Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
Nghiên cứu Y học
TỈ LỆ MỔ LẤY THAI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA SẢN
BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG
Huỳnh Thị Tập*, Tạ Thị Thanh Thủy**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tỉ lệ mổ lấy thai có khuynh hướng tăng dần theo thời gian. Nhiều bằng chứng cho thấy khi tỉ lệ
mổ lấy thai tăng trên 15% sẽ gia tăng tử suất và bệnh suất cho mẹ và trẻ sơ sinh. Tại Kiên Giang, báo cáo thống
kê hằng năm tại khoa sản bệnh viện cho thấy tỉ lệ mổ lấy thai gia tăng qua các năm. Tuy nhiên, cho đến nay tại
Kiên Giang chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ mổ lấy thai và các yếu tố liên quan tại khoa sản bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang
sáu tháng đầu năm 2015.
Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Một nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ tháng 01 đến
tháng 5/2015. Đối tượng chọn bệnh là những thai phụ vào sinh tại khoa Sản Bệnh Viện Đa Khoa Kiên Giang
trong thời gian nghiên cứu, đồng ý tham gia và có đủ năng lực để trả lời những câu hỏi phỏng vấn. Số liệu được
thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp vào ngày hậu sản/ hậu phẫu thứ hai.
Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu có 1130 sản phụ được chọn vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy,có 378
sản phụ được mổ lấy thai (MLT) chiếm tỉ lệ 33,4% và 752 sản phụ sinh thường ngã âm đạo chiếm tỉ lệ 66,6%.
Những sản phụ được bác sĩ tư vấn trước sinh về MLT có tỉ lệ MLT cao hơn so những sản phụ được bác sĩ tư vấn
trước sinh về sinh thường với PR=1,5 (KTC 95% 1,2-1,9 , p
were not (PR 1.5 – 95% CI 1.2 – 1.9).
Conclusion: C-section rate in first 6 month 2015 at Kien Giang hospital was 33.4%.
Key words: C-section, rate.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây xã hội ngày một
văn minh, chất lượng cuộc sống được nâng cao,
mỗi gia đình chỉ sinh 1 đến 2 con nên người ta
càng quan tâm nhiều đến sức khỏe và thai nghén
của mình. Họ nghĩ rằng, mổ lấy thai sẽ an toàn
hơn cho mẹ và con, hoặc có quan niệm sinh con
vào ngày giờ tốt trẻ sẽ sung sướng và giàu có,
hoặc sợ đau đẻ, sợ tổn thương vùng sinh dục
nên đã yêu cầu được mổ lấy thai. Theo nguyên
tắc, mổ lấy thai chỉ được thực hiện trong những
trường hợp thai kỳ nguy cơ cao và tiên lượng
không thể sanh thường ngã âm đạo để bảo vệ
sức khỏe bà mẹ và thai nhi(9). Khuyến cáo của Tổ
chức y tế thế giới tỉ lệ mổ lấy thai không nên
vượt quá 15%. Nhiều bằng chứng cho thấy khi tỉ
lệ mổ lấy thai tăng trên 15% sẽ gia tăng tử suất
và bệnh suất cho mẹ và trẻ sơ sinh Tại Kiên
Giang, theo thống kê sơ bộ tại khoa sản bệnh
viện cho thấy tỉ lệ mổ lấy thai gia tăng qua các
năm. Năm 2011 tỉ lệ mổ lấy thai 34%, năm 2012
là 35,2% và 35,5% vào năm 2013. Tuy nhiên, cho
đến nay tại Kiên Giang chưa có đề tài nào nghiên
cứu về vấn đề này
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
nhằm xác định tỉ lệ mổ lấy thai năm 2015,
bịu chăm sóc con, không đang làm thủ thuật.
Trong trường hợp đang phỏng vấn con của sản
phụ quấy khóc, phỏng vấn viên phải ngừng
phỏng vấn và giúp đỡ sản phụ chăm sóc bé cho
đến khi ổn định mới được tiếp tục.
Tiếp nhận phiếu điều tra và đánh số thứ tự
ngay sau khi thu thập. Kiểm tra mức độ chính
xác, mã hóa dữ liệu sang dạng số và nhập dữ
liệu. Số liệu thu thập được làm sạch, mã hóa,
nhập và xử lý kỹ lưỡng.
