Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________________________
-----------------------

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUNG TÂM
XÂY
HÌNH
TRUNG
TÂM HỌC
TẬP
HỌCDỰNG
TẬP MÔ
CỘNG
ĐỒNG
Ở HUYỆN
TÂN
CỘNG
ĐỒNG Ở
HUYỆN
THÀNH, TÀU
TỈNH BÀ
THÀNH,
TỈNH
BÀTÂN
RỊA-VŨNG
RỊA-VŨNG TÀU

Chuyên ngành

- Lãnh đạo Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và các cán bộ quản lý các phòng
chức năng thuộc Sở.
- Lãnh đạo UBND và các phòng chức năng huyện Tân Thành.
- Lãnh đạo UBND và các ban, ngành đoàn thể , tổ chức xã hội thị trấn Phú Mỹ.
- Ban Chủ nhiệm các TTVH-HTCĐ xã Hắc Dịch, Phước Hoà, Mỹ Xuân và đặc biệt là Ban Chủ
nhiệm TTVH-HTCĐ thị trấn Phú Mỹ.
- Gia đình thân yêu và các đồng nghiệp của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu đề tài.
Bằng hết sự nỗ lực của mình để hoàn thành đề tài đã chọn, nhưng tôi chắc chắn luận văn
cũng không tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung. Hằng kính mong được tiếp nhận sự góp ý
xây dựng chí tình của quý Thầy, Cô, quý bậc đàn anh đi trước và quý đồng nghiệp hầu giúp tôi
bổ sung thêm kiến thức bổ ích và sâu sắc hơn nữa về đề tài này.
Bà Rịa- Vũng Tàu, tháng 08 năm 2008
Nguyễn Đức Thiện


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục nước ta trong những thập niên qua đã đạt được một số thành tựu nhất định nhờ
sự chỉ đạo, quan tâm và đầu tư của Đảng và Chính phủ. Tính chất và nguyên lý giáo dục đã
được Luật Giáo dục 1998 và 2005 nêu rõ ở Chương I, Điều 3 “Nền giáo dục Việt Nam là nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấy chủ nghĩa MacLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo
nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực
tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.[32.tr 18]. Tuy
nhiên nền giáo dục vốn được xem là phúc lợi xã hội với cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa
trước đây đã trở nên lạc hậu và kém hiệu quả. Vấn đề ngân sách trở nên quá tải đối với Nhà
nước, không thể đáp ứng đủ nhu cầu phát triển giáo dục nước nhà. Hơn thế nữa, cơ chế quan
liêu bao cấp cũng không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi
mới. Trong bối cảnh đó, chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước càng trở nên
đúng đắn và hợp lý hơn bao giờ hết. Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một giải pháp thích hợp

giá, tổng kết kinh nghiệm những hoạt động giáo dục cộng đồng mà nhiều địa phương trên cả
nước đã thực hiện từ nhiều năm qua để làm cơ sở thực tiễn cho việc tiến hành xây dựng và phát
triển TTHTCĐ rộng khắp ở các tỉnh, thành trên toàn quốc.
Huyện Tân Thành thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được thành lập từ năm 1994 trên cơ sở
tách từ huyện Châu Thành cũ. Thời điểm đó, kinh tế địa phương chủ yếu là nông nghiệp, văn
hóa, giáo dục chưa phát triển chỉ dừng lại ở mức độ học chữ chứ chưa chú trọng học nghề vì
người dân có quan điểm làm ruộng, rẫy chỉ cần có sức chứ không cần trí. Từ năm 1995, khi
Chính phủ có những dự án xây dựng các khu công nghiệp và các cụm cảng ở địa phương thì cơ
cấu kinh tế cũng thay đổi và biến động mạnh mẽ. Nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ và tay
nghề trở nên bức bách cả trong lĩnh vực nông nghiệp lẫn công nghiệp. Mãi đến lúc này nhận
thưc về học tập và giáo dục, đào tạo nói chung mới được đánh thức trong nhân dân.
Sau mười năm phát triển, mạng lưới trường lớp ở huyện được xây dựng đều khắp kể cả ở các
xã vùng sâu. Công tác xóa mù chữ được thực hiện rất thành công. Tuy nhiên hệ thống giáo dục
chủ yếu là hệ thống chính quy bao gồm các trường phổ thông công lập từ bậc tiểu học đến
trung học phổ thông. Trung tâm Giáo dục thường xuyên của huyện hầu như chỉ để đảm nhận
công tác xóa mù chữ, hỗ trợ phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở và tổ chức các lớp bổ


