Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự việt nam - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

GIANG VĂN THỊNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC
GÂY RA THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

GIANG VĂN THỊNH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC
GÂY RA THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


1

MỞ ĐẦU

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

6

THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
KHÁC GÂY RA

1.1.

Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

6

1.2.

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra

9

1.3.

Những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra

1.4.1. Theo cổ luật Việt Nam

21

1.4.2. Theo các bộ dân luật

23

1.4.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành

26

1.5.

28

Pháp luật của một số nước về bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra

1.5.1. Pháp luật của Nhật Bản

28

1.5.2. Pháp luật của Thái Lan



37

2.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng khác của vợ chồng gây ra

41

2.2.

44

Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
5


công trình xây dựng khác gây ra khi công trình đang thi
công xây dựng
2.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ đầu tư

44

2.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên thi công

49

2.3.

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường


Phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra

70

3.2.

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra

75

KẾT LUẬN

79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

81

6


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự
BTTH : Bồi thường thiệt hại


định tại Điều 627, mục 3, chương XXI, phần thứ ba của BLDS năm 2005. Với
8


số lượng điều luật quá ít và chưa cụ thể dẫn đến nhiều vấn đề pháp lý (vấn đề
xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH; vấn đề xác định lỗi...) chưa được
làm sáng tỏ, trong thực tiễn áp dụng làm đã làm cho Tòa án, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết gặp không ít vướng mắc, bất cập. Vì vậy,
"Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra theo pháp luật dân sự Việt Nam" yêu cầu phải giải quyết được cả về mặt lý
luận lẫn thực tiễn.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài
"Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác
gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam" để nghiên cứu và thực hiện đề tài
luận văn có thể đáp ứng được yêu cầu về tính cấp thiết trong lý luận và trong
thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam" cũng đã
được một số công trình nghiên cứu đề cập như: Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, của Nguyễn Văn Cường và Chu Thị Hoa, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp; Lỗi và trách nhiệm hợp đồng, của Phùng Trung Tập; Cần sửa đổi, bổ
sung chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, của Trần Thị Huệ, Tạp chí
Luật học; Những vấn đề cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, Luận văn cao học, của Lê Mai Anh; Trách nhiệm dân sự liên đới
bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, của
Phạm Kim Anh; Bộ môn Luật dân sự, đề tài khoa học cấp trường: Trách
nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - vấn đề lý luận và thực tiễn; Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra, của ThS. Vũ Thị Hồng Yến; Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường

luận văn, đặc biệt trong nghiên cứu pháp luật và thực tiễn BTTH do công
trình xây dựng gây ra tại một số quốc gia.
Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ và đảm bảo tính
logíc về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
trong pháp luật dân sự Việt Nam vẫn rất cần thiết trong lĩnh vực khoa học

10


pháp lý dân sự và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ hơn về mặt lý luận và
thực tiễn pháp luật thực định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra.
Tìm hiểu quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, qua đó tìm ra những khiếm khuyết
về mặt lập pháp, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật về loại trách nhiệm này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam"
tập trung nghiên cứu một số quy định của BLDS, các văn bản hướng dẫn thi
hành và văn bản pháp luật liên quan đến loại trách nhiệm này một cách khái
quát, đi sâu vào trọng tâm nghiên cứu nội dung quy định tại Điều 627 BLDS
năm 2005.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về
nhà nước và pháp luật. Nội dung của luận văn được nêu, phân tích trên cơ sở
lý luận và nội dung các quy định pháp luật của nhà nước, các văn bản hướng

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA
1.1. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI
SẢN GÂY RA

Hiến pháp năm 1992 ghi nhận công dân có quyền bất khả xâm phạm
về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân
phẩm; Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công
dân. Tại BLDS năm 2005 cũng quy định quyền sở hữu của cá nhân, pháp
nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ; cá nhân có quyền
được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; danh dự, nhân phẩm,
uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Do đó, khi thực
hiện quyền, nghĩa vụ thì mỗi người phải thực hiện đúng và đầy đủ theo quy
định của pháp luật, phải tôn trọng các quy tắc của cộng đồng, của xã hội và
không được xâm phạm tới quyền, lợi ích của người khác. Khi người nào có
lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây ra
trong thực tế một thiệt hại đối với người khác thì chủ thể đó phải bị xử lý,
trừng trị nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật và gánh
chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm
pháp luật bằng việc khắc phục những hậu quả xấu về tài sản và tinh thần, khôi
phục lại tình trạng vốn có ban đầu cho người bị thiệt hại. Cơ sở pháp lý của
trách nhiệm này được quy định trong BLDS về chế định BTTH ngoài hợp
đồng. Như vậy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
dân sự phát sinh khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy
định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải BTTH

13


14


và trách nhiệm bồi thường bao giờ cũng là trách nhiệm tài sản, được áp dụng
đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả của hành vi vi phạm, tức là
tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà người thiệt hại
phải gánh chịu; bên vi phạm phải gánh chịu trực tiếp trước bên có quyền, lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước
hoặc người khác; luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi
phạm pháp luật … thì trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra còn có những đặc
điểm riêng sau đây:
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra được quy
định tại một số điều của BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành như trách
nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, do súc vật, do cây cối gây
ra, do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra...
- Về điều kiện phát sinh: về nguyên tắc chung thì trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: Phải có thiệt
hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có mối quan hệ nhân quả giữa
thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của
người gây thiệt hại. Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách
nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy
nhiên, điều kiện để xác định trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra chỉ cần các
điều kiện sau đây: Có thiệt hại xảy ra; có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại
xảy ra; tùy từng trường hợp, riêng yếu tố phải có lỗi của người gây thiệt hại
không phải là điều kiện bắt buộc.
- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm bồi thường: Đối với trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng do hành vi của con người gây ra thì ngoài người trực
tiếp có hành vi gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm

DO TÀI SẢN GÂY RA

- Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật
Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật là
một trong bốn căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH và là nguyên nhân phổ

16


biến gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho
các chủ thể khác trong xã hội và chủ yếu thể hiện dưới dạng hành động.
Ngoài sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra còn có những thiệt
hại xảy ra do sự tác động của các yếu tố trong bản thân sự vật, hiện tượng
khác gây ra. Việc tìm ra nguyên nhân xác định thiệt hại là do có chịu sự tác
động của con người hay do sự tác động của các yếu tố trong bản thân sự vật
có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm BTTH do con người gây ra
hay do tài sản gây ra. Trong trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, sự kiện gây
thiệt hại trái pháp luật của tài sản là những sự kiện xâm hại tới tài sản, sức
khỏe và tính mạng con người. Tuy nhiên, những sự kiện gây thiệt hại do xâm
phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù hợp với quy định của pháp
luật sẽ không bị coi là trái pháp luật nên không phát sinh trách nhiệm BTTH.
Tính trái pháp luật phải dựa trên nguyên tắc và cơ sở pháp lý do pháp luật quy
định. Nguyên tắc là tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể
khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị
xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của pháp luật hoặc
yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết. Như vậy, khi có sự xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác bị coi là trái pháp luật.
Về cơ sở pháp lý, BLDS quy định về BTTH do tài sản gây ra trong

định giá được bằng tiền, bao gồm những mất mát, hư hỏng, hủy hoại về tài
sản, nguồn thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, chi phí hợp lý cho việc
ngăn chặn, khắc phục thiệt hại theo quy định của pháp luật.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và
thiệt hại thực tế đã xảy ra
Dưới góc độ triết học, cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả là mối quan
hệ phổ biến, mối quan hệ biện chứng giữa các mặt trong một sự vật, hiện
tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau trong tự nhiên và xã hội.
Giữa nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau,

18


nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả
bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện. Để xác định chính
xác mối tương quan nhân quả ở một quan hệ cụ thể phải đặt nó trong không
gian xác định, nối tiếp nhau về mặt thời gian nhất định.
Dựa vào mối liên hệ này, trách nhiệm BTTH do tài sản chỉ được áp
dụng khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu từ sự kiện gây thiệt hại trái pháp
luật mà do sự tác động tự thân của tài sản gây ra và ngược lại sự kiện gây thiệt
hại trái pháp luật của tài sản là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra thiệt hại,
bởi trên thực tế nhiều trường hợp một thiệt hại xảy ra do nhiều nguyên nhân
gây ra, chẳng hạn một sự kiện cây xanh trên đường phố đỗ gãy gây ra thiệt hại
về người và tài sản cho người tham gia giao thông, nguyên nhân có thể là: do
đơn vị quản lý trực tiếp hệ thống cây xanh chưa chủ động thường xuyên kiểm
tra để phòng chống cây gãy, đổ và khắc phục kịp thời; do sự kiện bất khả
kháng; do các tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm quản lý, bảo vệ, chăm sóc
cây xanh trước mặt nhà nên chưa phát hiện và thông báo kịp thời cho cơ quan
quản lý xử lý cây nguy hiểm và ngăn chặn các hành vi gây ảnh hưởng tới sự
phát triển của cây xanh; do đơn vị được cấp phép mở đường, vỉa hè, hạ hè làm

gây ra để làm cơ sở phát sinh trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại là
chưa phù hợp. Vậy yếu tố có lỗi trong trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra
cần dựa trên tiêu chí nào hay không cần xem xét đến yếu tố lỗi.
Nguyên tắc chung, rất cơ bản trong việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu
là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công
nhận và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền
sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất
kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình. Quy định trên
một mặt đã hỗ trợ cho chủ sở hữu tài sản ngăn cản hay loại trừ tất cả những
người khác bằng cách xây dựng chế định quyền sở hữu tài sản để cho họ có
quyền tuyệt đối đối với tài sản của mình theo quy định của pháp luật, một mặt
thể hiện chủ sở hữu tài sản cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý, trách
nhiệm của chủ sở hữu. Trường hợp chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu
ủy quyền quản lý tài sản, người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua

20


giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật để tài sản gây ra thiệt hại
cho người khác, việc xác định yếu tố lỗi cần dựa trên sự quan tâm, chu đáo,
sự cẩn trọng như một người quản lý tận tâm của chủ thể trong khi thực hiện
nghĩa vụ của mình để ngăn cản thiệt hại xảy ra. Họ phải chịu trách nhiệm
BTTH do sự lơ là, bất cẩn, vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng trong quản lý tài sản
của mình gây ra.
Về hình thức lỗi của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng thì người gây
thiệt hại dù có lỗi cố ý hay có lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì
người đó cũng phải BTTH do hành vi có lỗi của mình gây ra. Việc xem xét
hình thức lỗi có ý nghĩa để Tòa án xem xét quyết định trong những trường
hợp khi có đủ các yếu tố luật định thì người gây thiệt hại ngoài hợp đồng có
thể được miễn giảm mức bồi thường và để có thể phân biệt trách nhiệm

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA

1.3.1. Khái niệm về nhà ở, công trình xây dựng
Để tồn tại và phát triển, con người cần có sự đáp ứng nhu cầu về vật
chất và tinh thần như nhu cầu mặc, nhu cầu có nhà ở, một chỗ núp để cơ thể
được ấm áp, được bảo vệ, nhu cầu hoạt động và nghỉ ngơi …
Nhà, nghĩa thông thường là chỗ trú ngụ, che mưa, che nắng của con
người... Nhà cửa là nhà ở nói chung, cụm từ chỉ chung những gì liên hệ đến
kiến trúc để ở. Nhà ở là công trình chuyên dụng dùng để ở với các bộ phận
chức năng của nó gồm phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, bếp, khu vệ sinh…
là nơi sinh hoạt gia đình, tái tạo sức lao động giản đơn, thông thường họ có
quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống và mang tính lâu dài.
Dựa vào tính chất sử dụng của nhà ở: Nhà ở dạng nhiều căn, nhà tầng
(chung cư), nhà ở dạng biệt thự, nhà ở liền kế (nhà ở chia lô, có sân vườn
hoặc không có sân vườn).
Khái niệm về nhà ở và công trình xây dựng không được đưa ra trong
BLDS Việt Nam hiện hành mà được xác định trong các văn bản pháp luật
khác. Theo đó, "Nhà ở" được hiểu theo Luật Nhà ở là công trình xây dựng với
mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.

22


"Công trình xây dựng" được hiểu theo Luật Xây dựng là sản phẩm
được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp
đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới
mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được
xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế, chính trị, xã

Mỗi loại công trình có qui mô càng lớn (chiều cao, diện tích, công suất...)
hoặc dựa theo tầm quan trọng của công trình (cấp quốc tế, quốc gia, tỉnh,
ngành, huyện, xã hoặc hậu quả về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái khi
công trình bị sự cố) thì khả năng gây mất an toàn đối với các công trình liền
kề, công trình xung quanh càng cao.
1.3.2. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra
Trong những năm gần đây cùng với tốc độ phát triển của các đô thị,
đặc biệt là ở các thành phố lớn việc triển khai đầu tư xây dựng các khu đô thị,
công trình nhà cao tầng, công trình ngầm, các khu nhà ở xã hội... phát triển
khá nhanh nhằm mục đích phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần ổn định chính trị, bảo đảm
an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại.
Song song với đó là hoạt động xây dựng nhà ở gia đình không ngừng gia
tăng. Nhà cửa, công trình xây dựng thường gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của
con người, là những vật do đặc tính cấu tạo của nó nên trong quá trình xây
dựng, khai thác, quản lý, sử dụng chúng chứa đựng những khả năng tiềm ẩn
khách quan, dễ xảy ra thiệt hại cho những người và tài sản xung quanh.
Để quản lý các công trình xây dựng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản quy phạm pháp luật để quản lý chất lượng công trình xây dựng, bảo đảm
chất lượng, an toàn công trình, tính mạng con người và tài sản; đến nay về cơ
bản hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng tương đối

24


đầy đủ và đồng bộ. Tuy nhiên, gần đây trong việc xây dựng công trình, đặc
biệt là xây dựng các tầng hầm của các nhà cao tầng, xây dựng các công trình
ngầm, xây dựng trên nền đất yếu, xây xen kẹt trong khu dân cư mặc dù chủ
công trình, người quản lý sử dụng chúng đã chú ý hơn, áp dụng các biện pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status