luận văn thạc sĩ Hoàn thiện quản lý tài chính tại công ty Cổ phần dịch vụ hàng không Thăng Long - Pdf 59

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn. Những thông tin, số liệu, tư liệu trong luận văn được
trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc. Những số liệu thu thập và tổng hợp của cá
nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực.
Tác giả :
Nguyễn Thị Minh Hằng


ii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................i
Tác giả :.............................................................................................................i
Nguyễn Thị Minh Hằng.....................................................................................i
MỤC LỤC........................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT..................................................................iii
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................117
Bộ tài chính (2000), Chế độ mới quản lý tài chính DN, NXB tài chính........117
Nguyễn Cúc (2003), Thể chế Nhà nước đối với một số loại hình DN ở nước ta
hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội............................................................117
Nguyễn Đăng Nam, Hoàng Xuân Vượng, Đỗ Nguyên Khoát, Nguyễn Đức
Tặng (2003), Chính sách và cơ chế tài chính Tổng công ty hoạt động theo mô hình
công ty mẹ- công ty con, Hà Nội...........................................................................117
Trường Đại Học Kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình quản lý Nhà nước về
kinh tế, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội...............................................................117
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Luật Doanh nghiệp.................117



: Giám đốc

TGĐ

: Tổng giám đốc

HĐQT

: Hội đồng quản trị

LNST

:Lợi nhuận sau thuế

TNHH

:Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

: Tài sản cố định

TSLĐ

:Tài sản lưu động

TASECO

:Công ty cổ phần dịch vụ hàng không Thăng Long.


cần phải không ngừng điều chỉnh kết cấu sản phẩm và kết cấu ngành nghề. Do
phạm vi, quy mô lưu thông hàng hoá và lưu động tiền vốn ngày càng lớn, nên
doanh nghiệp không những cần phải kinh doanh sản phẩm mà còn cần tiến hành
kinh doanh tiền tệ. Là nhà quản lý kinh doanh, không nắm được kiến thức về tài
chính, không hiểu bản chất kinh doanh, không biết quản lý tài chính thì rất khó có
thể trở thành nhà quản lý có hiệu quả. Do đó, quản lý tài chính là chủ đề luôn luôn


2

được nhân viên quản trị doanh nghiệp coi trọng, tìm hiểu, học tập và áp dụng.
Công ty Cổ phần dịch vụ hàng không Thăng Long được thành lập ngày
24/2/2005, ngay từ khi mới thành lập Công ty đã xác định một trong những nhiệm
vụ trọng yếu là quản lý tài chính hiệu quả. Thời gian qua Công ty đã thu được
những kết quả đáng kể trong hoạt động của mình, song trong bối cảnh kinh tế đất
nước hội nhập ngày càng sâu rộng, để nắm bắt được những thời cơ, vượt qua những
thách thức buộc Công ty phải hoàn thiện việc quản lý tài chính cho phù hợp với sự
biến động của môi trường kinh doanh. Xuất phát từ ý tưởng trên nhằm thay đổi mô
hình tổ chức để hoạt động kinh doanh thực sự hiệu quả thì vai trò quản lý tài chính
trong doanh nghiệp là vô cùng bức thiết. Tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện quản
lý tài chính tại công ty Cổ phần dịch vụ hàng không Thăng Long” với mong
muốn hoàn thiện quản lý tài chính của Công ty nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
và hội nhập trong môi trường quốc tế.
2. Mục đích nghiên cứu của Luận Văn
- Đề tài nhằm mục tiêu hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý
tài chính của doanh nghiệp, làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng , đánh giá thực
trạng quản lý tài chính tại công ty Cổ phần dịch vụ hàng không Thăng Long.
- Trên cơ sở phân tích đánh giá về thực trạng quản lý tài chính tại công ty Cổ
phần dịch vụ hàng không Thăng Long, kết hợp với những lý luận cơ bản về quản lý
tài chính, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả

khác định nghĩa: Quản lý tài chính trong công ty cổ phần (CTCP) là một quá trình
quản lý trong đó nhà quản lý tài chính xử lý các thông tin liên quan
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ ban
đầu để xây dựng, mua sắm các tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, trả lương, khen
thưởng, cải tiến kỹ thuật…Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi phải có
các khoản thu để bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn. Như vậy trong quá trình
luân chuyển vốn tiền tệ đó doanh nghiệp phát sinh các mối quan hệ kinh tế như:
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước.Quan hệ giữa doanh nghiệp với
các chủ thể kinh tế khác và Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp. Trong quá trình tìm
hiểu em thấy mỗi doanh nghiệp có một đặc thù riêng, một phương pháp và một cách