túc văn hóa dành cho các đối tượng tại chức cần bổ túc bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc
trung học phổ thông. Các TTHTCĐ chỉ mới được xây dựng ở một số nơi và giao cho cán bộ
văn hóa xã quản lý, phụ trách. Nhìn chung các TTHTCĐ này mới có hình thức chứ chưa có nội
dung, chương trình hoạt động nên chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, cập nhật kiến thức của
nhân dân địa phương. Nhận thức của nhân dân, thậm chí của một bộ phận cán bộ lãnh đạo về
xã hội học tập còn rất hạn chế, hầu như chỉ khoán trắng cho các trường phổ thông và Trung tâm
Giáo dục thường xuyên (TTGDTX). Trong khi đó nhu cầu học tập , nhu cầu được đào tạo và
tìm việc làm của nhân dân ở từng địa bàn cơ sở là rất lớn và rất đa dạng. Thực tế đó đòi hỏi các
cấp chính quyền địa phương cần quan tâm đến thực hiện các chủ trương nhằm đẩy mạnh xã hội
hóa giáo dục, xây dựng một XHHT ở huyện nhà. Một trong những giải pháp hữu hiệu để xây
dựng XHHT theo kinh nghiệm của một số địa phương là mô hình TTHTCĐ ở xã, phường, thị
trấn và thậm chí ở thôn ấp. Đây chính là vấn đề bức bách đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản lý

với thực tiễn mà đề tài nghiên cứu, đề xuất sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động TTVH-HTCĐ ở
huyện Tân Thành phát triển có chiều sâu, hiệu quả và thu hút người học hơn .
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận :
- Phân tích , tổng hợp tài liệu .
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu .
- Phương pháp phỏng vấn .
- Phương pháp chuyên gia .
- Xử lý thông tin.
- Phương pháp thực nghiệm
8. Cấu trúc của luận văn
Luận vn gồm 3 phần : Mở ðầu - Nội dung - Kết luận và kiến nghị
Mở ðầu

: Một số vấn ðề chung

Nội dung

: Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :

- Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình hoạt động của TTVH-HTCĐ.


- Chương 2: Thực trạng hoạt động TTVH-HTCĐ trên địa bàn huyện Tân Thành và thị
trấn Phú Mỹ.
- Chương 3: Kết quả thử nghiệm ở TTVH-HTCĐ thị trấn Phú Mỹ và một số giải pháp
tăng cường công tác quản lý và tổ chức hoạt động TTVH-HTCĐ xã .
Kết luận và kiến nghị

nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc và chất lượng cuộc sống. Gắn việc phát
triển phong trào học tập với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh
tế giỏi, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.


Các viện nghiên cứu khoa học và phát triển giáo dục và các nhà nghiên cứu giáo dục đã
dành nhiều tâm sức nghiên cứu loại hình giáo dục không chính quy này. Tiêu biểu có các tác
giả và tác phẩm cũng như công trình nghiên cứu:
* “Xã hội hóa công tác giáo dục” (Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc chủ biên) nêu lên cơ sở lý
luận , cơ sở thực tiễn và cách làm XHHGD thông qua Đại hội giáo dục các cấp đồng thời nhấn
mạnh XHHGD là động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài với các tiêu
chí : giáo dục hóa xã hội, dân chủ hóa giáo dục, cộng đồng hóa trách nhiệm, đa dạng hóa loại
hình giáo dục, đa phương hóa nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục, thể chế hóa sự quản lý
của nhà nước về giáo dục. [21]
* “ Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” -cũng do GS.TS.Phạm Minh Hạc chủ biên -tổng hợp
kinh nghiệm thế giới về XHHGD. Theo đó XHHGD chính là việc giáo dục phải thích nghi với
xã hội, phải phục vụ nền kinh tế xã hội, phục vụ cuộc sống xã hội.[23]
* “ Xã hội hóa giáo dục” (PGS. Võ Tấn Quang ) giới thiệu các quan điểm và cách làm
XHHGD ở các bậc học, cấp học , XHHGD ở địa bàn nông thôn và đề cập đến vấn đề quản lý
nhà nước trong việc thực hiện XHHGD.[31]
Ngoài ra còn nhiều bài báo, tạp chí viết về mô hình TTHTCĐ, tiêu biểu như :
* “ Thực trạng và những giải pháp xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng
nhằm góp phần nâng cao dân trí ở thành phố Hải Phòng” của ThS Vũ Thị Thanh Hương.[26]
* “Trung tâm học tập cộng đồng- một mô hình cần tiếp tục hoàn thiện và phát triển ở Việt
Nam” của Tạ Văn Sỹ.[33]
* “ Trung tâm học tập cộng đồng ở phường xã- hướng đi phù hợp để xây dựng xã hội học tập”
của ThS Phạm Quang Huân.[25]
* “ Những điều kiện xây dựng xã hội học tập” của PGS.TS.Mạc Văn Trang.[35]
Gần đây nhất có loạt bài viết về tiến trình xây dựng XHHT ở tỉnh Thái Bình đăng trên tạp chí
Thế giới trong ta.

Sở Văn hóa- Thông tin và Hội Khuyến học tỉnh xây dựng đề án mô hình Trung tâm Văn hóaHọc tập cộng đồng (TTVH-HTCĐ). Ngày 16/07/2004 UBND tỉnh đã phê duyệt và ban hành
“Quy chế tạm thời tổ chức hoạt động Trung tâm Văn hóa- Học tập cộng đồng xã, phường tỉnh
Bà Rịa- Vũng Tàu” [37]. Quy chế gồm năm chương, mười một điều quy định rõ chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động
của TTVH-HTCĐ xã, phường. Những văn bản này chính là hành lang pháp lý và là tiền đề để
các cộng đồng xã, phường, thị trấn đẩy mạnh tiến trình xây dựng và phát triển TTVH-HTCĐ ở


địa phương. Tuy vậy, vấn đề không dừng lại ở chỗ làm sao để xây dựng một TTVH-HTCĐ
khang trang về hình thức mà cốt lõi là việc làm sao để duy trì hoạt động TTVH-HTCĐ một
cách hiệu quả vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ đối với chính quyền và ban chủ nhiệm các TTVHHTCĐ địa phương.
1.2. Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1 Vai trò, vị trí của giáo dục, đào tạo đối với phát triển kinh tế xã hội
Từ năm 1945, trong ngày khai trường đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hoà,
trong thư gởi học sinh, Bác viết: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc
Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Sáu mươi hai năm trôi qua, đến nay câu nói đó
vẫn nhắc nhở chúng ta không thể coi thường việc học tập của thế hệ trẻ và giờ đây cả người lớn
tuổi, cả xã hội đều phải biết
nâng cao trình độ của mình để tồn tại và phát triển.
Đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Trung ương Đảng lúc phát biểu tại cuộc gặp gỡ
các đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “ Việt Nam trong thế kỷ XX”, vào tháng 09 năm 2000
tại Hà Nội, có nói: “ Dân tộc chúng tôi hiểu đầy đủ rằng dân tộc mình là một dân tộc nghèo,
một đất nước tuy đang phát triển nhưng ở mức thấp. Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách của nền
kinh tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nước phát triển trên thế giới. Chúng tôi hiểu rõ
khoa học công nghệ trong thế kỷ XXI sẽ có những bước tiến khổng lồ. Thực hiện tư tưởng vĩ
đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Lấy sức ta mà giải phóng cho ta, chúng tôi phải tri thức hoá
Đảng, tri thức hoá dân tộc, tiếp tục tri thức hoá công nông, cả nước là một xã hội học tập, phát
huy truyền thống những ngày mới giành được độc lập năm 1945, cả nước học chữ, cả nước
diệt giặc dốt, cả nước diệt giặc đói… Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học như đã nắm ngọn cờ dân

