I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VIT KHNH
VAI TRò CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN CấP HUYệN
TRONG VIệC BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI - Từ THựC
TIễN
ở VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN QUậN BắC Từ LIÊM, THàNH
PHố Hà NộI
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VIT KHNH
VAI TRò CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN CấP HUYệN
TRONG VIệC BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI - Từ THựC
TIễN
ở VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN QUậN BắC Từ LIÊM, THàNH
PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp v Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02
LUN VN THC S LUT HC
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội.................................................................................5
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn...............................................................................................5
Tôi xin chân thành cảm ơn!............................................................................5
Trang.................................................................................................................6
1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài........................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài..................................................................5
1.4. Các quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của Viện Kiểm sát
nhân dân cấp huyện trong việc bảo đảm quyền con người.......................32
CHƯƠNG 2....................................................................................................45
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA........................45
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM...........................45
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA................................................................45
2.1. Cơ cấu tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm......45
2.2. Những thành tựu đạt được và bài học rút ra trong công tác bảo vệ
quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm...........46
2.3. Những khó khăn và hạn chế trong công tác bảo vệ quyền con người
của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm........................................57
Kết luận chương 2.........................................................................................62
CHƯƠNG 3....................................................................................................64
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA...........64
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI..................................................................................64
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị
tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Có thể khẳng định, quyền con
người là quyền có giá trị cao quý nhất, được hình thành và kết tinh từ nền văn
hóa của các dân tộc trên thế giới.
Thời điểm quyền con người được chính thức pháp điển hóa vào luật
quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Quyền con người là yếu tố cốt
lõi của pháp luật mỗi quốc gia trên thế giới. Để đánh giá trình độ văn minh
của các nước và các dân tộc trên thế giới việc xây dựng, bảo vệ quyền con
người trở thành thước đo tiêu chuẩn nhất.
Nước ta đang trong giai đoạn chuyển mình, thực hiện đổi mới đất nước,
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước của dân, do dân, vì dân,
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, việc đặt con người vào vị trí trung tâm
của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công
cuộc phát triển, đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước không chỉ tác động
đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo
đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.
Cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn đề quyền
con người được coi trọng và được bảo vệ trên toàn hệ thống pháp luật Việt
Từ những vấn đề trên đây, trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ luật học,
tôi xin lựa chọn đề tài: “Vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện
trong việc bảo đảm quyền con người - Từ thực tiễn ở Viện Kiểm sát nhân
dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu. Đề tài
được nghiên cứu dưới góc độ quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các
quy định đó tại địa phương cụ thể là Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ
2
Liêm. Từ thực tiễn áp dụng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
Viện Kiểm sát trong việc đảm bảo quyền con người.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (năm 1945), quyền con người
đã được quy định cụ thể trong hàng trăm văn kiện pháp luật quốc tế, trở thành
một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu đòi hỏi mọi quốc gia, trong đó có
Việt Nam, tôn trọng và thực hiện. Vì thế, đề tài về quyền con người luôn là đề
tài nhận được nhiều sự quan tâm.
Trên cơ sơ quy định của Hiến pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam
không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng bảo vệ công lý và
quyền con người. Cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan, tổ chức
trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Cho đến nay Việt Nam chúng
ta cũng đã kí nhiều cam kết thực hiện bảo vệ quyền con người trên hai
phương diện lập pháp và cam kết thực hiện các văn kiện về quyền con người.
Nói một cách khái quát, trong hơn ba thấp kỷ gần đây, vấn đề về quyền
con người nhận được sự quan tâm từ các học giả trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng. Có rất nhiều, tổ chức, cá nhân có những công trình
nghiên cứu, tìm hiểu về quyền con người ở mức độ tổng quan lẫn cụ thể trong
các lĩnh vực khác nhau của pháp luật.
Trên thế giới, quyền con người được thể hiện trong hàng trăm ngàn văn
• Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã
hội, 1995; Phạm Văn Khánh;
• Góp phần tìm hiểu quyền con người, NXB Khoa học xã hội, 2006;
Nguyễn Đăng Dung;
• Tính nhân bản của hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước,
NXB Tư pháp, 2004; Nguyễn Văn Động;
• Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, NXB. Tư
pháp 2006; Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Những nội dung cơ bản
về quyền con người, NXB. Tư pháp 2007;
• Trung tâm pháp luật nghiên cứu về quyền con người trực thuộc
trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
• Và hàng loạt các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quyền con người đã
4
được công bố.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu với mục đích bổ sung thêm nhận thức của cán
bộ, công dân về quyền con người trong lĩnh vực kiểm sát. Hướng tới mục tiêu
nghiên cứu lý luận về vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong
việc đảm bảo quyền con người và nhìn nhận thực tiễn áp dụng trên địa bàn
quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội.
Để từ thực tiễn, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Viện
Kiểm sát nhân dân nói chung và Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nói riêng
trong việc bảo vệ quyền con người. Hay nói các khác, nhằm phát huy thành
tựu kiểm sát tại địa phương đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không làm oan người vô tội; đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho người
tham gia tố tụng và kiểm sát hoạt động của cơ quan tư pháp để quyền con
người được đảm bảo khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo
Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” để xác
định phạm vi nghiên cứu.
