VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ XUÂN CHIẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Minh Đức
ĐẮK LẮK, NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Xuân Chiến
i
LỜI CẢM ƠN
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: ..............................................................
3.1.
Mục đích nghiên cứu: ................................................................................
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu: ...............................................................................
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ...............................................................
4.1.
Đối tượng nghiên cứu: ..............................................................................
4.2.
Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................
5.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: ..........................................
5.1.
Phương pháp luận: ....................................................................................
cấp xã: ............................................................................................................
1.3. Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã: ...................................................................................................................
1.4. Phương pháp quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ, công chức
iii
cấp xã:.............................................................................................................21
1.5. Các yếu tố tác động đến việc Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
Cán bộ, công chức cấp xã:.............................................................................. 24
Tiểu kết Chương 1...........................................................................................28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, 29
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK....29
2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk có liên quan
đến việc quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
29
2.2. Tình hình quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã tại tỉnh Đắk Lắk:.........................................................................................33
2.3. Tình hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk:
40
Tiểu kết Chương 2...........................................................................................55
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK....................................56
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk:......................................56
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk:......................................60
Tiểu kết Chương 3...........................................................................................71
KẾT LUẬN.....................................................................................................72
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBCC
: Cán bộ, công chức
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBKT
: Ủy ban Kiểm tra
QLNN
: Quản lý Nhà nước
QLHCNN
: Quản lý hành chính Nhà nước
: Tiểu học
TDP
: Tổ dân phố
CA
: Công an
CAVTT
: Công an viên thường trực
TK
: Thống kê
CNTT
: Công nghệ thông tin
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đơn vị xã, phường, thị trấn (cấp xã) là các đơn vị hành chính Nhà nước cấp
cơ sở, nơi trực tiếp tiếp nhận, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, do đó, việc chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Cán
là nguyên nhân cơ bản khiến chất lượng, hiệu quả trong công tác của chính quyền
cấp xã ở một số địa phương còn ở mức trung bình, chương trình, phương pháp đào
tạo chậm đổi mới, ít đề cập đến việc bồi dưỡng bằng kỹ năng, thiếu mô hình lồng
ghép đào tạo văn hóa với chuyên môn, nghiệp vụ. Để xây dựng được đội ngũ CBCC
cấp xã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu xây
dựng chính quyền hiện đại phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng CBCC cấp xã. Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực thực thi nhiệm vụ của CBCC cấp
xã để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức thực
hiện; hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát
triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính vì lẽ đó, tôi xin chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm luận văn thạc sỹ của
mình, là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Việc nghiên cứu và khảo sát về đội ngũ CBCC, xây dựng đội ngũ CBCC và
đào tạo, bồi dưỡng CCBC được nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý, các đơn vị
nghiên cứu như:
-
Nguyễn Văn Côi (2012). Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Bắc Cạn. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 08/2012, 26 - 27.
-
Phạm Việt Trung (2013). Thành phố Cần Thơ, nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 06/2013, 20 - 23.
Trần Thanh Sang (2017). Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí kinh tế Châu Á - Thái bình dương
tháng 9/2017, 24 - 26.
-
Nguyễn Văn Viên (2018). Vấn đề cạnh tranh trong hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học Chính trị số
2/2018, 85 - 89.
-
Trịnh Việt Tiến (2018). Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đối
với hoạt động thực thi công vụ. Tạp chí Công thương số 5 - tháng 4/2018, 186 - 190.
-
Đoàn Kim Huy (2017). Quy định về quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức - Những nội dung cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện. Tạp chí Quản lý nhà
nước số 256 tháng 5/2017, 25 - 30.
-
Nguyễn Thị Hồng Hải, Đoàn Văn Dũng (2018). Quản lý chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Tạp
chí Quản lý nhà nước số 268 tháng 5/2018, 34 - 39.
-
để nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã của tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-
Nêu các cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã;
-
Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng CBCC
cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk;
Đưa ra những phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả
quản lý
Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Trên phạm vi các xã, thị, trấn trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk;
-
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2015 - 2018.
Góp phần hệ thống các văn bản pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã; bổ sung thêm cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn của tỉnh Đắk Lắk.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
-
Những hạn chế, bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã của tỉnh Đắk Lắk.
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà
nước về
5
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các cơ
quan có thẩm quyền.
7. Cơ cấu của luận văn:
Nội dung cơ cấu chính của Luận văn gồm có 03 Chương (chưa bao gồm mở
đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3. Quan điểm và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
6
nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[4]. Với quy định
7
trên, thì để xác định một người là cán bộ cần quan tâm đến các tiêu chí và yếu tố đó
là: là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế; theo
nhiệm kỳ; hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, theo vị trí, chức danh; nơi làm việc
là cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính
trị- xã hội.