cộng đồng , đồng thời khi kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng thêm các nguồn lực đầu tư dành cho
giáo dục, thúc đẩy giáo dục phát triển. Có thể mượn ý câu nói của Bác để khẳng định vai trò
của giáo dục đối với nền kinh tế quốc dân : dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai các cường
quốc năm châu được hay không chính là nhờ tầm vóc của nền giáo dục nước nhà.
1.2.2. Quan điểm phát triển giáo dục thế giới trong xu thế hội nhập thế kỷ XXI
Trong bối cảnh thế giới đang phát triển như vũ bão về khoa học, kỹ thuật , công nghệ
đồng thời cũng đầy những biến động cực kỳ nhanh chóng về chính trị, văn hóa, tôn giáo và
lãnh thổ đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng muốn tồn tại và phát triển tốt phải thay đổi tư
duy và phải biết cách thích nghi. Trong xu thế đó UNESCO chủ trương phát triển giáo dục theo


chiến lược bao gồm 21 điểm, trong đó người viết chỉ đề cập đến những điểm quan trọng liên
quan đến việc hình thành và xây dựng một xã hội học tập mà giáo dục Việt nam cần vận dụng :
(1). Giáo dục thường xuyên phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục.
(2). Giáo dục thường xuyên qua mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời và phải thực sự trở thành
phong trào quần chúng.
(3). Giáo dục phải được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau và phải chú trọng đến
việc học cái gì và học được cái gì.
(4). Giáo dục cơ bản phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau phải là mục tiêu hàng đầu của
chính sách giáo dục.
(5). Xóa bỏ sự phân biệt giữa giáo dục phổ thông và khoa học kỹ thuật và công nghệ. Giáo dục
phải kết hợp lý thuyết, công nghệ, thực hành và thủ công.
(6). Phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi nghề nghiệp; thực hiện đào tạo bổ sung
bằng hình thức tu nghiệp và học tập định kỳ.
(7). Giáo dục ngoài nhà trường, các xí nghiệp, các ngành kinh doanh cũng phải chịu trách
nhiệm về đào tạo kỹ thuật.
(8). Nhanh chóng phát triển giáo dục cho người lớn. Đây là một mục tiêu ưu tiên trong chiến
lược phát triển giáo dục.
(9). Mọi hoạt động giáo dục cộng đồng đều phải hướng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội.

một bộ phận có chức năng quan trọng làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập.[18,tr.146] Các
mục tiêu và nhiệm vụ của đề án đã phê duyệt thể hiện sự quyết tâm cao của toàn Đảng toàn dân
thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng cả nước thành một xã hội học tập. Các mục tiêu với
những tiêu chí cụ thể nhằm đảm bảo tỷ lệ người biết chữ trong từng độ tuổi và giữa hai giới
nam, nữ; tỉ lệ cán bộ xã, phường, cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước
được học tập, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tỷ lệ
người lao động được thụ hưởng các chương trình bồi dưỡng để nâng cao năng lực, năng suất
lao động và chất lượng cuộc sống. Trong đó, có mục tiêu đạt tỷ lệ 100% quận, huyện có Trung
tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện; 100% các tỉnh, thành phố có Trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp tỉnh và trên 80% các xã, phường, thị trấn trong cả nước xây dựng được
Trung tâm học tập cộng đồng. Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2008 của
Thủ Tướng Chính phủ về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học
tập một lần nữa nhấn mạnh: “ Xây dựng XHHT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục


tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta. Cần đẩy mạnh công
tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, với phong trào
làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, học đi đôi với
hành”. Thủ Tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các giải pháp để phát triển
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên, các TTHTCĐ, cơ sở dạy
nghề, trong đó tập trung đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp học tập đáp ứng
nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân. Bên cạnh đó, Chỉ thị cũng nêu rõ trách nhiệm của các
bộ, các tổ chức liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính phải nghiên cứu, xây
dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ hợp lý tạo điều kiện đẩy mạnh sự phát triển các cơ sở giáo
dục thường xuyên, các TTHTCĐ.Như vậy, với quan điểm giáo dục cho mọi người và mọi
người đều tham gia giáo dục, bên cạnh những nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm, đề án “xây dựng xã
hội học tập giai đoạn 2005-2010” đã chú ý việc “phát triển bền vững và nhân rộng mô hình
Trung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực
hiện các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và các chương trình giáo
dục đáp ứng yêu cầu người học trong cộng đồng dân cư”.[18, tr.148].

đến người dân, làm cầu nối giữa người dân với các tổ chức giáo dục khác cao hơn. Xét về mặt
quản lý hành chánh nhà nước thì xã, phường chính là đơn vị cơ sở đủ điều kiện tích hợp các
kênh giáo dục nói trên và mô hình giáo dục tích hợp đó hiện nay có lẽ không có mô hình nào
hiệu quả bằng TTHTCĐ xã, phường.
- Một trong những đặc trưng của nền văn hóa truyền thống nước ta là văn hóa làng, xã.
Làng, xã là tổ chức hành chính cơ sở quan trọng , có nhiệm vụ truyền tải và thực thi các chủ
trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đồng thời làng, xã cũng là tổ chức xã hội,
nơi đó diễn ra mọi hoạt động của cộng đồng trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo
dục ,…. với đặc thù và tập quán địa phương nhằm duy trì và phát triển đời sống của cá nhân và
của cộng đồng. Thực tế ở Việt nam có rất nhiều làng nghề truyền thống với những nét văn hóa
rất riêng, rất độc đáo. Việc giáo dục người dân nhằm duy trì và phát huy truyền thống làng, xã,
tiến tới hội nhập với cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của chính quyền và của mọi người dân trong làng, xã.
Chính trên những cơ sở đó, trong Quyết định số 112/2005/QĐ-TTG ngày 18-5-2005 về việc
phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010”, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ
“Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình TTHTCĐ trên các địa bàn xã, phường, thị trấn


trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ
và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư” [15, tr.4]
1.3. Các khái niệm
1.3.1. Xã hội hóa giáo dục
Từ điển Giáo dục học định nghĩa xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là chủ trương, biện
pháp biến sự nghiệp giáo dục trong nhà trường thành công việc chung của toàn xã hội để thu
hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục thế hệ trẻ
tùy theo chức năng, điều kiện của mình.[20]. Tư tưởng XHHGD không phải xuất phát từ các
khó khăn trước mắt của ngành giáo dục khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, mà là từ
bản chất của giáo dục, từ quy luật hình thành nhân cách con người như là một sản phẩm , một
chủ thể của xã hội vì môi trường xã hội là một yếu tố khách quan có tác dụng quyết định không
nhỏ trong việc đào tạo nhân lực, nhân tài cho xã hội. Xã hội hóa giáo dục bao gồm các hoạt

Trong XHHT mỗi con người đều phải được giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học
tập suốt đời. Đã đến lúc phải thay đổi khẩu hiệu “Đào tạo một lần cho một đời người” thành “
Đào tạo liên tục trong suốt đời người”. Trong XHHT, các tổ chức, tập thể hoặc cá nhân theo
khả năng của mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng , mọi người, tùy theo
nhu cầu, năng lực và điều kiện của cá nhân, đều có thể tận dụng cơ hội để học tập nâng cao
chất lượng cuộc sống của bản thân và tham gia phát triển giáo dục cộng đồng.
XHHT là một hiện tượng có tính quy luật của sự phát triển, là vấn đề chung của thời đại,
là mô hình nền giáo dục tương lai thuộc thời đại kinh tế tri thức trong đó nguyên tắc hàng đầu
là “giáo dục suốt đời cho mọi người”. XHHT vận hành với phương châm “ Giáo dục cho mọi
người và mọi người cho giáo dục” chính là một hệ thống giáo dục gắn kết và liên thông các
hình thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Mục tiêu của người học
không phải chỉ để đi làm mà nhằm hoàn thiện nhân cách và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Xã hội học tập là một xã hội ở đó ai cũng học tập , học ở mọi lứa tuổi, ở mọi nơi, mọi lúc.
Xã hội học tập chứa đựng ý tưởng về giáo dục suốt đời, học tập suốt đời .
Tùy theo sự quan tâm của người học mà mọi hiện tượng, mọi sự kiện, mọi hoạt động
đều có thể trở thành đối tượng hay nội dung học tập. Phương pháp học đa dạng, linh động tùy
theo điều kiện cụ thể của từng người : có thể học tập chính quy theo trường lớp hoặc theo
những phương thức đa dạng trong cuộc sống như trong lao động, trong giao tiếp, trong giải
trí,… và bằng mọi phương tiện thông tin. [ 20, tr.482]


Để xây dựng một XHHT, giáo dục Việt nam phải thực sự tiến hành nhiều bước thay đổi
lớn lao về nhận thức và hành động trong đó thay đổi quan trọng nhất là chú trọng việc học tập
của người lớn, chăm lo việc học tập cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi . Mô hình XHHT của đất
nước ta phải vừa thể hiện được xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá trong lĩnh vực giáo dục
thế kỷ XXI, vừa phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta như các đặc điểm truyền
thống lịch sử, văn hoá, về chính trị xã hội và kinh tế của ta [4.] . Không phải chỉ có nhà nước
mới có trách nhiệm tạo điều kiện học tập cho người dân mà mọi người dân phải nhận thức
được trách nhiệm học tập, học để khỏi bị thất nghiệp , khỏi bị xã hội đào thải, không bị lạc hậu
trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại và nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa . Luật Giáo

tập thường xuyên và suốt đời cho mọi người nhằm mở rộng kiến thức, kỹ năng và văn hóa để
nâng cao chất lượng cuộc sống.
(3) Theo các tác giả quyển Từ điển giáo dục học, “ TTHTCĐ là cơ sở giáo dục bậc tiểu
học được cộng đồng làng xã, thôn bản tự đứng ra tổ chức, quản lý, đài thọ nhằm mục đích giúp
người lớn, trẻ em tiếp thu kiến thức văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp phổ cập theo chương trình
của bậc tiểu học và theo yêu cầu của thực tiễn địa phương”[ 24, tr.432].
Khái niệm TTHTCĐ là khá rõ ràng, tuy nhiên để kết hợp hoạt động văn hóa vốn
đã tồn tại trong cộng đồng với nhiệm vụ học tập, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ban hành
Quy chế thành lập và hoạt động của TTVH-HTCĐ. Để làm rõ khái niệm TTVH-HTCĐ ta cần
hiểu khái niệm văn hoá. Văn hoá được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, người viết xin nêu
tóm tắt những khái niệm sau
b) Khái niệm văn hóa :
(1) Tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong
quá trình đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại và phát triển; những di vật,
những tinh hoa trong lịch sử dân tộc và nhân loại cần phải được giữ gìn và phát huy nhằm thúc
đẩy xã hội tiếp tục phát triển lên những trình độ cao hơn.
(2) Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội nói chung và trong từng mặt cụ thể nói riêng,
biểu hiện qua các kỹ năng hoạt động, các hành vi ứng xử và lối sống. Là một mặt quan trọng và
tiêu biểu của nhân cách hình thành trong cả ba môi trường giáo dục : nhà trường, gia đình và xã
hội.


(3) Lĩnh vực hoạt động tạo ra những giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời
sống xã hội như văn học, nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh,…Về lĩnh vực này , giáo dục cần bồi
dưỡng cho người học thị hiếu văn hóa lành mạnh.
(4) Văn hóa còn được hiểu là trình độ học vấn của một người. Dù học vấn có
uyên thâm đến đâu cũng không thể hiểu biết hết mọi thứ trên đời, đó chính là lý do phải học tập
suốt đời và không ngừng học tập.
Như vậy, kết hợp các khái niệm về văn hóa và TTHTCĐ, ta có thể hiểu :
TTVH-HTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, do

- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác, nội dung hoạt động thường
kỳ và từng đợt phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của địa phương, của ngành giáo dục - đào tạo
và ngành văn hóa- thông tin.
- Phối hợp các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc địa bàn để điều tra, tổ chức các lớp xóa
mù chữ, sau xóa mù, các lớp phổ cập cho nhân dân địa phương.
- Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức điều tra nhu cầu học tập của nhân dân. Lập kế
hoạch triển khai các lớp chuyên đề với nội dung và hình thức phù hợp với điều kiện học tập của
cán bộ và nhân dân .
- Tổ chức các hoạt động văn hóa quần chúng như xây dựng phong trào văn nghệ
quần chúng, các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ, các lớp năng khiếu, đọc sách báo và
các hình thức vui chơi, giải trí khác.
- Tổ chức một số loại hình hoạt động thể dục thể thao như thể dục dưỡng sinh, bóng đá, bóng
chuyền, bóng bàn, cầu lông, cờ tướng, võ thuật, …
- Tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao trong và ngoài địa
phương nhằm nâng cao trình độ tổ chức hoạt động chuyên môn cũng như công tác quản lý.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể ở địa phương như các hội, đoàn, nhà
máy, xí nghiệp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng của các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ.
Cập nhật kiến thức, kỹ năng, tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ để
phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng
cuộc sống như : mở lớp học nghề ngắn hạn, các câu lạc bộ khuyến nông, khuyến công, khuyến
ngư, khuyến lâm, các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, các buổi tham quan, trao


đổi kinh nghiệm thực tế, các “lớp học đầu bờ”, các buổi nói chuyện về sức khỏe, vệ sinh an
toàn thực phẩm, dân số, môi trường,….
- Quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính phù hợp với các quy định của nhà
nước và của cộng đồng.
1.4.3. Chức năng, hoạt động của TTVH-HTCĐ
“Giáo dục và đào tạo; cung cấp thông tin và tư vấn về nguồn lực; tổ chức các hoạt động
công cộng nhằm phát triển cộng đồng; phân phối và liên kết các tổ chức vì sự nghiệp giáo dục

tình hình kinh tế, văn hóa, giáo dục và đời sống của người dân; phong tục tập quán và các vấn
đề xã hội trong cộng đồng; vấn đề sức khỏe, vệ sinh, môi trường; các nguồn lực sẵn có và tiềm
năng của địa phương. Đánh giá nhu cầu học tập của các thành viên trong cộng đồng, xem xét
các điều kiện cần thiết để hình thành TTVH-HTCĐ. Thống nhất tư tưởng và quan điểm học
tập, xác lập nhu cầu
học tập của cộng đồng.
(3). Xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng TTVH-HTCĐ.
(4). Vận động thành lập ban quản lý, điều hành TTVH-HTCĐ.
(5). Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động của TTVH-HTCĐ .
(6). Tổ chức đội ngũ giảng viên, hướng dẫn viên.
(7). Huy động mọi nguồn lực, tiềm năng trong cộng đồng .
(8). Thiết lập hệ thống các mối quan hệ liên kết và hỗ trợ của các tổ chức xã hội và cá nhân.
(9). Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình hành động .
(10). Kiểm tra, đánh giá chương trình hành động .
Đến nay cũng chưa có một khuôn mẫu thống nhất nào cho việc thiết lập một TTVHHTCĐ. Các bước trên cũng chỉ là kết luận được đúc kết từ sự tham khảo tài liệu ( nguồn
UNESCO Bangkok’s web, Myanmar The Community Learning Centre Experience) và nghiên
cứu thực tiễn tại một số TTVH-HTCĐ ở địa phương , do đó chắc chắn thứ tự các bước không
mang tính cố định.


Sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các bước trong kế hoạch xây dựng và tổ chức TTVH-HTCĐ

Tổng hợp

&

Ðnh gi
nhu cầu

phổ biến

nơi gọi là Ban điều hành; có nơi gọi là giám đốc TTHTCĐ; ở Bà Rịa-Vũng Tàu thống nhất tên
gọi những cán bộ quản lý TTVH-HTCĐ là Ban chủ nhiệm. Định biên chính thức của TTVHHTCĐ xã ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm một chủ nhiệm, hai cán bộ chuyên trách và một hợp
đồng, các định biên này được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm. Ngoài ra ban chủ nhiệm còn có
thể bao gồm các thành viên kiêm nhiệm khác là những đại diện các ban, ngành, đoàn thể ở địa
phương.
- Ban chủ nhiệm có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động cụ thể
theo tháng, quý, năm của TTVH-HTCĐ, xây dựng quy chế làm việc nhằm đảm bảo
cho hoạt động của TTVH-HTCĐ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status