4

quản lý tài chính của riêng mỗi doanh nghiệp. Thông qua quá trình tìm hiểu, em có
biết một số công trình nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề này. Cụ thể như sau:
- “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại tổng công ty cổ phần Hàm Rồng
Thanh Hóa” – Luận văn thạc sĩ kinh tế/ Lê Hùng Mạnh; PGS.TS. Vũ Duy Hào –
Đại học Kinh tế Quốc Dân – 2011.
- “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần CONTAINER Việt Nam” –
Luận văn thạc sĩ kinh tế/ Nguyễn Thị Vân Anh; Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần
Đăng Khâm – Đại học Kinh tế Quốc Dân – 2012.
- “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty TNHH thương mại và xuất nhập
khẩu Việt Hàn” – Luận văn thạc sĩ kinh tế/ Nguyễn Thị Tuyết Lan; Người hướng
dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Nam – Đại học Kinh tế Quốc Dân – 2010.
- “Hoàn thiện quản lý tài chính của Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Thái
Nguyên” – Luận văn thạc sĩ kinh tế/ Vũ Thị Xuyên; Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ
Duy Hào – Đại học Kinh tế Quốc Dân – 2011.
- “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của cục viễn thông Việt Nam” – Luận
văn thạc sĩ kinh tế/ Phan Văn Hùng; Người hướng dẫn: PGS.TS. Đặng Văn Thắng –

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của công ty Cổ phần dịch vụ
hàng không Thăng Long.


6

CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về công ty cổ phần
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm, phân loại công ty cổ phần.
1.1.1.1. Khái niệm:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ của công ty
được chia thành những phần đều nhau gọi là Cổ phần, do các cổ đông nắm giữ. Quyền
quyết định trong công ty phụ thuộc vào lượng cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ.
Ở Việt Nam, Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 diễn giải rằng CTCP là doanh
nghiệp, trong đó:Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau (gọi là cổ
phần), cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiếu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa.Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm và các khoản nợ và nghĩa vụ
tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp và cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
hợp khác quy định của pháp luật.
CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký kinh
doanh và có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.
1.1.1.2.Đặc điểm:
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
và được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu. Người nắm giữ cổ phiếu
gọi là cổ đông của CTCP.
Cổ phiếu ở CTCP có thể phát hành hai loại là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu
ưu đãi, trong đó cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu bắt buộc. Cổ phiếu ưu đãi sẽ có

huy động vốn bằng cổ phiếu, có thể tích tụ những lượng vốn lớn từ những lượng
vốn nhỏ với thời hạn ngắn để chuyển thành lượng vốn vô thời hạn.
Hơn nữa, CTCP được quyền huy động vốn năng động theo nhu cầu của các nhà
đầu tư. Nhìn chung, CTCP có thể huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, từ các cá
nhân và tổ chức trong cũng như ngoài nước. Mặt khác đầu tư vào CTCP có thể làm
giảm rủi ro cho các nhà đầu tư giá trị cổ phiếu không lớn cùng với thông tin trên thị
trường chứng khoán là tương đối cụ thể, các nhà đầu tư có thể dễ dàng phân tích,
sàng lọc danh mục đầu tư hấp dẫn và đầu tư vốn vào những danh mục đó. Đa dạng
hóa đầu tư như vậy sẽ làm giảm rủi ro đầu tư.
Bên cạnh đó, tình dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu cao nên các nhà đầu tư dễ
dàng cơ cấu lại danh mục đầu tư, chuyển vốn từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác mà