Do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài trong giới hạn các vấn đề như sau:
- Cơ sở lý luận bảo vệ quyền con người;
- Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ quyền con
người trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
Viện Kiểm sát nhân dân.
- Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của Viện
Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội từ khi được thành lập (năm
2014) tới nay;
- Giải pháp nhằm đảm vệ quyền con Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc
Từ Liêm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt
động tư pháp.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm
sát nhân dân cấp huyện hiện nay là vấn đề chính trị, pháp lý rất phức tạp và
quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Vì vậy, để đảm bảo tính khoa
học và tính chính trị của kết quả nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý
luận như sau:
- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lenin về nhà nước và pháp luật.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân chủ,
tổ chức bộ máy nhà nước và kiểm soát các hoạt động của bộ máy nhà nước,
đảm bảo quyền làm chủ của người dân.
- Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong công tác bảo vệ
luận văn nhằm mục đích đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao vai trò bảo vệ
quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân nói chung và Viện Kiểm sát
nhân dân quận Bắc Từ Liêm nói chung.
6. Sự đóng góp của đề tài về mặt khoa học
Trong nội dung của Luận văn, tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý
luận, nội dung của quyền con người qua công tác thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát;
Hệ thống khái quát vai trò của Viện Kiểm sát trong việc bảo vệ quyền
con người.
Đánh giá việc vi phạm quyền con người khi Viện Kiểm sát thực hiện
chức năng nhiệm vụ của mình thông qua tình hình hoạt động của Viện Kiểm
sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm;
Trong đề tài cũng sẽ đưa ra ý kiến cá nhân để góp phần phát huy vai trò
của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện nói chung và của riêng đơn vị Viện
kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm nói riêng.
7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
8
- Về mặt lý luận
Việc nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần làm phong phú hơn về
mặt lý luận trong việc nghiên cứu về quyền con người và bảo vệ quyền con
người trong các công trình nghiên cứu đã có trước đây.
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác, sử
dụng trong công tác nghiên cứu lý luận về quyền con người và có thể làm tài
liệu tham khảo trong công tác giảng dạy tại các trường chuyên ngành Luật và
những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này.
- Về mặt thực tiễn
Các cơ quan hành pháp, các tổ chức nhân quyền trong nước, các cán bộ
loài người.
Lần đầu tiên quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập
của Mỹ “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền được bình đẳng, tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống,
quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High
Commissioner for Human Rights – OHCHR đưa ra định nghĩa về quyền con
người. Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn
cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản
(fundamental freedoms) của con người.
Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được
trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà
tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng
tộc, tôn giáo, địa vị xã hội...; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là
con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên.
10
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ
quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này cũng
không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được
hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận
và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng
được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân
loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn
triển. Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ quyền trên lãnh thổ
của mình như: Quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền
được trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia
khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
* Quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch: để con
người sống trong môi trường trong sạch cần thiết phải đảm bảo: Quyền được
thông tin và nâng cao nhận thức của con người về môi trường; Quyền được
tham gia hoạch định các chính sách và thể chế bảo vệ môi trường; Quyền
được đền bù thiệt hại do sự hủy hoại môi trường gây ra.
1.2. Nội dung và các biện pháp bảo đảm quyền con người của Viện
Kiểm sát nhân dân
Viện Kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, pháp chế, bảo
vệ quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát trong tố
tụng hình sự được thể hiện trên hai phương diện:
Một là, đấu tranh chống tội phạm, phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý
12
nghiêm minh trước pháp luật đối với người phạm tội xâm phạm đến các
quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có các quyền của con người.
Hai là, bảo đảm các quyền của con người (của người bị tình nghi, bị
can, bị cáo, người bị kết án) không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.
Các biện pháp bảo đảm quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân
bao gồm:
1.2.1. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự
Ở Việt Nam, Viện Kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao chức năng
định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện Kiểm sát có nhiệm vụ,
quyền hạn: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập
hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người
tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu
Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu
cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều
tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra
viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ
chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi
phạm pháp luật.
Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây
có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tình nghi, bị can trong giai đoạn điều tra:
Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra rõ ràng là
không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra
quyết định huỷ bỏ hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo
quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS;
Nếu thấy quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra chưa rõ căn cứ
14
xác định bị can phạm tội Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài
liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố. Viện kiểm sát có thể hỏi cung bị can, lấy
lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước
quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can.
Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định
huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự
Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai
giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc khi cần thiết phải
nhận dạng người hay đồ vật, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành
việc đối chất hoặc nhận dạng.
Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định bắt buộc phải có người
bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà bị can hoặc người
đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Viện kiểm sát phải
yêu cầu Cơ quan điều tra yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư
cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ
chức mình.
Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do Cơ quan
điều tra chuyển sang, nếu có một trong những căn cứ xác định bị can không
phạm tội; bị can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại và người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ
để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định
đình chỉ vụ án.
Với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là người quyết định việc truy tố
người phạm tội trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành vi
16
phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý
trước pháp luật, vừa bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp
dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định
của pháp luật. Như vậy, sự tham gia của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm