LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm tiểu luận đến nay, em đã nhận được
sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ của thầy cô và bạn bè xung quanh, để hoàn thành
tiểu luận này. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong
khoa Giáo dục Mầm non - Trường Đại học Sư phạm Huế và các bạn trong lớp.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Ths. Lê Thị Nhung đã tận tâm chỉ
bảo hướng dẫn em qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài
nghiên cứu. Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo đó, bài tiểu luận này của em
đã hoàn thành. Một lần nữa, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô.
Do thời gian và năng lực của em còn hạn chế. Do vậy, không tránh khỏi
những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Cô và các bạn học
để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 11 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Minh Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
thông qua các hoạt động học tập để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Kế
thừa thành quả của những người đi trước và xuất phát từ những lý do trên, tôi đã
quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt
động KPMTXQ cho trẻ 5 -6 tuổi ở trường mầm non”
5
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vùng biển và các đảo là yếu tố gắn bó máu thịt với đời sống của người dân
và mãi mãi quan trọng đối với dân tộc Việt Nam ta. Biển đảo đã tạo tiền đề và
điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như dầu
khí, thủy sản, hàng hải, du lịch. Bởi vậy, nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài
nước đã cho ra những công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tài
nguyên, môi trường, các hoạt động kinh tế hay vấn đề chủ quyền biển hải đảo
Việt Nam. Cụ thể như sau:
1.
Nguyễn Ngọc Sinh, Hứa Chiến Thắng (1998), “Hiện trạng môi trường biển và
đới bờ Việt Nam”.
2.
Ban Tuyên giáo Trung ương, Quân chủng Hải quân (2007), “Biển và hải đảo
Việt Nam”.
3.
Brice M.Claget (2011), “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung
quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”, NXB
chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
Như vậy, nghiên cứu vấn đề về biển đảo và giáo dục tích hợp đã được
nhiều nhà khoa học quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
cứu nội dung tích hợp giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt
động KPMTXQ ở trường Mầm non. Với đề tài này, tôi sẽ tập hợp nghiên cứu
các vấn đề để tích hợp giáo dục BVMT biển đảo để giúp các bé những hiểu biết
sơ đẳng về môi trường biển đảo
6
3.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục BVMT biển, đảo
cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non, tôi nghiên cứu đề tài để tìm ra các biện
pháp tốt nhất nhằm xây dựng, hình thành ý thức BVMT biển đảo, giáo dục biển
đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ như sau:
−
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đưa giáo dục biển đảo
vào trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo, trên cơ sở đó đề tài
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn hẹp về thời gian nên trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ tập trung
nghiên cứu việc tích hợp giáo dục BVMT biển đảo thông qua hoạt động
KPMTXQ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non.
7.
7.1.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát
hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận, những tài liệu có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu để xác định các biện pháp tích hợp giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ
5 - 6 tuổi qua hoạt động KPMTXQ
7.2.
7.2.1.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát:
7
Thông qua hoạt động, lời nói, nét mặt, cử chỉ, biểu hiện xúc cảm tình cảm
của trẻ, quan sát cách tổ tích hợp giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động KPMTXQ
7.2.2.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Lý luận về giáo dục biển đảo
1.1.1.
Khái quát về vùng biển Việt Nam.
a.
Vùng biển
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa
chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có.
Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam. Chỉ số chiều dài bờ
biển trên diện tích đất liền của nước ta là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển.
Trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một
nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước ta có diện
tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển nước ta
bao gồm: nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa. làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.
b. Các đảo
Nước ta có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Căn cứ vị trí chiến lược và các điều
kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
−
Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
biển khoảng 180.000 km2, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam
(Trung Quốc) 595 hải lý.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí hết sức quan trọng đối với
đất nước ta. Trước hết, hai quần đảo này nằm giữa Biển Đông, nơi có những
tuyến đường hàng hải quan trong nhất của thế giới đi qua. Ngoài ra, do vị trí
nằm trải dài theo hướng bờ biển Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa là những vị
trí tiền tiêu bảo vệ sường Đông của nước ta, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa
dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu khí.
1.1.2.
Giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi
Nội dung giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi
1.1.2.1.
Giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ Mầm Non cần đầy đủ, chính xác nhưng
phải đảm bảo tính vừa sức, phát huy tính tích cực trong nhận thức của trẻ vả lựa
chọn nội dung phù họp để tích hợp trong các hoạt động khác ở trường Mầm
Non. Giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ MN gồm các nội dung chính:
+
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển, đảo Việt Nam
+
Thực trạng môi trường vùng biển, đảo hiện nay
+
Ô nhiễm môi trường biển:
10
+
GV cần cung cấp cho trẻ thông tin về tình trạng ô nhiễm môi trưởng biển, đảo
hiện nay (tinh trạng ô nhiễm; nguyên nhân; hậu quảcủa ô nhiễm; G V cũng có
thể cung cấp cho trẻ những ví dụ đen hình);
+
Trẻ biết được những ngày Môi trường thế giới (5/6), ngày Đại dương thế giới
(8/6), Tuần lễ biển và hải đảo hàng năm và những hoạt động thiết thực để làm
giảm tình trạng ô nhiễm môi trường biển.
−
Suy giảm tài nguyên biển, đảo:
+
Trẻ hiểu được thế nào là suy giảm tài nguyên; Hiện trạng suy giảm tài nguyên
tại các vùng biển, đảo hiện nay nhưthế nào; Nguyên nhân gây nên tinh trạng này
+
Trẻ cũng biết được các nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lưọng do việc khai
thác chưa hợp lí, sử dụng công nghệ khai thác lạc hậu làm lãng phí tài nguyên
nguyên. Từđó hình thành ởtrẻ thói quen sửdụng tết kiệm vá có hiệu quả các
nguồn tái nguyên...
−
Các hoạt động BVMT biển đảo: Trẻ biết được rằng nếu môi trường bị ô nhiễm
chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các loài sinh vật, sự khai thác quá mức,
không hợp lí của con người cũng làm suy giảm các tài nguyên một cách nhanh
chóng. GV cần hướng dẫn trẻ việc BVMT thông qua những hành động rất nhỏ
nhưng thiết thực, cóý nghĩa và trẻ hoàn toàn có thể làm được như: có ý thức giữ
gìn cảnh quan, môi trường, tôn trọng các quy định khi tham quan, du lịch biển,
đảo, không sử dụng các loại hải sản quý hiếm, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài
nguyên, sử dụng các loại phế liệu làm đồ chơi, đổ dùng học tập... và quan trọng
11
nhất là việc hình thành cho trẻ thái độ đúng đắn đối với những hành vi tốt và
không tốt với môi trường.
Ý nghĩa của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ
1.1.2.2.
Việc giáo dục BVMT biển đảo cho trẻ sẽ góp phần giải quyết nhiệm vụ phát
triển trẻ một cách toàn diện các mặt trí tuệ, đạo đức, lao động, thẩm mỹ. Cụ thể:
−
Giáo dục biển đảo góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ:
Quá trình lĩnh hội tri thức về tự nhiên vô tính, động vật, thực vật, con người
là mối quan hệ đơn giản giữa các súc vật và hiện tượng tự nhiên phù hợp với đặc
điểm nhận thức của trẻ sẽ hoàn thiện các giác quan, tích lũy kinh nghiệm cảm
tính ở trẻ, hình thành các khái niệm đơn giản.
Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp của
con người tác động vào khách quan nhằm thõa mãn nhu cầu của mình
+
Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con
người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập
mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, nhằm tạo ra sản phẩm cả
về thế giới và cả về phía con người.
