinh có thể vẽ chân dung Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến… Tư chân dung được
vẽ, học sinh sẽ phân tích nhân vật tư các phương diện. Đây là một cách làm hay,
hứng thú đối với học sinh trong giờ học văn.
12


Tóm lại, khi giả sử được quyền tham gia vào sáng tạo tác phẩm, mỗi học
sinh sẽ có những sự sáng tạo không ngờ và chính những sáng ấy của học sinh sẽ
làm cho tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Đồng thời, trải qua quá trình sáng tạo,

- Xung quanh em có ai như Chí Phèo không? Nguyên nhân khiến cho họ
như vậy là gì?
13


- Nếu bà cô không cấm cản, Thị Nở có cự tuyệt Chí Phèo không? Hành
động đó của bà cô Thị Nở nếu trong xã hội hiện nay thì có được coi là vi phạm
không? Vi phạm điều gì?
- Việc Chí Phèo bị đẩy vào tù có phải là hiện tượng oan sai không (trong
xã hội hiện nay) và người gây oan sai sẽ phải chịu trách nhiệm gì?
- Khi bàn về bi kịch của Chí Phèo, có ý kiến cho rằng: bi kịch của Chí
Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, ý kiến khác lại cho rằng: bi kịch
của Chí phèo là bi kịch của một con người tự tư chối quyền làm người. Em đồng
ý với ý kiến nào? hay em có ý kiến khác?
Sau khi học xong tác phẩm, bằng sự chiêm nghiệm của bản thân tư những
vấn đề trong tác phẩm, học sinh có thể rút ra được những bài học sâu sắc nhất
cho bản thân và liên hệ thực tế đời sống khiến cho vấn đề trong tác phẩm văn
học không phải cái gì quá xa vời mà hiện hữu ngay trong cuộc sống xung quanh.
Tác phẩm văn học là một cấu trúc động, một hệ thống mở, sẵn sàng chờ
bạn đọc thể nghiệm, lấp đầy chỗ trống. Học văn cũng là để hiểu văn, hiểu người,
hiểu cuộc đời. Như vậy, sau mỗi lần hóa thân, trải nghiệm, học sinh sẽ có thêm
nhiều khám phá về chính mình, hiểu biết hơn về cuộc sống, biết yêu thương con
người, quý trọng cuộc sống. Ngoài ra,thông qua việc tổ chức các hoạt động
trong giờ đọc văn, giáo giáo viên sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển các
năng lực Ngữ văn như năng lực đọc hiểu, năng lực cảm thụ văn, năng lực
thưởng thức nghệ thuật, năng lực khám phá và hưởng thụ cái đẹp, năng lực tạo
lập và sản sinh văn bản…. Đây là những năng lực Ngữ văn cần thiết đối với mỗi
người học trong giai đoạn hiện nay. Học sinh sẽ kiến tạo tri thức rất tốt nếu giáo
viên biết định hướng, biết khơi gợi niềm đam mê tìm tòi khám phá của các em.
Chỉ có những tri thức được kiến tạo tư chính mình học sinh mới có thể nhớ lâu

- Liên hệ: Trong xã hội ta hiện nay cần lắm sự yêu thương, sẻ chia, giúp
đỡ đối với những con người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những con người
đã tưng lầm lỡ, giúp họ có thể tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích.
* Kết quả: Tiến hành kiểm tra và chấm bài khách quan, tôi thu được kết
quả sau:
Lớp
11A1, 11A2
(Thực nghiệm)
11A3,11A4
(Đối chứng)

Tổng số

Điểm giỏi

Điểm khá

90

20(22,2%)

40(44,4%) 25 (27,8%)

88

10 (11,4%) 27 (30,7%) 35(39,8%) 16 (18,1%)

HS

Điểm TB

của người học đó là quá trình người học xây dựng nên những kiến thức cho bản
thân thông qua các hoạt động đồng hóa và điều ứng những kiến thức và kĩ năng
đã có để thích ứng với môi trường học tập mới. Vì vậy, vận dụng Lý thuyết kiến
tạo vào dạy học góp phần phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, đáp ứng
yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
người học trong bối cảnh hiện nay.
Với việc nghiên cứu dạy học đọc - hiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao)
trong chương trình Ngữ văn 11 theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo đã phát
huy được tính chủ động tìm kiếm, kiến tạo tri thức của học sinh. Những gì học
sinh tự xây nên, tự kiến tạo các em sẽ nhớ lâu hơn là những kiến thức có sẵn.
Hơn nữa, những kiến thức mà học sinh kiến tạo không chỉ đơn thuần là kiến
thức trong truyện mà còn là những kiến thức gắn với đời sống và bản thân mỗi
học sinh, tư đó các em sẽ nhận thức được tính thiết thực của các câu chuyện
được kể trong tưng thiên truyện, giúp các em hiểu rõ chính mình, hiểu con
người, hiểu xã hội, có thái độ sống phù hợp, góp phần làm cho cuộc sống tốt
đẹp hơn.
Trong quá trình dạy học đọc - hiểu truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao)
trong chương trình Ngữ văn 11 theo quan điểm của Lý thuyết kiến tạo, giáo viên
cần biết khai thác, sử dụng hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực để phát huy được tối đa khả năng, tầm đón nhận, kiến tạo tri thức của học
sinh. Sau mỗi bài học cần có kiểm tra, đánh giá, so sánh kết quả để đánh giá tính
17


hiệu quả của việc vận dụng Lý thuyết kiến tạo vào dạy học.
3.2. Kiến nghị
Cần tăng cường vận dụng Lý thuyết kiến tạo vào dạy học đọc hiểu truyện
ngắn trong chương trình Ngữ văn 11 và mở rộng ra các thể loại khác, các lớp
khác trong chương trình Ngữ văn THPT.
Giáo viên cần chuẩn bị công phu, tâm huyết trước mỗi tiết dạy để đạt

7.
8.
9.

10.
11.

Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại. Cơ sở
đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, Nxb Đại học Sư phạm
Hà Nội.
Ngô Văn Cảnh (2007),Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào quá trình dạy học, kiểm
tra đánh giá học phần ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị Hà (2004), Cơ sở lí luận của lí thuyết kiến tạo
trong dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, HN
Nguyễn Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc hiểu văn bản, Nxb Đại học Sư
phạm Hà Nội.
Phùng Thị Huyền (2012), Dạy học nhóm bài hướng dẫn đọc hiểu văn bản
trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 nâng cao theo quan điểm lí thuyết kiến
tạo, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nguyễn Thụy Thiên Hương, (2009), Luận văn thạc sĩ, Dạy đọc hiểu văn
bản truyện ngắn hiện đại trong chương trình Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể
loại, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh.
Phan Trọng Luận, (Tổng chủ biên), (2007), Ngữ văn 11 tập 1, Sách giáo
viên, Nxb Giáo dục.
Phan Trọng Luận (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 tập 1, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
Phạm Thị Ngọc Mai, (2016), Luận văn thạc sĩ, Vân dụng Lí thuyết kiến tạo
vào dạy học văn nghị luận trong chương trình THPT, Trường ĐH Giáo dục,
ĐHQG Hà Nội.
Bùi Gia Thịnh (1995), Lí thuyết kiến tạo, một hướng phát triển mới của lí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status