8

không ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Cùng với công ty TNHH, CTCP là
loại công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn cao nhất. Cổ đông CTCP chỉ chịu trách
nhiệm trong phần vốn đóng góp, ngoài ra không phải chịu trách nhiệm đối với công
nợ cùa công ty khi công ty mất khả năng thanh toán. Chế độ trách nhiệm này tạo
điều kiện cho sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý. Chế độ trách nhiệm hữu hạn cũng
tạo ra hiệu quả trong việc quản lý, huy động và sử dụng vốn.
1.1.1.2. Phân loại CTCP
Theo tiêu chí mức độ phát hành cổ phiếu, CTCP phân thành 2 loại là CTCP nội
bộ và CTCP đại chúng. CTCP nội bộ phát hành cổ phiếu chỉ giới hạn trong quy mô
hạn chế, số lượng cổ đông cũng bị giới hạn nhất định. CTCP đại chúng là CTCP có
một trong các tiêu chí như phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, cổ phiếu
được niêm yết tại Sở giao dịch CK, số lượng cổ đông lớn.
1.CTCP nội bộ
Công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) thường là
dạng công ty nhỏ, sở hữu bởi một số ít người, không được gọi vốn rộng rãi, không

chào mua. Trường hợp số cổ phiếu chào mua nhỏ hơn số cổ phiếu đang lưu hành
của một công ty hoặc số cổ phiếu đặt bán lớn hơn số cổ phiếu chào mua thì cổ phiếu
được mua trên cơ sở tỷ lệ tương ứng
1.1.2. Hoạt động cơ bản của CTCP
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động
kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó.
Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành
lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Ngay từ khi mới thành lập, các cổ đông sáng lập đã cùng nhau cam kết và góp
vốn thành lập CTCP. Số vốn góp ban đầu đó chính là một bộ phận cấu thành nên
vốn CSH.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty cần trang thiết bị, máy
móc, công nghệ, nguyên vật liệu, lao động... tất cả đều cần dể CTCP tiến hành và
duy trì hoạt động của mình nhằm đạt những mục tiêu đề ra. Khi muốn mở rộng hoạt
động SXKD, CTCP cũng cần vốn đầu tư để tài trợ cho những dự án của mình.
CTCP cần sử dụng vốn sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhất, tính toán lãi suất huy
động nhằm huy động tối đa nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.


10

Trong nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
được đa dang hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn. Môi trường kinh doanh ngày
càng năng động cho phép CTCP mở rộng các hình thức và công cụ huy động vốn.
CTCP có ưu thế hơn các loại hình doanh nghiệp khác đó là được phát hành chứng
khoán ra công chúng. CTCP có thể huy động vốn từ các nguồn: Phát hành trái

doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng. Đó chính là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, vật chất, nhân sự đưa vào quá trình sản xuất ra sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận. Trong quá trình sản xuất, CTCP
mua nguyên vật liệu đầu vào, đầu tư máy móc, trang thiết bị, nhân công... để sản
xuất ra hàng hóa, dịch vụ. Nếu CTCP hoạt động có hiệu quả thì có những điều kiện
thuận lợi để tăng trưởng, bổ sung nguồn vốn. Nguồn vốn được tích lũy từ lợi nhuận
không chia được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của CTCP.
1.1.2.3.Hoạt động đầu tư vốn
Đầu tư là hoạt động chủ yêu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển của CTCP.
Trong hoạt động đầu tư, CTCP bỏ vốn dài hạn và bổ sung những tài sản cần thiết để
thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Để đạt được những mục tiêu kinh doanh của
mình, CTCP cần đề ra những dự án mới, khả thi để tạo ra những bước đột phá nhất
là trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Đặc điểm của những dự án đầu tư thường yêu cầu một lượng vốn lớn và thời
gian đầu tư khá dài, mức độ rủi ro là khá cao. Do vậy, CTCP cần có sự tính toán để
hạn chế sự lãng phí cũng như thất thoát nguồn vốn. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định đầu tư của CTCP: Chính sách kinh tế của nhà nước, thị trường cạnh tranh, chi
phí tài chính, khả năng tài chính, khoa học kỹ thuật....
1.2. Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết quản lý tài chính của CTCP
1.2.1. Quan niệm quản lý tài chính của CTCP
1.2.1.1. Khái niệm quản lý tài chính của CTCP
Tài chính là một phạm trù kinh tế, tồn tại khách quan và mang tính lịch sử. Tài
chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Những
điều kiện kinh tế xã hội này là những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển
của tài chính. Những tiền đề đó là nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ và nhà nước.
Hoạt động tài chính bao hàm các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế gắn với
sự vận động của tiền tệ. Cốt lõi của các mối quan hệ đó là những quan hệ tiền tệ
giữa doanh nghiệp với mọi chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính trong
doanh nghiệp hết sức đa dang và phong phú, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó,


