Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Pdf 59

Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng
xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nguyễn Minh Hải

Bộ môn Toán Kinh tế, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm chứng mối liên hệ giữa tăng trưởng
xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, xem xét có tồn tại mối quan
hệ hai chiều giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay không.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, xuất khẩu giúp tăng vốn, tạo thêm việc làm
và thúc đẩy tiến bộ công nghệ, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo
chiều ngược lại, tăng trưởng kinh tế nhanh làm tăng lợi thế cạnh tranh của
Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2017 trên thị trường quốc tế, qua đó thúc
đẩy xuất khẩu. Điều này khẳng định chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế hướng về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua là hoàn
toàn phù hợp. Trên cơ sở phân tích, bài viết đề xuất một số gợi ý nhằm phát
huy mối quan hệ tích cực giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững.
Từ khoá: xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam.

1. Giới thiệu

tăng trưởng kinh tế (TTKT) ở Việt Nam
là một trong những chủ đề quan trọng thu
hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên

Mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và

The experimental analysis of export growth and economic growth in Vietnam

Abstract: The main objective of this study is to verify the between export growth and economic growth. At

đạt được mục tiêu này thì tăng trưởng xuất
khẩu được xác định là một trong những
then chốt chính giúp cải thiện các yếu tố
nguồn lực như tạo thêm việc làm, bổ sung
vốn và tăng năng suất nhân tố tổng hợp,
qua đó thúc đẩy TTKT. Kinh nghiệm từ
những quốc gia thành công trong chiến
lược thúc đẩy xuất khẩu hướng tới TTKT
như Hàn Quốc, Thái Lan cho thấy, chiến
lược TTKT hướng về hoạt động xuất khẩu
đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước
lạc hậu trở thành nước có nền kinh tế lớn
trên thế giới, giúp Thái Lan đạt mức tăng
trưởng cao liên tục trong nhiều năm và
trở thành một trong những điểm sáng của
châu Á. Bên cạnh đó, cũng có không ít các
quốc gia chưa thành công với chiến lược
này, chẳng hạn các Quốc gia Nam Á, Mỹ
La Tinh... làm nảy sinh những nghi vấn
về chiều hướng tác động của xuất khẩu
tới tăng trưởng kinh tế. Chính điều này,
ít nhiều gây hoài nghi cho các nhà hoạch
định chính sách khi lựa chọn chiến lược
thúc đẩy xuất khẩu và TTKT.
Mặc dù ở trong nước cũng có khá nhiều
nghiên cứu về mối quan hệ này đã được
thực hiện, nhưng các kết quả lại không
nhất quán về mối quan hệ giữa xuất khẩu
và TTKT nên các khuyến nghị đưa ra cũng
chỉ dừng lại theo hướng hoàn thiện cơ chế

Những nghiên cứu đầu tiên về mối quan
hệ giữa xuất khẩu tới TTKT sử dụng dữ
liệu Data Panel đáng chú ý là các nghiên
cứu của Emery (1968), Kravis (1970),
Tyler (1981). Nhóm này sử dụng phương
pháp tương quan hạng (Rank Correlation
Method) để đo mức độ liên hệ giữa hai
biến xuất khẩu và TTKT tại 55 quốc gia
đang phát triển giai đoạn 1960- 1977.
Các kiểm định cho thấy, có mối liên hệ
tích cực giữa biến tăng trưởng và xuất
khẩu. Kết quả thực nghiệm cũng chỉ ra
rằng cùng với vốn, lao động, xuất khẩu
có vai trò quan trọng đối với TTKT các
nước. Michalopoulos và Jay (1973) sử
dụng mô hình hàm sản xuất tân cổ điển để
nghiên cứu mối quan hệ giữa xuất khẩu
và TTKT ở 39 nước đang phát triển thời
kỳ 1960- 1973 với giả định của mô hình
là sự tăng trưởng nhanh chóng trong khu
vực xuất khẩu có hiệu ứng tốt lên TTKT
chung bởi vì nó bắt nguồn từ chuyên môn
hoá gia tăng và cạnh tranh đến mức có
thể nhằm khai thác lợi thế nhờ quy mô từ
thị trường rộng lớn. Dưới giác độ nhà sản

Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 2019


NGUYỄN MINH HẢI

phục và không cung cấp được thông tin
hữu ích trong việc ban hành chính sách.
Khắc phục nhược điểm này, các nghiên
cứu với dữ liệu chuỗi thời gian lại cho kết
quả thực tế hơn so với kết quả thu được từ
các nghiên cứu dữ liệu Panel Data. Có thể
kể đến các nghiên cứu Hendrik Van Den
Berg (1997) cho Mexico giai đoạn 19601991; Henriques và ctg (1996), Awokuse
(2003) cho Canada 1961- 2000; Keong và
ctg (2001) cho Malaixia giai đoạn 19592000; Krishan và Klein (2008), Mishra
(2011) nghiên cứu cho trường hợp Ấn Độ
thời kỳ 1970- 2009. Tuy nhiên, tất cả các

nghiên cứu sử dụng chuỗi thời gian cũng
như dữ liệu chéo đều có chung nhận định
là việc xuất khẩu có tác động nhân quả tới
tăng trưởng cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn
và nguyên nhân quan trọng của mối quan
hệ này chính là tác động tích cực của xuất
khẩu lên năng suất tổng hợp (TFP).
Bên cạnh đó, cũng có không ít những
nghiên cứu không chứng minh được có
sự tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu và
TTKT, thậm chí tác động tiêu cực của
xuất khẩu với TTKT. Điển hình là nghiên
cứu Ahmad và Kwan (1991), nghiên cứu
sử dụng kiểm định Granger để kiểm tra
mối quan hệ giữa xuất khẩu với TTKT
cho tập hợp 47 quốc gia đang phát triển ở
Châu Phi giai đoạn 1981- 1987. Kết quả


Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

khác biệt từ các nghiên cứu này được giải
thích theo nhiều cách khác nhau, nó không
chỉ phụ thuộc vào các yếu tố đặc thù của
các quốc gia trong từng thời kỳ phát triển
mà còn phụ thuộc vào cách tiếp cận lý
thuyết và mức độ chính xác của dữ liệu. Ở
Việt Nam, đây là một chủ đề quan trọng
giúp đánh giá sự tương quan giữa hai mục
tiêu điều tiết vĩ mô. Do vậy, để khám phá
bản chất thực mối quan hệ xuất khẩu- tăng
trưởng, cần nghiên cứu sâu về nền tảng
cấu trúc vi mô của mỗi quốc gia. Điều này
đòi hỏi chúng ta phải có sự phân tách rạch
ròi những ảnh hưởng của cơ cấu hàng hoá
xuất khẩu lên TTKT. Nghiên cứu này, sẽ
tập trung làm rõ sự tác động của hoạt động
xuất khẩu lên TTKT Việt Nam trong giai
đoạn 2000- 2017.
2.2. Lựa chọn biến và thang đo
Kế thừa các nghiên cứu của BahmaniOskooee và ctg (1991), Sharma và ctg
(1991), Thuy (2014), các biến phản ánh
mối liên hệ giữa xuất khẩu với TTKT
được xác định thông qua các thước đo
phổ biến như: Sản lượng (GDP), vốn (K),
lao động (L), xuất khẩu (E). Vì vậy, việc
sử dụng tốc độ tăng trưởng G_GDP đại
diện cho tăng trưởng sản lượng GDP, tốc


HI t = ∑ P 2it

(2)

(2)

i =1

Trong đó, Pit là tỷ trọng các nhóm hàng
hoá trong tổng cơ cấu hàng hoá, HI thuộc
(0,1). Khi HI càng gần 1 thì xuất khẩu
hàng hoá càng có mức chuyên môn hóa
cao, mức độ đa dạng hoá thấp.
Để đánh giá mức độ đa dạng hoá xuất
khẩu, biến TE xây dựng dựa vào chỉ số
Theil Entropy do Taylor và Francis (2003)
đề xuất cũng được đưa vào. Trong nghiên
cứu của Tyler, W. (1981) đã chỉ ra mức
độ đa dạng hoá xuất khẩu chịu ảnh hưởng
từ hai nhân tố: mức độ đa dạng theo chiều
rộng (TW-theo các nhóm ngành) và mức
độ đa dạng theo chiều sâu (TD- theo nội
bộ nhóm ngành). Do vậy, biến TE được
viết lại như sau:
TE = TW + TD

(3)

Theo Hiep.N.Q (2016), để đánh giá mức


CPI ij
CPI i

.w j (4) (4)

nghiệm là mô hình được xây dựng dựa
trên mô hình hạch toán các nguồn lực
TTKT dạng Cobb-Duglas mở rộng với
tiến bộ công nghệ theo trung lập Hicks,
nội sinh và lợi suất không đổi theo quy
mô:
Yt = TFPt.Ktα.Ltβ
(5)

Trong đó, eij = E 0 là chỉ số tỷ giá danh
j
nghĩa của
ngoại tệ thứ j tại thời kỳ i
so với kỳ gốc, Eji là tỷ giá danh nghĩa của
đồng ngoại tệ thứ j trong rổ ngoại tệ tại
thời kỳ i và Ej0 là tỷ giá danh nghĩa của
đồng ngoại tệ thứ j trong rổ ngoại tệ tại
thời kỳ gốc; wj là tỷ trọng thương mại của
các nước có đồng tiền tham gia vào rổ
ngoại tệ, được tính bằng cách lấy “Kim
ngạch xuất khẩu của đối tác j / Tổng kim
ngạch xuất khẩu của các đối tác trong rổ
ngoại tệ”. CPIji là chỉ số giá điều chỉnh của
đối tác j thời kỳ i và CPIi là chỉ số giá điều


3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô hình nghiên cứu
Theo cơ sở lý thuyết, một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng chủ yếu dựa vào 3 nhân
tố chính: vốn (K), lao động (L) và năng
suất nhân tố tổng hợp (TFP). Do đó, xuất
phát điểm của các mô hình hồi quy thực

Mô hình được giả định rằng xuất khẩu
tăng trưởng sẽ giúp cải thiện các yếu tố
nguồn lực như tạo thêm việc làm, bổ sung
vốn cho nền kinh tế và làm tăng năng suất
nhân tố tổng hợp TFP qua đó thúc đẩy
TTKT. Do đó, các yếu tố K, L, α, β đo
lường trực tiếp, còn yếu tố năng suất TFP
đo lường gián tiếp từ phương trình:

TFPt = γ1 + γ2Et + γ3E1t + γ4E2t + γ5E3t +
γ6Tt + γ7TDt + γ8TWt + γ9HIt + γ10REERt +
ωt
(7)
Do các biến trong mô hình có tác động
trễ, nên sự thay đổi của xuất khẩu trong
một quý nào đó không chỉ tác động đến
tăng trưởng của quý này mà còn tác động
đến tăng trưởng của những quý sau đó. Để
đánh giá được tác động cả trong ngắn và
dài hạn thì mô hình động được đưa vào sử


-

Giả thuyết 4

E3 có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

+

Giả thuyết 5

HI, TE có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

+

Giả thuyết 6

TD tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

+

Giả thuyết 7

TW có tác động đến tăng trưởng kinh tế

+

Giả thuyết 8

REER có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế



-3,4098

Chuỗi dừng

DE1

ADF(3) = - 5,724

-3,4044

Chuỗi dừng

DE2

ADF(3) = - 6,776

-3,4050

Chuỗi dừng

DE3

ADF(2) = - 6,3876

-3,4553

Chuỗi dừng

DREER


DTW

ADF(4) = - 5,6389

-3,5281

Chuỗi dừng

Nguồn: Tính toán của tác giả từ phần mềm Eviews 8.0

dụng để ước lượng tác động này, với các
giả thuyết đi kèm tại Bảng 1.
3.2. Quy trình nghiên cứu
Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Để ước
lượng mô hình, số liệu về GDP, vốn (K),
lao động (L) được thu thập từ Tổng cục
Thống kê Việt Nam (GSO) theo tần suất
quý, từ quý 1/2000 đến quý 4/2017, tổng
cộng có 72 quan sát. Với tần suất quý thì
đây là bộ số liệu tốt nhất có thể thu thập
được. Giá trị xuất nhập khẩu và số liệu các
chỉ tiêu sử dụng để tính REER được thu

6

thập từ các cơ sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF), IFS và DOTS. Ngoài ra,
cũng tham khảo thêm các dữ liệu từ Ngân
hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát

DGDP
L

t −1 =
t −1 ) +t −
1 +
3 Dα
1 +α∑
4 ∆α

chuỗi số liệu thì dùng phương pháp trung
bình trượt (MA) được sử dụng, cách này
sẽ giúp cho chuỗi dữ liệu tốt hơn trong
phân tích cũng như dự báo. Cuối cùng, là
kiểm định tính dừng của tất cả các chuỗi.
Các chuỗi dữ liệu sẽ được thực hiện theo
kiểm định ADF với độ trễ tối đa là 8 để
AIC tự động lựa chọn độ trễ thích hợp.
Nếu các biến không dừng thì tiếp tục biến
đổi bằng cách lấy sai phân bậc nhất các
chuỗi đã hiệu chỉnh mùa vụ. Kết quả kiểm
định cho thấy sai phân bậc nhất của các
biến đặc trưng trong mô hình đều dừng ở
mức ý nghĩa 5%.

trung hoá/
đa dạng hoá đến =
TTKT i 1 =
i 1=
i 1 i 1

k

k k

k

k

=
+ t∑
α+∑
+α)t −∑
DGDP
+DGDP
α(2E
DGDP
+
α=
(t∆
K∑
)∑


L
+1∑
α
D
)α+1 ∑
α1 +
HI

1
t−1
1=
i 21 =
i 1i =
=
i 1 i=
i 1 i 1i 1 i 1 i 1
=i =
=
=
1=
1=
k
k k
k
k
k
k
k
k
k
k

D∑
((EHI
αKα6α
D(DR
)(DHI
DGDP) =

=i 1=
=
=
i 1 =i 1
=
k
k
k

λ6D(TE) ++ ∑ α
λ75D(REER)
+6 D
λ8(D2007
+α 7 D( REER) + α 8 D 20
D( E ) + ∑ α
HI ) + ∑
=i 1 =i 1 =i 1

(8.3)

λ9E*D2007 + u3

Phương trình 4: Tác động của mức độ
k
k
k
k
tập trung hoá/ đa dạngkhoá giữa các nhóm
DGDP =
α1 + ∑ α 2 DGDP


k

k

k k

k

k

DGDP =
α
=
DGDP
α=
α
(1t∆−(+1K
) +2α

(D∆4(K
∆)tHI
∑Dα(2EDGDP


t1−1+
1 +α
2(DGDP
3)D


=

kk

α
D2(DGDP
E+)++∑
DD
((EHI
+
α(α
+∆76αD
D8t(D
(−
DGDP
=
DGDP
+((EREER
K
DGDP) =
+∑
α
αα) 3+
D
(∆
∆)L
∑tα−αμ1α155++6D(E)

∑αKα6αt −Dt51−71D)(DHI
∑)) ++α∑


k

μ6D(TB) ++ ∑ α
μ75D(TW)
++α∑
μ D(REER)
α
D( E ) + α 7α
( HI ))++∑
D
D( E ) + ∑
D6(D
REER
α 8αD720
6 D (85HI ) + ∑∑
i 1=
=
i 1 =
i 1 i 1 =i 1
=i 1 =

+ μ9D2007 + μ10E*D2007 + u4

(8.4)

Phương trình 1: Tác động của xuất khẩu/
DGDP =
α + α DGDP
DGDP

k
k
k
k
DGDP =
α
+
DGDP
α
DGDP
=
α
+
DGDP
+
α
DGDP
α
=
D
α
(

+
K
+
α
)
+
α



t −α
t −1 REER
t)
t −1 ) +
1 α
1 +( HI
2 α
3D∑
1) +
2α3 D ()HI
4+t −α
1−1+D 2007
D( E2) + ∑
) 5+
(1E
α 73 D
+4(α
REER
α
5D(GDP
6D
7 D(
6
8
9E * D
8 D+
1
DGDP=

k k
kk
k k
kk
k
k kk giữa giai đoạn
k
k
+
α
D
(
E
)
+
+
α
α
D
D
(
(
E
HI
)
+
)
+
α
α

α
(LWTO
D
REER
2007

) ++9 E
uαbiến
D2007
2007
(8.1)++αu91 E * D(8.1)
2007 + u
=
α
+
α
DGDP
+
α
D
(

K
)
+
α
∆*2007
DGDP
=
α

7
6
8
9
8E
74D
1*
8D
t −1 viên của
1
α3D(ΔKt−1) + 1 ∑
α4ΔL
thành
thành
thì


t −1α D(E)
t −1 t −1trở
2 +
3+ 2
4 3
5
i i 11=
i 1i 1=
=i 1=
=
=
=
11 =ii 11

+(∑
D(α
REER
) +)α+8∑
D 2007
+REER
α 9 Ebiệt
*) D
2007
+ uđộng
(8.1)
6D
7 D (khác
8 Dtác
1
i 1=
i 1 =i 1
=
i 1 =
i 1
=i 1 =
khẩu tới TTKT giữa hai giai đoạn trước và
+ α9E*D2007 + u1
(8.1)
sau thì biến tương tác giữa D2007*E cũng
được xem xét đến. Do đó, hai biến D2007,
k
k k
k k
k