Công chức: Tại Việt Nam, “Công chức” là một thuật ngữ được dùng từ rất
sớm khi đã trải qua các văn bản pháp luật từ năm 1950 đến nay: Điều 1 Quy chế
Công chức Việt Nam tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu khái niệm về công chức, đó là: “Những công Dân
Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong
các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế
này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”[3].
Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành ngày 26/02/1998; Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày
17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Pháp lệnh CBCC năm
1998 là văn bản pháp lý đánh dấu bước chuyển trong công tác cán bộ của Đảng và
Nhà nước ta; sau thời gian hai năm thực hiện, Pháp lệnh này đã bộc lộ những hạn
chế và được sửa đổi sau đó vào năm 2000. Tuy nhiên, Pháp lệnh sửa đổi vẫn chưa
tách rõ ràng đối tượng là công chức, tiếp tục sửa đổi năm 2003. Pháp lệnh sửa đổi
năm 2003 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước là viên chức, đồng thời quy định về công chức của xã, phường, thị trấn.
Vấn đề là các Pháp lệnh này, chỉ nêu thuật ngữ chung là CBCC mà chưa đưa ra cụ
thể các khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức. Khắc phục những hạn chế đó,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là
công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”[4]. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 thì cán bộ cấp xã có các chức vụ:
“a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b)
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c)
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d)
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
9
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g)
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h)
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã quy định thành 02 Chương riêng về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, theo đó:
Đào tạo (ĐT) cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện đối với các đối
10
tượng có điều kiện cụ thể, trong đó, xác định các điều kiện về độ tuổi, thời gian
công tác, cam kết phục vụ tại cơ quan sau khi đào tạo; quy định cụ thể về đền bù chi
phí đào tạo trong trường hợp tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp
đồng làm việc trong thời gian đào tạo, không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt
nghiệp, đã hoàn thành và được cấp văn bằng tốt nghiệp khóa học nhưng bỏ việc
hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam
kết quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 Nghị định này. Bồi dưỡng (BD) cán bộ, công
chức, viên chức không đặt ra các yêu cầu cụ thể về điều kiện để được bồi dưỡng mà
áp dụng theo các hình thức, nội dung bồi dưỡng được quy định tại Nghị định của
Chính phủ; không quy định về việc cam kết phục vụ tại cơ quan sau khi đào tạo (bởi
bản chất của việc bồi dưỡng là nhằm bổ sung các kiến thức cho cán bộ, công chức,
viên chức) với các nội dung bồi dưỡng như: Lý luận chính trị; Kiến thức quốc
phòng và an ninh; Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; Kiến thức quản lý chuyên
ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức
hội nhập quốc tế; Tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ.
Với một số nội dung cơ bản, có thể thấy giữa đào tạo và bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức có sự khác nhau:
Một là, về phạm vi đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng: Đối tượng được đào
tạo có phạm vi hẹp hơn so với đối tượng bồi dưỡng, theo đó, việc đối tượng đào tạo
xác định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày
01/09/2017 của Chính phủ: Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số hoặc
công tác tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và phải có cam kết
cán bộ, công chức cấp xã như sau:
- Đào tạo CBCC cấp xã:
Là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng cho
CCBC, việc đào tạo phải gắn với những thay đổi của môi trường, đáp ứng đòi hỏi
của môi trường, phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được nhà
nước giao; do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC thực hiện và cấp bằng tốt nghiệp;
thông qua đó, giúp CBCC cấp xã có khả năng đảm nhận nhiệm vụ. Công tác đào tạo
CBCC cấp xã được triển khai theo các Kế hoạch, dưới sự chỉ đạo thống nhất của
Trung ương và địa phương, nguồn kinh phí được lấy từ ngân sách Nhà nước và các
12
nguồn kinh phí khác.
-
Bồi dưỡng CBCC cấp xã: Là quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến
thức và kỹ năng làm việc cho CBCC, bồi dưỡng là việc thường thực hiện sau đào
tạo, nhằm bổ sung thêm kiến thức cho CBCC trong quá trình làm việc trên cơ sở
nền tảng kiến thức CBCC được đào tạo. Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai
khái niệm khác nhau nhưng nó cùng một mục đích chung làm cho người lao động
có năng lực công tác. Trên thực tế rất khó phân chia đào tạo và bồi dưỡng, bởi lẽ
giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau.
*
Quản lý nhà nước là gì?
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan
nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những