động tài chính doanh nghiệp nếu được duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ
tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận
động và phát triển. Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực


13

hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng
như phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả.Tài chính
doanh nghiệp(TCDN) nói chung là hoạt động có liên quan đến việc hình thành và
sử các quỹ tiền tệ. TCDN là hoạt động liên quan đến việc hình thành nên nguồn vốn
và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của DN nhằm đạt
mục tiêu đề ra.
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong
xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các
nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng
các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài
chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính là một hệ thống tổng thể các nguyên tắc, phương pháp, hình
thức hoặc các công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính trong
những điều kiện cụ thể nhằm đạt những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý đối với
doanh nghiệp, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh
doanh. Đây là căn cứ để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động tài chính của mình,
một cơ chế quản lý tài chính phù hợp sẽ khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh
nghiệp phát triển.
Đối với CTCP, quản lý tài chính gồm các hình thức và công cụ huy động các
nguồn vốn của CTCP và thiết lập vốn của CTCP, quản lý tài sản của CTCP Bao

Ngoài ra, công việc quản lý tài chính sẽ giúp giám đốc điều hành hoạch định
chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn của công ty dựa trên sự đánh giá tổng quát,
cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới
sự tồn tại của công ty, bao gồm: chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị
trường vốn, thị trường chứng khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương
trình, các dự án của công ty, mở rộng hay thu hẹp sản xuất... Thông qua đó đánh giá
và dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, phát
hiện âm mưu thôn tính công ty của các đối thủ cạnh tranh, đề xuất phương án chia
tách hay sát nhập…Chú trọng quản lý nguồn vốn của công ty. Quản lý điều hành
nguồn vốn và các chi phí sản xuất kinh doanh cần được tăng cường theo hướng điều
chỉnh cơ cấu thu chi phù hợp với việc cắt giảm các chi phí đầu vào. Quản lý chi của


15

công ty phải đảm bảo kế hoạch chi hợp lý, hiệu quả, đảm bảo kiểm soát được bội
chi, tiến tới cân bằng vốn và doanh thu. Hệ thống quản lý tài chính, chi tiêu từng
bước thực hiện vi tính hoá, đẩy mạnh phân cấp quản lý tài chính trong công ty và
tăng tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị trực thuộc của công ty. Cân đối tỷ lệ chi
và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh trong từng thời kỳ và đảm bảo an
toàn tài chính công ty.
Quản lý tài chính trong công ty phải tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu
nguồn vốn huy động tối ưu cho công ty trong từng thời kỳ. Quản lý tài chính phải
thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với công ty, vừa
bảo vệ được quyền lợi của chủ công ty và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích
hợp pháp cho nhân viên; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là
nguồn quan trọng cho phép công ty mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào
những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho công ty có mức
độ tăng trưởng cao và bền vững. Quản lý tài chính trong công ty còn có nhiệm vụ
kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử dụng lãng

ROE = (lợi nhuận sau thuế)/(vốn chủ sở hữu)


17

 Thu nhập trên cổ phần (EPS)
EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của công ty. EPS
thường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá của cổ phiếu.
Đây cũng là thành phần chính dùng để tính toán chỉ số P/E. Một điểm quan trọng
nữa thường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để tạo ra lợi nhuận. Hai công
ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử dụng vốn ít hơn- tức là công ty
đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn của mình để tạo ra lợi nhuận và, nếu
những yếu tố khác là tương thì đây là công ty tốt hơn.
EPS = (LNST-cổ tức của cổ phiếu ưu đãi) / (KLCP lưu hành bình quân
trong kỳ)
 Tỷ số giá thị trường so với lợi tức trên mỗi cổ phiểu (P/E)
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập cùa mỗi cổ phiếu.
Trong đó, giá thị trường của là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời
điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận sau thuế mà công ty
chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.
P/E = Giá thị trường mỗi cổ phiếu / EPS
 Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành (Current ratio)
Cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như
tiền mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn
của mình. Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả
được hết các khoản nợ. Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang
ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi
đáo hạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất
nhiều cách để huy động thêm vốn. Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải
là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được

và vỡ nợ.
- Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu
nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình,
hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay.
Tỷ số khả năng trả lãi = (Lợi nhuận trước thuế và lãi vay)/ (Chi phí lãi vay)
1.2.2. Nội dung quản lý tài chính của CTCP


19

1.2.2.1. Quy trình quản lý
Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn
hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty. Đây là công
việc rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách
thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở
rộng công việc kinh doanh. Lập kế hoạch tài chính sẽ cho phép qụyết định lượng
nguyên liệu thô doanh nghiệp có thể mua, sản phẩm công ty có thể sản xuất và khả
năng công ty có thể tiếp thị, quảng cáo để bán sản phẩm ra thị trường. Khi có kế
hoạch tài chính, bạn cũng có thể xác được nguồn nhân lực doanh nghiệp cần. Quản
lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, đồng thời
quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty. Đây là công việc rất quan trọng
đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức
mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộng công việc kinh
doanh. Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công cụ cần thiết giúp cho doanh
nghiệp chủ động đưa ra các giải pháp khi thị trường có sự biến động.
“Việc quản lý tài chính không có hiệu quả là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự
thất bại của các công ty, không kể công ty vừa và nhỏ hay các tập đoàn công ty lớn.”
Lập kế hoạch tài chính gồm lập kế hoạch trong ngắn hạn và lập kế hoạch trong
dài hạn. Kế hoạch tài chính ngắn hạn là việc lập kế hoạch về lợi nhuận và ngân quỹ
công ty trong khi kế hoạch dài hạn thường mang tính chiến lược và liên quan đến

nếu mục tiêu bạn đề ra quá thụ động hoặc vượt quá khả năng của công ty.
Đối với quản lý vốn sử dụng thực của công ty vốn sử dụng thực của công ty là
chênh lệch giữa tài sản hiện có của công ty và các khoản nợ phải trả, thường được
gọi là vốn lưu chuyển trong công ty. Các nhà quản trị phải luôn chú ý đến những
thay đổi trong vốn lưu chuyển, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi và ảnh hưởng của
sự thay đổi đó đối với tình hình hoạt động của công ty. Khi quản lý nguồn vốn lưu
chuyển trong công ty, hãy xem xét các bộ phận cấu thành như :Tiền mặt và các
khoản tương đương tiền mặt (các loại chứng khoán và tiền gửi ngắn hạn). Khi lập
các kế hoạch tài chính bạn phải trả lời được những câu hỏi liên quan đến tiền mặt
như : lượng tiền mặt của công ty có đáp ứng nhu cầu chi phí không? Mối quan hệ


21

giữa lượng tiền thu được và chi phí như thể nào? Khi nào thì công ty cần đến các
khoản vay ngân hàng?
Đối với công nợ thì phải quan tâm đến các khoản phải thu: chủ yếu bao gồm các
khoản tín dụng mua hàng cho khách hàng. Nhà quản trị phải quan tâm đến những khách
hàng nào thường hay trả chậm và biện pháp cần thiết để đối phó với họ.
Quản lý hàng tồn kho: khoản tồn kho thường chiếm tới 50% tài sản hiện có của
công ty do đó nhà quản lý phải kiểm soát tồn kho thật cẩn thận thông qua việc xem
xét xem lượng tồn kho có hợp lý với doanh thu, liệu doanh số bán hàng có sụt giảm
nếu không có đủ lượng tồn kho hợp lý cũng như các biện pháp cần thiết để nâng
hoặc giảm lượng hàng tồn kho.
Các khoản phải trả và các tín phiếu đến hạn chủ yếu là các khoản tín dụng mà
các nhà cung cấp cho công ty hưởng.
Các khoản vay phải trả bao gồm các khoản vay từ ngân hàng và các nhà cho
vay khác. Nhà quản trị phải quan tâm đến các vấn đề như: lượng vốn đi vay có phù
hợp với tình hình phát triển của công ty, khi nào thì lãi suất cho vay đến hạn trả?
Chi phí và thuế đến hạn trả bao gồm: các khoản trả lương, lãi phải trả đối với

Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu
và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc
theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và
cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ như: Tỷ lệ về khả năng thanh toán được sử dụng để đánh giá
khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, tỷ lệ và khả năng cân
đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự
chủ tài chính.
Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho
việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
nhất của doanh nghiệp.
Tất cả các nghiệp vụ quản lý tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản lý
doanh nghiệp và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quản lý doanh nghiệp. Hầu hết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status