α 4 ∆L
t −1 t −1 ∑∑4 3
1 1∑∑
3 2

t −1
các nhóm
hàng/ GDP đến=
TTKT i 1 =
mô ihình
phân tích.
=i 1 =
1 i 1 =i 1
i 1=
k

k

k

k

k

k

k

k


=
+α(∑
+α∑
∆+α
D(αE2)DGDP
+α∑
αt ∑
HI
)4quả
+)K
+4 ∆αluận
+u
(8.1)

tD
1 +
−+

−∑
1(
3D
+1K+
( HI
Dα( REER
61D
7∑

∑và2007
5 D( E
7thảo


k

DGDP =
α1 + ∑DGDP
α 2 DGDP
+D
+HI
α23DGDP

∑(DGDP
αt −1α
αα)23+DGDP
L∆(D
KREER
+
+)+∑
∆*L
1+
−−1D
11 )
4D
E
αK
ααttD
(+(E
)∑
α(L∆
αDK(DtHI
REER

(
HI
)
+
α
D
(
REER
)
+
α
D
2007
+ )α+)9 E
*có
2007
++uα1thống
DGDP +=
α1 α
α
DGDP
+
α
D
(

K
)
+
α

2007
( REER
)9 E
* (8.1)
Dkê
2007
2007
* (8.1)
D 2007 + u1
(8.1)
+
+
+
+
+
+∑

+uα1 9 Eloại
6
7
8
β+65D(E2)
+
β
D(E3)
+
β
D(HI)
+
không

β
D(REER)
+
u

(8.2)
mỗi+mô
phải+đủ
đảm bảo sai
+ ∑ α95 D( E ) + ∑ α 6 D2( HI ) + ∑ α 7 D( REER ) + α 8 D 2007
α 9 Ehình
* D 2007
u1 lớn để
(8.1)
=i 1 =i 1 =i 1
số không có tự tương quan và không có
Phương trình 3: Tác động của mức đô tập
phương sai sai số thay đổi. Kết quả ước

β D(ΔK ) +

∑ β ΔL + ∑
∑β D(E1) +∑∑

(8

5
56
6 7
7 8


Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

7


Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

lượng các mô hình lần lượt từ phần mềm
Eviews 8.0 như sau:
Phương trình 1:
DGDPt = −0,001┬(-0,8696) +
0,2753┬(2,5501) DGDPt−2 − 0,026┬(3,100) D(ΔKt-7) − 0,034┬(-4,178) D(ΔKt-8)
+ 0,011┬(3,483) D(Et-8) − 0,063┬(2,296) D(HIt-8) + 0,019┬(2,4068)
D(REERt-1) + 0,020┬(2,533) D(REERt-2)
+ 0,024┬(3,033) D(REERt-3) +
0,019┬(2.185) D(REERt-4)+ û1
R2 = 0,689; p(ARCH) = 0,47; p(LM) =
0,75
Phương trình 2:
DGDPt = −0,001┬(-2,445) +
0,183┬(1,788) DGDPt−2 − 0,013┬(3,7391) D(ΔE1t-1) + 0,097┬(6,272)
D(ΔE2t-1) − 0,057┬(-3,314) D(E2t-6) −
0,081┬(-4,9844) D(E2t-7) + 0,122┬(2,617)
D(E3t-3) − 0,073┬(-2,9469) D(HIt-8)
+ 0,023┬(3,2431) D(REERt-1) +
0,035┬(4,735) D(REERt-3) + û2
R2 = 0,646; p(ARCH) = 0,54; p(LM) =
0,68
Phương trình 3:

N
N

M
M
NN
GDPtt ==
+∑
iGDPtt−−11 +
iEtt−−11++eett
GDP
aaa +
++ ∑αα
αiiGDP
ββiE
t =
t-1 + ∑
t
GDP
GDP

=
=
=
=
1
1
i
i
i

ii 11γ
ii 11λ
iGDP
i
tt−−11+ ∑
iiE
Ettt= b + ∑
λ
i
t-1
i t-1
t

=
=
=
ii 11=
ii 11

Trong đó, GDPt là tốc độ TTKT, Et đại
diện cho xuất khẩu được thay thế bằng các
biến thể hiện các đặc trưng của xuất khẩu.
Kết quả kiểm định Granger cho từng cặp
biến giữa tăng trưởng- xuất khẩu được cho
ở Bảng 3.
Kết quả thu được từ ước lượng hồi qui
đa biến và kiểm định nhân quả của từng
cặp biến cho thấy, các biến số quyết định
đến sự biến động của tăng trưởng hiện tại
bao gồm: TTKT, quy mô xuất khẩu, chất

trưởng lại làm cho xuất khẩu gia tăng…
Tiếp diễn quá trình này, thúc đẩy xuất
khẩu không chỉ tác động trong ngắn hạn
mà còn duy trì được ảnh hưởng tích cực
trong trung và dài hạn.
Giả thuyết H2: Tăng xuất khẩu hàng hoá
thô và sơ chế (E1) tác động tiêu cực đến
TTKT.
Từ phương trình 2, hệ số tác động biến
DE1 tại mức trễ 3 là -0,013 cho biết khi tỷ
trọng xuất khẩu hàng thô và sơ chế tăng
1 điểm phần trăm thì sau 3 quý TTKT sẽ
giảm 0,013 điểm phần trăm trong điều
kiện các nhân tố khác không đổi. Điều
này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn ở
Việt Nam, việc tăng cường xuất khẩu tài
nguyên thô kéo dài liên tục tạo ra một hệ
luỵ tác động xấu đến môi trường, xã hội
và lợi ích tức thời đem lại từ việc xuất
khẩu tài nguyên thô không thể bù đắp
được các ảnh hưởng tiêu cực trong dài
hạn, dẫn đến tác động tiêu cực của xuất

khẩu thô và sơ chế lên TFP. Khẳng định
này cho thấy, TTKT có thể tăng khi giảm
tỷ trọng xuất khẩu thô và sơ chế.
Giả thuyết H3: Tăng xuất khẩu hàng chế
biến thâm dụng lao động (E2) tác động
tiêu cực đến TTKT.
Từ kết quả ước lượng phương trình 2 cho

TTKT sẽ kéo theo xu hướng chuyển dịch
cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, tập trung xuất
khẩu hàng thâm dụng kỹ năng theo hướng

Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

9


Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

hiện đại, chú trọng nhiều đến kỹ năng
thâm dụng, hàm lượng trí tuệ cao... ảnh
hưởng này duy trì liên tục trong dài hạn.
Giả thuyết H5: Đa dạng hoá mặt hàng
xuất khẩu có tác động tích cực đến TTKT.
Kết quả ước lượng tác động từ phương
trình 1, 2 cho thấy, chuyên môn hoá tăng
lên (đa dạng hoá giảm đi) tác động tiêu
cực đến TTKT ở mức trễ là 8, còn khi
đa dạng hoá tăng thêm (chuyên môn hoá
giảm đi) ảnh hưởng tích cực đến TTKT ở
độ trễ 8. Trong dài hạn, cả 3 phương trình
1, 2, 3 đều phản ánh đa dạng hoá tăng
thêm (chuyên môn hoá giảm đi) tác động
tích cực đến TTKT. Đối chiếu với quy
luật thực nghiệm ở Viêt Nam, với lợi thế
so sánh tĩnh về tài nguyên, lao động giá
rẻ nên việc tiếp tục chuyên môn hoá bằng
việc khai thác quá mức tài nguyên không

diễn ra đúng nghĩa, chưa dịch chuyển tới
những công đoạn cao hơn trong chuỗi
giá trị toàn cầu, mà chỉ mới tập trung chủ
yếu vào gia công chế biến đòi hỏi đầu tư
lớn mà thặng dư đem về lại là thấp nhất
trong chuỗi giá trị. Kiểm định nhân quả từ
mô hình Var 5, 6 cũng cho thấy, mức độ
chuyên môn hoá có tác động đến nhân quả
tới TTKT nhưng chưa thấy bằng chứng
tác động ngược lại. Bởi vì, chính sách và
chiến lược xuất khẩu chưa thật sự phát huy
hiệu quả, mục tiêu đa dạng hoá chưa coi
trọng đúng mức.
Giả thuyết H8: Tỷ giá đa phương thực
REER có tác động tích cực đến TTKT.
Tất cả 4 phương trình đều cho thấy, biến
REER có ý nghĩa thống kê. Tức là, độ ổn
định của xuất khẩu có tác động tích cực
đến TTKT. Mô hình Var 9 cho thấy, giữa
mức độ cạnh tranh thương mại quốc tế của
hàng hóa xuất khẩu và TTKT có mối quan
hệ 2 chiều. Hơn nữa, cũng không tìm thấy
bất cứ bằng chứng nào về ảnh hưởng của
sự thay đổi cấu trúc kinh tế và sự thay đổi
về cấu trúc trong tác động của xuất khẩu
hàng hoá sau khi Việt Nam gia nhập WTO
tới TTKT.
5. Kết luận và gợi ý chính sách
Dựa vào kết quả phân tích trên, cũng như
bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, tác

sản thô và chỉ qua chế biến thô. Với nhóm
hàng có lợi thế và năng lực cạnh tranh
nhưng giá trị gia tăng còn thấp cần phải
nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị
gia tăng. Ưu tiên, cho những sản phẩm
xuất khẩu có ứng dụng khoa học công
nghệ tiên tiến. Đặc biệt, với nhóm hàng có
tiềm năng phát triển và thị trường thế giới
có nhu cầu, cần phát triển công nghiệp hỗ
trợ, nâng cao tỷ lệ giá trị trong nước, giảm
phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu.
Thứ ba, phát triển xuất khẩu theo mô hình
tăng trưởng bền vững và hợp lý giữa chiều
rộng và chiều sâu, giữa mặt lượng và mặt
chất, vừa mở rộng quy mô xuất khẩu, vừa
chú trọng nâng cao giá trị gia tăng và chất
lượng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, tự chủ
trong khâu nghiên cứu và phát triển thiết
kế mẫu mã, nguyên phụ liệu, phụ kiện…
hình thành mạng lưới liên kết sản xuất,

kinh doanh để xây dựng chuỗi giá trị của
từng ngành sản phẩm do doanh nghiệp
Việt Nam chi phối, từ nguồn hàng đến
mạng lưới phân phối trực tiếp trên các thị
trường xuất khẩu chính.
Thứ tư, cần tạo ra các đột phá làm thay
đổi chất lượng xuất khẩu, sử dụng tối ưu
các nguồn lực, hướng tới tăng trưởng xuất
khẩu và tăng trưởng bền vững. Cần có

giá trị gia tăng cao ■

Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

11


Phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Tài liệu tham khảo
1. Ahmad, J and Kwan (1991), “Causality between exports and economic growth: empirical evidence from Africa”,
Economics Letters, Vol 37, pp 243-248.
2. Awokuse, Titus O., “Trade Openness and Economic Growth: Is Growth Export-led or Import-led?” Applied
Economics 40(2008): 161-173.
3. Bahamni-Oskooee, M., H. Mohtadi, and G. Shabsign (1991), “Exports, Growth and Causality in LDCs: A
Reexamination”, Journal of Development Economics, 36, 405-415.
4. Balassa “Exports, Policy Choices and Economic Growth in Developing Countries after the 1973 Oil Shock”,
Journal of Development Economics 18, 1985, 23-35.
5. Emery R. (1967), “The relations of exports and economic growth” Kyklos. Vol. 20 (Issue 4), tr 470-486.
6. Erfani, G.R., (1999). Export and Economic Growth in Developing Countries, International Advances in Economic
Research, Vol. 5, Number 1. 112-123.
7. Hendrik Van Den Berg (1997), “The relationship between interation trade and economic growth in Mexico”, North
American Journal of Economics&Finance. Vol 8, pp 1-21.
8. Henriqueus, I and Sadorsky, P. (1996), “Export-led growth or growth-driven exports? The Canadian case”,
Canadian Journal of Economics, 96, pp. 540-555
9. Hiep.N.Q (2016), “Analysis of the relationship between exports and economic growth in Vietnam”, Thesis of
National Economic University, Vietnam.
10.Kravis, I.B (1970), “Trade as a handmaiden of growth: similarities between the nineteenthand twentieth
centruries” Economic Jounal, 80 (320), pp. 850-872.
11.Kavoussi, R.M., “Export Expansion and Economic Growth,” Journal of Development Economics, 14, 1984, 24150.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status