Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay - Pdf 57

B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR

Lấ NGC THANH

ĐổI MớI CÔNG TáC GIáO DụC Lý LUậN chính TRị
CHO SINH VIÊN ở CáC TRƯờNG ĐạI HọC TRÊN ĐịA
BàN THàNH PHố Hà NộI HIệN NAY

LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR

H NI - 2019


B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR

Lấ NGC THANH

ĐổI MớI CÔNG TáC GIáO DụC Lý LUậN chính TRị
CHO SINH VIÊN ở CáC TRƯờNG ĐạI HọC TRÊN ĐịA
BàN THàNH PHố Hà NộI HIệN NAY

Chuyờn ngnh: Xõy dng ng v Chớnh quyn Nh nc
Mó s

: 931 02 02

LUN N TIN S KHOA HC CHNH TR
NGI HNG DN KHOA HC:
1. PGS, TS. Phm Vn Thng

13
14
15
16

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
Ban Chấp hành Trung ương
Báo chí và Tuyên truyền
Chính trị quốc gia
Chính trị - xã hội
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa
Công tác Tư tưởng
Đại học Sư phạm
Đảng Cộng sản
Giáo dục - đào tạo
Hiện đại hóa
Khoa học - công nghệ
Lý luận Chính trị
Nghiên cứu khoa học
Quân đội Nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
BCTT
CTQG
CT-XH
CNXH
CNH

3.1.
3.2.

Chương 4

4.1.

4.2.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
Khái quát kết quả của các công trình khoa học đã công bố có liên quan
và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải
quyết
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Các trường đại học và sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Những vấn đề cơ bản về công tác giáo dục lý luận chính trị và đổi
mới công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên ở các trường
đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI
CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thực trạng đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh


110
110
125
155
157
158


PHỤ LỤC

172


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội có bề dày
lịch sử, truyền thống cách mạng; là những trung tâm GD-ĐT, NCKH lớn, có
uy tín của quốc gia và khu vực; giữ vai trò rất quan trọng trong đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
và hội nhập quốc tế. Sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà
Nội là những người trẻ tuổi có kiến thức, hiểu biết, nhiệt tình, hăng hái, năng
động, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới, song do chưa từng trải, thiếu kinh
nghiệm sống, nên bản lĩnh, năng lực làm chủ còn nhiều hạn chế.
Giáo dục LLCT cho sinh viên là một bộ phận quan trọng của nội dung
chương trình giáo dục, đào tạo ở bậc đại học giúp hình thành, phát triển nhân
cách cho sinh viên. Trong đó, giảng dạy các môn LLCT là quá trình giảng
viên tác động có điều kiện lên hệ thống tri thức LLCT trong môi trường giáo
dục với sự tham gia của sinh viên để giúp sinh viên nắm vững hệ thống tri

địch, phản động trong và ngoài nước câu kết với nhau, ráo riết đẩy mạnh
hoạt động tuyên truyền, kích động chống Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN
bằng những chiêu thức, thủ đoạn vô cùng tinh vi, nham hiểm; trong đó, sinh
viên ở các trường đại học là một đối tượng mà các thế lực thù địch đang tập
trung tuyên truyền nhằm lôi kéo, kích động tham gia biểu tình, gây rối…
Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và tác động mạnh mẽ
mặt trái nền kinh tế thị trường, đã có không ít sinh viên và trí thức suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, thậm chí tiếp tay
cho các thế lực thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước… Thực
tiễn đòi hỏi phải đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục
LLCT cho sinh viên ở các trường đại học.
Bởi những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đổi mới công tác
giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của Luận án tiến sĩ
chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn đổi mới
công tác giáo dục LLCT cho sinh viên, từ đó đề xuất những giải pháp tiếp tục
đổi mới công tác giáo dục LLCT cho sinh viên ở các trường đại học trên địa
bàn thành phố Hà Nội hiện nay.