Thống kê mô tả được thực hiện nhằm tìm tỉ
lệ mong muốn. Thống kê phân tích tỉ số tỉ lệ hiện
mắc (PR), khoảng tin cậy (KTC) 95% nhằm tìm
mối tương quan giữa mổ lấy thai và các yếu tố
được nghiên cứu.
KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ 01/2015 đến 5/2015, tại
bệnh viện Đa khoa Kiên Giang có trên 4500 lượt
sản phụ đến sinh tại khoa sản, qua đó 1130 sản
phụ được chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình 27,2±5,9,
nhiều nhất là nhóm tuổi 20-34 tuổi, ít nhất là
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
nhóm tuổi dưới 20. Đa số sản phụ trong mẫu
nghiên cứu sống ở nông thôn chiếm tỉ lệ 65,8%
Tỉ lệ sản phụ mổ lấy thai tại khoa sản bệnh
viện đa khoa Kiên Giang: Nghiên cứu trên
1130 sản phụ vào sinh tại khoa sản bệnh viện
Đa khoa Kiên Giang có 752 sản phụ sinh
thường chiếm tỉ lệ 66,6% và 378 sản phụ mổ
lấy thai chiếm tỉ lệ 33,4%.
Mối liên quan giữa các đặc điểm với mổ lấy
thai của đối tượng nghiên cứu: Kết quả phân tích
đơn biến cho thấy, có sự khác biệt có tính chất
khuynh hướng giữa nhóm tuổi với MLT của sản
phụ, tuổi sản phụ càng cao MLT càng tăng. Khi
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
Nghiên cứu Y học
nhóm tuổi tăng lên một nhóm thì tỉ lệ MLT tăng
lên 1,1 lần so với sản phụ có nhóm tuổi dưới 20
tuổi (KTC 95% 1,03 - 1,3). Những sản phụ ở
thành thị có tỉ lệ MLT bằng 1,2 lần so với những
sản phụ ở nông thôn (KTC 95% 1,07 -1,4). Kết
quả phân tích cũng cho thấy, những sản phụ
sống riêng có tỉ lệ MLT gấp 1,4 lần so với sản
phụ cùng gia đình (KTC 95% 1,2 - 1,6). Những
sản phụ đã từng mang thai có tỉ lệ MLT gấp 1,3
lần so với những sản phụ chưa từng mang thai
(KTC 95% 1,1 - 1,5). Ở những sản phụ có gặp vấn
đề có tỉ lệ MLT gấp 1,7 lần so với sản phụ không
gặp vấn đề trong thời gian mang thai (KTC 95%
1,2 - 2,2). So với những sản phụ có ý định lựa
0,9(0,6 -1,6)
Có gặp vấn đề trong lần mang thai
1,0(0,8 -1,4)
này
Ý định lựa chọn phương pháp sinh
1,1(0,8 -1,3)
của sản phụ
Phương pháp sinh được tư vấn
1,5(1,2 -1,9)
P
0,312
0,704
0,674
0,608
0,860
0,842
0,525
cuối năm số sản phụ vào sinh nhiều hơn so với
những tháng đầu năm nên kết quả nghiên cứu
của chúng tôi đôi khi chưa phản ánh đúng so với
thực tế; hai là, mặc dù An Giang là một tỉnh giáp
ranh với Kiên Giang, nhưng lại là tỉnh đặc thù có
đồng bào theo tôn giáo rất cao chiếm đến 70,31%
tổng dân số của toàn tỉnh. Có thể do tính chất
đặc thù này góp phần làm cho tỉ lệ MLT ở An
Giang rất cao trên 50%. Thông thường thì những
người theo tôn giáo, họ tin rằng sinh con vào
ngày giờ tốt, hợp tuổi với cha mẹ thì con của họ
48
sẽ được giàu có, sung sướng và hạnh phúc. Cho
nên, chỉ có MLT mới có thể thực hiện được
những ước muốn của họ.