−
Hoạt động giáo dục ở trường Mầm Non: là một quá trình có mục đích, có
hướng, có kế hoạch dưới nhiều hình thức của nhà giáo dục nhằm dẫn dắt trẻ
tham gia một cách chủ động
12
−
Môi trường xung quanh là tất cả những gì bao quanh chúng ta bao gồm tất cả các
yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh trẻ, có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại và phát triển trẻ em. Có thể phân chia môi
trường xunh quanh thành: môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội.
1.2.2. Ý nghĩa của việc cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xung quanh
Hoạt động cho trẻ mầm non KPMTXQ nhằm giúp trẻ tiếp xúc với môi
trường qua đó để hình thành biểu tượng về thế giới xung quanh. Dạy trẻ khám
phá là giáo viên tổ chức hoạt động học theo nhóm nhằm phát huy năng lực giải
quyết vấn đề và tự học cho trẻ.
Khám phá thiên nhiên và xã hội, giúp trẻ có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, côi
mờ, có lòng nhân ái, tình yêu đối với người thân, bạn bè, kính trọng đối với
người lao động, biết trân trọng và giữ gìn sản phẩm lao động, yêu quý bảo vệ
thiên nhiên.
−
Môi trường xung quanh là phương tiện quan trọng để giáo dục thẩm mỹ, trẻ có
tình yêu với cái đẹp, biết tôn trọng, giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp
thông qua các hoạt động tạo ra sản phẩm.
−
Các hoạt động như dạo chơi, tham quan và tiếp xúc với môi trường xung quanh
phần rèn luyện sức khoẻ, tạo sức đề kháng cho cơ thể trước những thay đổi của
thiên nhiên và cuộc sống.
1.3. Giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1. Mục tiêu giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho
trẻ 5 – 6 tuổi
13
a.
Kiến thức
−
Cung cấp cho trẻ biểu tượng về môi trường biển đảo ,bao gồm:
−
Kĩ năng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các ngụồn tài nguyên của biển
−
Kĩ năng tự bảo vệ bản thân khi tiếp xúc với biển
−
Kĩ năng xã hội: Làm việc nhóm, kĩ năng chia sẻ, đồng cảm, quan tâm các bạn
nhỏ, nhũng người dân vùng biển, đảo, các chiến sĩ bảo vệ vùng biển, đảo tổ quốc
bằng các hành động thiết thực
c.
Thái độ
−
Hình thành ở trẻ cảm xúc, tình cảm tích cực với biển, đảo với các sự vật, hiện
tượng con người ớ biển, đảo; trẻ có tình yêu với biển, đảo quê hương
−
Trẻ quan tâm đến môi trường biển, có hứng thú với việc khám phácác sự vật,
hiện tượng, hoạt động nuôi trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến hải sản, BVMT
biển, đảo quê hương.
Cũng cố, khái quát hóa và mở rộng biểu tượng của trẻ về các loài thực vật vùng
biển đảo; vai trò của chúng đối với môi trường và với con người; ảnh hưởng của
môi trường ô nhiễm đến các loài thực vật biển...
−
Có kĩ năng phân loại các loài thực vật biển theo một hoặc nhiều dấu hiệu và đặt
tên cho nó.
−
Có mong muốn chăm sóc, bảo vệ thực vật; có một số kĩ năng chăm sóc thực vật
biển đảo; bày tỏ thái độ đúng với những hành vi của người khác đổi với thực vật
Động vật ở biển, đảo
−
Cũng cố, làm chính xác và mở rộng biểu tượng của trẻ về các loài động vật vùng
biển, đảo; vai trò của chúng dối với môi trường và vời con người; ảnh hưởng
của môi trường ô nhiễm đến đời sống của chúng.
−
Hình thành biểu tượng về các nhóm “động vật sống hoàn toàn dưới biển", “động
vật trên các đảo”, “động vật sống dưới biển nhưng có thời gian lên cạn”, “các
loài chim biển”.
Du lịch
−
Có biểu tượng khái quát về khu du lịch biển (có đảo, bãi biển, phong cảnh đẹp,
không khí trong lành, nước biển trong sạch...)
−
Có kĩ năng tự đảm bảo an toàn khi tắm biển, chơi các trò chơi ngoài biển...
−
Có thể nhận biết và chỉ được vị trí một số bải biển và các đảo du lịch nổi tiếng
thông qua hình ảnh tiêu biểu, biểu tượng của khu du lịch đó.
−
Có kĩ năng BVMT, cảnh quan biển, đảo.
−
Chủ động, tích cực tham gia các hoạt động khi đi du lịch biển
Giao thông hàng hải
Là khu du lịch để tham quan, nghỉ ngơi, tắm mát.
−
Biển đảo là nơi phát triển các ngành nghề khách nhau như: Nghề nuôi tôm, cua,
cá...; Nghề đánh bắt cá; Nghề làm muối từ nước biển ; Chế biến hải sản thành
nước mắm, tôm, cá đông lạnh.
16
−
Giao thông vận tải biển: đường giao thông trên biển giúp mọi người và tàu
thuyền đi lại, Cảng biển là nơi bốc dờ hàng hóa..
−
Biển đảo cung cấp nguồn năng lượng sạch như gió (giúp tàu, thuyền chạy trên
biển), các mỏ dầu...
Nội dung 3: Một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển đảo
−
Do rác thải: Rác thải của mọi người khi đi du lịch xả xuống biển, rác thải của
các khu công nghiệp, rác thải sinh hoạt của người dân không được xử lý đổ
thắng ra biển.
Không vứt rác thải xuống biển, đảo trong khi đi du lịch cũng như trong sinh hoạt
hàng ngày.
+
Không bẻ cành, phá cây trồng ven biển.
+
Tham gia thu gom rác thải.
1.3.3. Hình thức giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho
trẻ 5 – 6 tuổi
Việc chuyển tải các nội dung giáo dục BVMT biển đảo đến trẻ cần được
thực hiện dưới các hình thức đa dạng, phong phú khác nhau.
Khi thực hiện các hình thức tổ chức, giáo viên cần sử dụng một cách khéo
léo, có kĩ thuật và sử dụng một cách linh hoạt, đa dạng để có sự phù hợp với
từng nội dung khác nhau.
Đối với việc tích hợp nội dung giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động
KPMTXQ được thực hiện với các hình thức sau:
a.
Tích hợp qua hoạt động có chủ đích
17
Đối với trẻ mầm non thì hoạt động học chưa phải là hoạt động chủ đạo,
nhưng nó mang tính định hướng, chi phối các hoạt động khác. Trong các giờ tổ
chức hoạt động học, giáo viên sẽ tổ chức và hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho
trẻ, trẽ sẽ là người tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực và lĩnh
Góc xây dựng – lắp ghép: Trẻ sẽ xây dựng các quần đảo, hải đảo, bãi biển,…
−
Góc phân vai: Trẻ sẽ đóng vai các bác ngư dân đánh bắt cá, tôm,… Hóa thân
thành các cô, các bác nông dân làm muối, các chú bộ đội hải quân canh gác các
đảo (đảo Hoàng Sa, đảo Trường Sa),…
c.
Tích hợp qua hoạt động ngoài trời – hoạt động tham quan
Hoạt động ngoài trời là một hoạt động trẻ được trải nghiệm với không gian
ngoài trời, môi trường tự nhiên, nơi mà trẻ được trải nghiệm, quan sát các hoạt
đông, các mối quan hệ bên ngoài xã hội. Trẻ được đến tham quan tận nơi, được
trải nghiệm và quan sát sự vật hiện tượng một cách trực quan sinh động.
Ở hoạt động ngoài trời - tham quan, giáo viên cho trẻ quan sát các hiện
tượng tự nhiên ở sân trường; trưng bày các bức tranh về biển đảo, môi trường
18
biển đảo; xây dựng các mô hình về biển, các quần đảo, hải đảo để trẻ đi quan
sát. Ngoài ra giáo viên có thể tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi như “người
hướng dẫn viên du lịch”, “bác ngư dân tài ba”; “chú hải quân dũng cảm” và thực
hiện các hành vi BVMT biển đảo. Giáo viên có thể cho trẻ được đi tham quan
các bảo tàng về biển đảo. Trong thời gian tham quan, trẻ có thể quan sát và
tương tác với các sự vật, hiện tượng thiên nhiên vùng biển đảo, những thay đổi
vể môi trường sống trên biển, những hoạt động và con người vùng biển. Nhờ
tham quan, trẻ phát triển óc quan sát, hứng thú nghiên cứu, tìm hiểu biển, đảo,
học cách xem xét đối tượng và xác định những đặc điếm nối bật của nó. Cái đẹp
Giáo viên và phụ huynh có sự phối hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt và chặt
chẽ, tự nhiên để trẻ có thể hiểu biết được những kiến thức và hình thành được
cho mình những thái độ, thói quen, kỹ năng BVMT biển đảo một cách tích cực
và chủ động.
1.3.4
. Phương pháp giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho trẻ 5 –
6 tuổi
1.3.4.1. Phương pháp quan sát
−
Trẻ quan sát và khám phá bằng các giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác, vị
giác để khám phá. Quan sát và chăm sóc, bảo vệ thực vật, động vật, biển, đảo
−
Giáo viên cần hướng dẫn trẻ quan sát bằng nhiều giác quan khác nhau, làm phong
phú vốn kinh nghiệm của trẻ, giúp trẻ tiếp nhận các thông tin về thiên nhiên, môi
trường và các hoạt động của con người trong môi trường biển, đảo. Thu hút trẻ vào
việc quan sát những vấn đề gần gũi, thiết thực đối với đời sống thực:
+
Quan sát môi trường lớp học, sân trường, khu trường,… quan sát tranh ảnh,
phim, video,… về môi trường biển, đảo. Nhận xét về vệ sinh môi trường ở biển,
đảo từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục.
+
−
Giải thích, giảng giải, chỉ dẫn và hướng dẫn cho trẻ về các vấn đề về BVMT
biển đảo.
20
−
Sau buổi tham quan cần tổ chức cho trẻ thảo luận, các hoạt động như: vẽ, xé,
nặn, dán,… về những ấn tượng trẻ có được trong buổi tham quan.
1.3.4.3. Phương pháp trực quan, minh họa
Phương pháp trực quan minh họa là phương pháp trong đó giáo viên dùng
những đồ vật cụ thể hay các cử chỉ, hành động làm cho trẻ có thể hình dung và
hiểu được những gì mà giáo viên muốn truyền tải
Giáo viên có thể sử dụng phương pháp này với những nội dung như sau:
−
Xem những tranh ảnh, băng hình có nội dung về môi trường biển đảo và BVMT
biển đảo cho trẻ quan sát nhằm thu nhận những ấn tượng mới và chính xác hóa
những ấn tượng đã có về thiên nhiên, môi trường.
−
Quan sát những hành vi và cách ứng xử của trẻ và cả người lớn đối với việc
BVMT biển đảo
Đây là phương pháp rất hiệu quả trong giáo dục mầm non, dùng tranh ảnh,
1.3.5. Phương tiện giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ
cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Các loại phương tiện và thiết bị học tập nên có sẵn trong các hoạt động học
tập. Sự lựa chọn các phương tiện nên phù hợp với mục đích hoạt động. cần có
đủ phương tiện, cho tất cả các trẻ để trẻ có thể chơi và học được. Khi lựa chọn
nguồn phương tiện, giáo viên cần phải dự đoán được những nguy cơ tiềm tàn có
thể xảy ra và nên chuẩn bị điều kiện an toàn để đảm bảo tất cả mọi thứ đều an
toàn cho trẻ sử dụng.
−
Những thứ từ thiên nhiên như: các loại hạt, lá cây, đá, vỏ sò,… những phương
tiện khoa học được bày bán ở các cửa hàng như kính hiển vi, gương,…
−
Các vật liệu tái sinh như: chai, lọ, hộp giấy, giấy cattong,…
−
Đồ chơi như: bi ve, ô tô đồ chơi, bóng,…
−
Các tài liệu để nhìn như sách, tranh, ảnh, biểu đồ các loại cây, động vật, đồ chơi
và nơi chốn.
+
22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
ĐẢO QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
CHO TRẺ 5 -6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON PHÚ CÁT TP.HUẾ
2.1. Vài nét khái quát về trường MN Phú Cát – TP.Huế
Trường mầm non Phú Cát nằm trên đường Chi Lăng thuộc địa bàn phường
Phú Cát do phòng GD-ĐT TP Huế trực tiếp quản lý, Trường được thành lập năm
1980, quy mô ban đầu có 5 lớp, có tên là trường mẫu giáo Mầm Non 3. Đến năm
1993 có quyết định chính thức thành lập trường và lấy tên Mẫu giáo Phú Cát,
cho đến 2003 có quyết định sát nhập với nhà trẻ Phú Cát và lấy tên là trường
Mầm non Phú Cát.
Từ đó đến nay trường ổn định và phát triển không ngừng nâng cao chất
lượng về mọi mặt. Qua nhiều năm học, trường được phòng GD&ĐT Thành phố
Huế. Hội cha mẹ trẻ em đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất trường lớp, mua
sắm trang thiết bị phục vụ cho chương trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
Đến nay trường tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện dần các phòng chức năng đảm
bảo nhu cầu hoạt động của cô và cháu, trường được công nhận lại chuẩn quốc
gia mức độ 1 vào tháng 4 năm 2015.
−
Hiện nay trường có 11 nhóm lớp gồm 9 lớp MG và 2 nhóm NT với tổng số
cháu 380 cháu.
−
Tình hình đội ngũ: Tổng số CB-GV-NV: 40 người trong đó BGH: 3, GV: 25,
NV: 12.
Thuận lợi:
−
Lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể, cha mẹ các cháu
luôn quan tâm tới vấn đề giáo dục trẻ.
−
Đội ngũ CBGVNV nhiệt tình, đoàn kết, chuyên môn vững vàng, trình độ chuẩn
và trên chuẩn đạt cao, đủ điều kiện phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Khó khăn:
−
Trường được xây dựng lâu năm, cơ sở vật chất chưa thực sự đồng bộ và được
trang bị bằng hình thức cuốn chiếu.
−
Sĩ số trẻ/lớp quá số lượng so với quy định của Điều lệ trường mầm non.
−
Sự quan tâm của cha mẹ các cháu về GDMN còn hạn chế ở chỗ còn nặng nề về
vấn đề học chữ trước tuổi (đây là tình hình chung) nên gặp nhiều khó khăn trong
Bình thường
0
0
Ít quan trọng
0
0
Không quan trọng
0
0
24
Kết quả khảo sát trên bảng 2.1 có 8 ý kiến (chiếm tỉ lệ 57,1%) giáo viên
nhận thức việc giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho trẻ 5 – 6
tuổi là rất quan trọng; 6 ý kiến (chiếm 42,9%) giáo viên cho rằng là quan trọng.
Điều đó chứng tỏ rằng nhận thức của hầu hết các giáo viên về việc giáo dục
BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho trẻ 5 – 6 tuổi là rất quan trọng và
rất cần thiết.
2.2.2. Mục tiêu giáo dục BVMT biển đảo qua hoạt động KPMTXQ cho
trẻ 5 – 6 tuổi
Dưới đây là bảng khảo sát, đánh giá của giáo viên về mức độ quan
Bình
thường
Ít quan
trọng
Không
quan
trọng
SL TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
9
64,3%
0
0
0
0
8
57,2%
6
42,8
%
0
0
0
0
0
0