5
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đổi mới công tác giáo
dục LLCT cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đánh giá đúng thực trạng; chỉ rõ nguyên nhân, rút ra một số kinh
nghiệm đổi mới công tác giáo dục LLCT cho sinh viên ở các trường đại học

Giám hiệu các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả thu thập
số liệu, tài liệu, tư liệu tổng kết kinh nghiệm đổi mới công tác giáo dục LLCT
và khảo sát của tác giả về công tác giáo dục LLCT cho sinh viên ở các trường
đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2018.
4.3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng
tổng hợp các phương pháp NCKH chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú
trọng các phương pháp: Lôgic - lịch sử; phân tích - tổng hợp; thống kê, điều tra,
khảo sát, so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Làm sáng tỏ thêm những vấn đề về đổi mới công tác giáo dục LLCT cho
sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tổng kết những kinh nghiệm đổi mới công tác giáo dục LLCT cho sinh
viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đề xuất nội dung, hình thức, biện pháp cụ thể, khả thi đổi mới công tác
giáo dục LLCT cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận về đổi mới công tác giáo dục LLCT cho sinh viên ở các trường đại
học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Luận án cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho các đảng ủy, ban
giám đốc, ban giám hiệu trường đại học xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo,
chỉ đạo, đổi mới công tác giáo dục LLCT cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu,
giảng dạy, học tập các môn LLCT ở các trường đại học.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (9 tiết); danh mục các công trình khoa
học của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.




8
E. Phancôvích, Nghệ thuật diễn giảng [108]. Tác giả đã khẳng định:
Một trong những hình thức quan trọng và thích hợp nhất để phổ biến kiến
thức chính trị, khoa học là bài giảng. Theo E. Phancôvích, những bài giảng
được chuẩn bị cẩn thận và truyền đạt tốt sẽ giúp cho người nghe có thêm kiến
thức mới trong từng lĩnh vực, biết tư duy sâu rộng và hiểu rõ hơn những hiện
tượng phức tạp của tự nhiên và xã hội. Giảng viên cần phải lao động miệt
mài, sáng tạo để đạt được kỹ năng diễn giảng.
M.M. Rakhơmancunốp, Tuyên truyền miệng: Lý luận - Tổ chức Phương pháp [113]. Tác giả khẳng định tuyên truyền miệng đã và vẫn là
lĩnh vực quan trọng trong hoạt động của Đảng, là một trong những hình
thức tích cực để giữ mối liên hệ thường xuyên giữa Đảng với quần chúng,
là công cụ lãnh đạo chính trị có hiệu lực. Đặc điểm của tuyên truyền miệng
là dựa vào sự giao tiếp trực tiếp với mọi người, có khả năng cụ thể hóa các
nhiệm vụ do nghị quyết của Đảng đề ra cho tập thể lao động và cho mọi
người, nó cho phép chú ý đến lợi ích và nhu cầu của mọi người. Tuyên
truyền miệng phải được dựa trên những nguyên tắc: tính tư tưởng cao, tính
đảng, tính khoa học, tính chân thực, gắn liền với cuộc sống, với thực tiễn
của công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
E.A. Nôghin, Nghệ thuật phát biểu miệng [105]. Tác phẩm với mục đích
giúp cán bộ làm công tác tư tưởng có được nghệ thuật phát biểu miệng, kỹ
năng phát biểu thành thạo trước công chúng, có căn cứ, dễ hiểu cần phải được
xây dựng trên những hiểu biết ngày càng cao và những nhu cầu về mặt tinh
thần của con người Xô Viết. Theo ông, nghệ thuật phát biểu miệng là kỹ năng
nói với mọi người một cách dễ hiểu, hấp dẫn, có tính thuyết phục mà trong
thực tế, mỗi người đều có thể có được kỹ năng, phẩm chất ấy nhưng chất lượng
của nghệ thuật nói cũng phụ thuộc không ít vào các điều kiện khách quan.
Công cụ cơ bản của cán bộ tuyên truyền, của người làm công tác thông tin
chính trị là lời nói, phương pháp tác động là lòng tin. Vì vậy, nghệ thuật phát

đảm bảo thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Do đó, việc
trang bị cho quần chúng những kiến thức về các quy luật phát triển xã hội,
việc giáo dục kỹ năng và thói quen tốt nhằm giúp họ tham gia một cách tích


10
cực, sáng tạo vào quá trình rất đa dạng, phong phú của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa cộng sản là những việc mà đảng thường xuyên chăm lo.
V.A. Xukhômlinxki, Hình thành niềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ
[148]. Nhà nghiên cứu V.A. Xukhômlinxki đánh giá về nghiệp vụ công tác
giáo dục và dạy học, thực chất là giáo dục cộng sản và hình thành niềm tin
cộng sản cho thế hệ trẻ. Theo tác giả, niềm tin cộng sản là nguồn gốc sức
mạnh ý chí của cá nhân và việc hình thành niềm tin cộng sản là yêu cầu tất
yếu khách quan của sự tiến bộ xã hội và đạo đức. Để hình thành niềm tin
cần có sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường với xã hội, lý luận với thực
tiễn, học đi đôi với hành. Thông qua đó, hình thành niềm tin cho thế hệ trẻ
vào tương lai, vào chế độ cộng sản chủ nghĩa.
La Quốc Kiệt, Tu dưỡng đạo đức tư tưởng [63]. Tác giả cho rằng: Sinh
viên là những chủ nhân tương lai của đất nước, là người đại diện cho nền giáo
dục xã hội. Vì vậy, cùng với việc dạy chữ, dạy nghề thì việc rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức, lối sống của sinh viên là một vấn đề quan trọng. Môn đạo đức tư tưởng
là một trong những đặc trưng bản chất của trường đại học XHCN, là con đường
chủ yếu và khâu cơ bản tiến hành giáo dục lý luận Mác xít và giáo dục đạo đức
tư tưởng cho sinh viên một cách hệ thống và là môn học cần thiết cho mỗi sinh
viên để đào tạo họ trở thành người xây dựng và kế tục sự nghiệp XHCN.
Mao Lộ, Giáo dục tư tưởng chính trị cao học và nghiên cứu xã hội hóa
chính trị cho sinh viên trong thời đại mới [82]. Tác giả đã đề cập đến các
phương pháp cơ bản trong việc thúc đẩy giáo dục chính trị tư tưởng trong các
trường đại học và các mục tiêu quan trọng trong việc tiến hành xã hội hóa
chính trị cho sinh viên hiện nay. Tác giả phân tích hiện trạng về xã hội hóa

Hồ Tự Lực, Tư duy mới về giáo dục lý luận chính trị của các trường
đại học [85]. Tác giả đề cao vai trò chỉ đạo, tiên quyết của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc hình thành và phát triển ý thức chính trị của sinh viên. Tác
giả nghiên cứu trên ba luận điểm chính: Kiên trì vai trò chỉ đạo không thay
đổi chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo đảm phương hướng đúng đắn trong công tác
giáo dục đại học; lấy sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát huy tốt hơn
nữa công tác giáo dục LLCT, nghiên cứu và trả lời những vấn đề phát sinh


12
trong lý luận và thực tiễn do công cuộc hiện đại hóa đề ra, phát huy tốt hơn
nữa tác dụng chủ đạo của chính trị, dịch vụ xã hội và đối với các chính sách
của triết học xã hội khoa học, coi trọng vai trò công tác giáo dục LLCT.
Nguyên Đức Sâm, Những gợi ý từ tuyến đầu giảng dạy lý luận Mácxít
[116]. Bài viết này đã phản ánh những khó khăn, hạn chế trong giáo dục chính
trị ở các trường đại học của Trung Quốc (Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh
Hoa, Đại học Nam Khai, Đại học Nhân dân Trung Quốc, Đại học Nông nghiệp
Trung Quốc, Đại học Kinh tế mậu dịch đối ngoại Trung Quốc, Đại học Kinh tế
tài chính pháp luật Trung Quốc...) và nêu lên một số giải pháp nhằm “thúc đẩy
môn học lý luận Mácxít ra khỏi tình trạng luẩn quẩn hiện nay”...
1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về sinh viên và các hoạt động giáo
dục - đào tạo ở các trường đại học
Nguyễn Thị Việt Nga, Hợp tác giáo dục Việt Nam - UNESCO và những
tham khảo cho Việt Nam về quan điểm của UNESCO trong giáo dục đại học
[100]. Trong bài viết của mình, tác giả đã nêu rõ: Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) có hai văn kiện quan trọng về vấn
đề giáo dục đại học. Thứ nhất, “Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học cho
thế kỷ XXI tầm nhìn và hành động” ký ở Paris ngày 09/10/1998 bởi 182 QG
trong đó có Việt Nam. Thứ hai, Tuyên bố của Hội nghị quốc tế UNESCO về
giáo dục đại học (Paris, ngày 05 - 08/7/2009). Hội nghị này có chủ đề “Sự

chất lượng tổng thể - TQM (Total Quality Management), mô hình các yếu tố
tổ chức - OEM (Organizational Elements Model).
Bùi Thị Thu Hương, Hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo tại các
trường đại học công lập ở Hà Nội hiện nay (Qua khảo sát 03 trường đại học
trên địa bàn Thành phố Hà Nội: Đại học Ngoại thương, Đại học Hà Nội và
Học viện Báo chí và Tuyên truyền) [61]. Nhóm tác giả đã khai thác và đánh
giá được tình hình hợp tác quốc tế của các trường đại học công lập tại Hà Nội,
qua đó thấy được thực trạng với những thành tựu và chỉ ra được một số tồn tại


14
của việc hợp tác quốc tế ở các trường đại học công lập. Từ đó, công trình
nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn đúng đắn về hợp tác quốc tế nhằm nâng cao
hơn nữa tác động tích cực của nó, đã đưa ra một số đề xuất về những giải
pháp tăng cường hợp tác quốc tế trong GD-ĐT tại các trường đại học công lập
ở Hà Nội hiện nay, đồng thời có những kiến nghị cụ thể cho thực trạng trên
trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện trong GD-ĐT của Việt Nam.
Hoàng Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào
tạo đại học hiện nay [2]. Tác giả đã chỉ rõ nguồn gốc, quá trình hình thành,
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với hoạt
động cách mạng của Người cũng như của đất nước. Công trình NCKH cũng
đã trình bày, phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, nêu rõ
tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc
nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích một
số vấn đề trong công tác đào tạo đại học, đề xuất những giải pháp vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
Huỳnh Văn Sơn, Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên
một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay [117]. Bài báo đã
đưa ra kết luận: Mặc dù, phần lớn sinh viên hiểu đúng về khái niệm quản lý
thời gian nhưng việc thực hiện những hành động cụ thể của họ lại chỉ ở mức

học Sư phạm Hà Nội) [31]. Bài viết xác định rõ: Việc vận dụng Bản đồ tư duy
vào giảng dạy môn học này đã cho thấy những hiệu quả thiết thực. Qua đó,
tác giả đưa ra phân tích kỹ càng 04 giải pháp ứng dụng tốt sau: Một là, chiến
lược lập Bản đồ tư duy; hai là, phải nắm vững các phần mềm hỗ trợ lập Bản
đồ tư duy; ba là, ứng dụng linh hoạt Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn học;
bốn là, phát huy mặt tích cực, song không tuyệt đối hóa Bản đồ tư duy.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị, công
tác giáo dục lý luận chính trị
Nguyễn Xuân Trung, Góp phần nâng cao hiệu quả việc học các môn lý
luận chính trị cho sinh viên đại học bằng phương pháp tự học [131]. Công
trình nghiên cứu đã vạch rõ thực trạng việc tự học các môn LLCT trong các


16
trường đại học cùng nhận định: Đa phần sinh viên chỉ cần học thuộc các câu
hỏi theo đề cương để đi thi, lấy điểm. Điều này đã làm giảm đi rất nhiều hiệu
quả của việc tự học các môn LLCT trong sinh viên.
Tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể cho việc rèn luyện tinh thần tự học
các môn LLCT trong sinh viên: Thứ nhất, đối với sinh viên: Một là, cần biết tự
học với tài liệu một cách hiệu quả nhất. Muốn vậy, kỹ thuật đọc tài liệu phải đạt
được hai yêu cầu (Lĩnh hội đầy đủ nội dung bài học, lựa chọn và nắm bắt những
nội dung quan trọng; tập trung chú ý vào những vấn đề được giảng viên cung cấp
để thảo luận trong giờ bài tập và viết tiểu luận ở nhà); hai là, chuẩn bị thảo luận,
kiểm tra và thi tốt. Để quá trình này có hiệu quả thì sinh viên cần nghiên cứu
trước những nội dung, vấn đề chưa rõ cần chủ động đặt vấn đề để giảng viên giải
đáp thắc mắc; ba là, biết sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại, biết đọc
những tài liệu khác nhau, biết sử dụng các ngồn số liệu thống kê trong và ngoài
nước, biết sử dụng và khai thác tài liệu từ mạng internet; biết sử dụng tài liệu
trích dẫn, biết vận dụng lý thuyết vào liên hệ các vấn đề của thực tiễn. Sinh viên
cần phải tự mình trình bày vấn đề và đưa ra kết luận. Thứ hai, đối với giảng viên:

trình độ nhận thức chính trị, tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng nhằm
rèn luyện năng lực lãnh đạo, quản lý của người cán bộ, đảng viên và tầm quan
trọng của giáo dục LLCT trong xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
Lương Khắc Hiếu, Nguyên lý Công tác tư tưởng [48]. Tập 1 gồm 11
chương, các tác giả đã giới thiệu những vấn đề chung về CTTT: Đối tượng, bản
chất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm hoạt
động và vai trò; những nội dung cơ bản của công tác giáo dục tư tưởng về thế
giới quan, tư duy LLCT - tư tưởng, kinh tế, đạo đức, lối sống.
Lương Khắc Hiếu, Nguyên lý Công tác tư tưởng [49]. Tập 2 gồm 10
chương, các tác giả nêu rõ những vấn đề về phương pháp, hình thức, phương tiện
và những vấn đề thuộc về sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT: Hệ thống giáo dục
LLCT, các phương tiện truyền thông đại chúng, các thiết chế, thể chế văn hóa, xây
dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, công tác kiểm
tra và đánh giá hiệu quả CTTT. Có thể nói, các tác giả đã khái quát những vấn đề
chung về công tác tuyên truyền, đặc biệt là những quan điểm có tính nguyên tắc


18
đổi mới công tác tuyên truyền và phương hướng cơ bản đổi mới công tác này hiện
nay. Đối với người muốn tìm hiểu, nghiên cứu, tham gia hoạt động trong lĩnh vực
tư tưởng, đây chính là công cụ rất hữu ích với nhiều giá trị thiết thực.
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý
luận chính trị [101]. Cuốn sách đã giới thiệu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng con đường cách mạng Việt
Nam, nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức, đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ về mặt nội dung và nhiệm vụ học tập
LLCT; vấn đề để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT.
Ngô Văn Thạo, Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị [121]. Tác giả
đã khái quát chung về LLCT và giáo dục LLCT; một số vấn đề tâm lý và giáo

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII [44]. Bài viết đã nêu rõ: Đảng xác định mục
tiêu, nhiệm vụ và đề ra các giải pháp khoa học để lãnh đạo đất nước tiếp tục thu
được những thành tựu quan trọng và to lớn hơn trong nhiệm kỳ (2016 - 2020).
Đồng thời, tác giả chỉ ra 03 biện pháp cần đối với thế hệ trẻ để đưa Nghị quyết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vào cuộc sống, với những nội
dung cơ bản tóm lược như sau: Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền
các cấp cần mở các lớp nghiên cứu, học tập để thanh niên quán triệt sâu sắc
những nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Qua đó,
thống nhất nhận thức, thấy rõ tình hình và nhiệm vụ, nắm vững thời cơ và thách
thức đang đặt ra cho đất nước; thứ hai, trong quá trình tổ chức thực hiện, các cấp
bộ đoàn phải tích cực tuyên truyền, vận động khích lệ, động viên thanh niên, làm
dấy lên khí thế thi đua sôi nổi trong các hoạt động của tuổi trẻ nhằm thực hiện
thắng lợi Nghị quyết, đồng thời tăng cường kiểm tra, đôn đốc gắn với nhắc nhở,
kỷ luật nghiêm minh; thứ ba, mọi cán bộ, đoàn viên, thanh niên phải nêu cao
tinh thần trách nhiệm, tích cực, chủ động rèn luyện phẩm chất đạo đức, trí tuệ,
nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là năng lực hoạt động thực tiễn, tận tụy, gương
mẫu, đi đầu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cương vị chức trách.
Lê Duy Chương, Một số vấn đề về nâng cao chất lượng giáo dục chính
trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở [26]. Tác giả đã tập trung nêu một số


20
vấn đề cơ bản về lý luận và quan điểm, từ đó trình bày thực trạng chất lượng
giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở. Tác giả cũng đưa ra một
số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục chính trị ở đây rất thiết thực.
Nguyễn Văn Thắng, Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho
cán bộ ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí
Minh [124]. Trên cơ sở luận giải những quan điểm, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí
Minh về vai trò và yêu cầu của công tác giáo dục LLCT, tác giả khẳng định tầm
quan trọng của công tác giáo dục chính trị trong quá trình xây dựng quân đội

Đại học Quốc gia Hà Nội, Quán triệt, vận dụng quan điểm Đại hội
Đảng lần thứ X vào giảng dạy các môn lý luận chính trị [34]. Với 58 bài tham
luận tập trung vào một số lĩnh vực: Nghiên cứu, cập nhật các Nghị quyết của
Đảng - điều kiện tiên quyết nâng cao chất lượng giảng dạy các môn LLCT;
quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc ĐCS Việt Nam lần thứ X
vào giảng dạy các môn LLCT.
Tô Huy Rứa, Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận
chính trị các trường đại học, cao đẳng [114]. Công trình NCKH đã khảo sát
thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT ở các trường đại học lớn trong các khu
vực trung tâm (đặc biệt ở thành phố Hà Nội); phân tích các chương trình đào
tạo giảng viên LLCT của một số trường đại học, học viện khu vực Hà Nội;
đồng thời, đánh giá khái quát năng lực đào tạo lý luận Mác - Lênin của các
trường này. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất khung chương trình đào tạo đội ngũ
giảng viên LLCT với những bổ sung, thay đổi phù hợp với yêu cầu nâng cao
chất lượng dạy và học các môn LLCT trong giai đoạn hiện nay.
Đặng Thị Nhiệt Thu, Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị
trong các trường đại học và cao đẳng [127]. Tác giả chỉ rõ: Để nâng cao hiệu quả
giảng dạy LLCT, ngoài việc đổi mới phương pháp, nội dung, giảng viên phải thực
hiện nghiêm túc một số nguyên tắc: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học,
tính giáo dục và định hướng chính trị trong dạy - học LLCT; sự thống nhất giữa
vai trò chủ đạo của giảng viên với vai trò tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên.
Nguyễn Phước Dũng, Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị
[32]. Tác giả khẳng định: “Mỗi phương pháp giảng dạy đều có ưu thế riêng…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status