Tác giả Đặng Thị Hà, mô tả trên 3018 sản
phụ trong 2 năm 2007-2009 tại Bệnh viện Đại học
Y dược cơ sở 2 có tỉ lệ MLT là 43,2%(2). Điều này
có thể do, trong nghiên cứu của tác giả Đặng Thị
Hà thời gian nghiên cứu dài và cỡ mẫu đủ lớn
nên tính đại diện cao hơn so với nghiên cứu của
chúng tôi. Mặc khác, Bệnh viện Đại học Y dược
cơ sở 2 là bệnh viện tư nhân nên chỉ định MLT
có thể rộng rãi hơn so với bệnh viện nhà nước,
đặc biệt là những trường hợp MLT vì những lý
do xã hội khi sản phụ có yêu cầu. Thực tế,
nghiên cứu của tác giả Rukiye Hobek Akarsu ở
Thổ Nhĩ Kỳ đã chứng minh tỉ lệ MLT ở bệnh
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
Từ những phân tích trên cho chúng ta thấy,
các nghiên cứu có thể khác nhau về phương
pháp, thời gian và địa lý nhưng điều có chung
một đặc điểm là phản ánh sự gia tăng tỉ lệ MLT
trong giai đoạn hiện nay ở các bệnh viện. Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng, khi tỉ lệ MLT
tăng từ 20% trở lên không làm giảm tử suất và
bệnh suất cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Vì sức khoẻ
của bà mẹ và thai nhi, thái độ tốt nhất của người
thầy thuốc và của cả sản phụ là phải quan niệm
rằng không nên lạm dụng MLT. Thầy thuốc chỉ
nên MLT khi tiên lượng sinh thường ngã âm đạo
có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và
thai nhi. Có như vậy, mới có thể làm giảm tỉ lệ
MLT đang gia tăng như hiện nay.
Các yếu tố liên quan giữa các đặc điểm với
MLT của sản phụ bằng mô hình đa biến: Mô
hình phân tích đa biến cho thấy những sản phụ
được bác sĩ tư vấn MLT có tỉ lệ MLT cao gấp 1,5
so những sản phụ được bác sĩ tư vấn sinh
thường. Kết quả này nói lên công tác tư vấn của
bác sĩ trước khi sinh là vô cùng quan trọng. Thai
phụ luôn xem trọng quyết định của bác sĩ điều
trị vì họ tin rằng bác sĩ là những người có trình
độ, chuyên môn sẽ lựa chọn cho họ phương
pháp sinh an toàn nhất cho mẹ và con.
Điểm mạnh và hạn chế của đề tài: nghiên
nghiên cứu cũng cho chúng ta thấy, tư vấn trước
sinh là nguồn thông tin quan trọng đối với sản
phụ. Khi quyết định chọn phương pháp sinh đa
số sản phụ thường nghe theo lời tư vấn của bác
sĩ sản khoa. Vì vậy, các bác sĩ cũng nên cân nhắc,
xem xét lựa chọn phương pháp sinh phù hợp,
đặc biệt là những trường hợp sản phụ có vết
MLT cũ, nếu tiên lượng sản phụ có khả năng
sinh thường ngã âm đạo thì nên có kế hoạch tư
vấn, giúp đỡ, khuyến khích họ sinh thường. Đây
là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
làm giảm tỉ lệ MLT nói chung.
KẾT LUẬN
Tỉ lệ MLT chung tại khoa sản bệnh viện Đa
khoa Kiên Giang 6 tháng đầu năm 2015 là 33,4%.
Những sản phụ được nhân viên y tế tư vấn MLT
có tỉ lệ MLT bằng 1,5 lần so những sản phụ được
tư vấn sinh thường (KTC 95% (1,2 -1,9).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016
vien-da-khoa-trung-uong-thai-nguyen-6-thang-dau-nam2012_t4995.aspx, 4/8/2014.
Nguyễn Thị Huệ, Phạm Phước Vinh, Trương Thanh Thanh,
Châu Hữu Hầu (2013). Khảo sát tình hình mổ lấy thai tại bệnh
viện
Nhật
Tân
năm
2013.
www.bvag.com.vn/.../455_c44952bd4d5d2dba0660410e827184
88, Cập nhật ngày 15/06/2015.
Ninh Văn Minh (2010). Tình hình mổ lấy thai tại bệnh viện
sản nhi Ninh Bình năm 2012. />29/10/2013.
8.
9.
Rukiye Hobek Akarsu1 Salime Mucuk2 (2014)."Turkish
women’s opinions about cesarean delivery ". Original Articles,
30 (6), pp.1308-1313.
Trương Diễm Phượng, Trần Thị Lợi (2013). "Điều trị thai
ngoài tử cung bám ở vết mổ cũ tuổi thai dưới 12 tuần tại bệnh
viện Từ Dũ". Tạp chí Y học, Đại học Y dược TP.HCM, tập 17 (
1), tr.1.
Ngày nhận bài báo: