THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
Như phần trên đã trình bày, nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên ở mỗi trình độ, giai đoạn phát
triển đòi hỏi nguồn nhân lực những tiêu chuẩn khác nhau, do đó việc nâng cao
chất lượng là yêu cầu tất yếu, khách quan và cần được thực hiện thường
xuyên liên tục thông qua những chiến lược và giải pháp cụ thể. Để có thể đề
xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
cần phải đánh giá đúng thực trạng cũng như phân tích cụ thể các yếu tố
ảnh hưởng.
2.1. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
Theo Báo cáo phát triển con người năm 2002 vừa được UNDP công
bố, chỉ số phát triển con người của Việt Nam tiếp tục được cải thiện tăng từ
0,682 năm 2001 lên 0,688 trong năm nay. Như vậy Việt Nam vẫn tiếp tục duy
trì vị trí trung bình là 109 trên tổng số 173 nước trong bảng xếp hạng về phát
triển con người của UNDP. Báo cáo của UNDP khẳng định, Việt Nam đã đạt
được tiến bộ đáng kể trong việc phát triển con người và giảm tỷ lệ nghèo đói
từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986. Ông Jordan Ryan, Đại diện
thường trú của UNDP tại Việt Nam thì cho rằng: " Việt Nam đã sử dụng thu
nhập của mình cho mục tiêu phát triển con người tốt hơn nhiều nước có thu
nhập cao hơn Việt Nam". Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã liên
tục tăng từ 0,583 năm 1985 lên 0,649 năm 1995 và hiện nay là 0,688. Về chỉ
số nghèo đói, tại 89 nước có số liệu đầy đủ về số người không được hưởng
các dịch vụ cơ bản, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 43/89, cải thiện hai bậc so với
năm 2001.
1
Chỉ số HDI tăng lên là một dấu hiệu tốt cho thấy sự tiến bộ về phát
triển con người ở Việt Nam. Tuy nhiên để đánh giá đúng chất lượng nguồn
nhân lực hiện nay, phần dưới đây sẽ phân tích cụ thể tình trạng sức khỏe, trình
độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật.
Sự không đảm bảo về dinh dưỡng, điều kiện sống và những yếu kém
của hệ thống y tế là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, mắc
bệnh truyền nhiễm còn cao gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực cả
ở hiện tại lẫn tương lai.
Bảng 2-1. Chỉ số sức khỏe tổng quát của bà mẹ và trẻ em
Tỷ lệ thiếu
cân (%)
Tỷ lệ thiếu
chiều cao (%)
Tỷ lệ tử vong
( trên 1000 ca )
Trẻ sơ sinh 17 31
Trẻ dưới 5 tuổi 39 34 40
Bà mẹ sinh con (trên
100000 ca )
160
Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2001- UNDP
Mặc dù các chỉ số này được cải thiện nhiều so với những năm trước
đây, nhưng suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề nổi cộm ở Việt Nam. Trong khi các
chỉ số sức khỏe khác của Việt Nam tương đối tốt so với thu nhập bình quân
thì tỷ lệ suy dinh dưỡng là cao hơn các nước khác trong khu vực mặc dù do
tăng trưởng kinh tế nên thu nhập bình quân đầu người tăng đã phần nào cải
thiện tình trạng này. Miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên là
3
những vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất. Có tính toán cho rằng nếu thu
nhập bình quân đầu người ước tính năm 2010 là 1300 USD, tỷ lệ suy dinh
dưỡng toàn quốc sẽ vào khoảng 25 đến 30%. Tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng
này có thể thấp hơn nếu những vùng nghèo, xa xôi hiện nay có mức tăng
trưởng cao và độ bao phủ cũng như chất lượng của hệ thống y tế, chăm sóc
sức khỏe tốt hơn trong đó đã bao gồm cả vấn đề truyền thông giáo dục nâng
- Một số các bệnh khác liên quan đến lối sống, việc mở cửa nền kinh
tế với bên ngoài có xu hướng gia tăng cũng là vấn đề đáng quan tâm.
Trên đây là thực trạng sức khỏe nguồn nhân lực và mô hình bệnh tật,
phát triển sức khỏe hiện nay ở Việt Nam được xem xét dưới góc độ của những
biến đổi kinh tế và xã hội. Nhìn chung với những thành tựu đạt được nhờ quá
trình đổi mới kinh tế, môi trường kinh tế – xã hội, mức sống của người dân
thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, kết hợp với việc tăng chi tiêu ngân sách,
thực hiện tốt các chương trình y tế, dinh dưỡng quốc gia đã tác động tốt đến
tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận trong
dân số chưa được hưởng thụ đầy đủ các lợi ích này. Có sự chênh lệch đáng kể
về yếu tố quyết định sức khỏe và tình trạng sức khỏe giữa các vùng kinh tế –
sinh thái khác nhau thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu cho
thực phẩm, tỷ suất tử vong trẻ em, tỷ suất tử vong mẹ. Những thay đổi trong
chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến qui mô, chất lượng của hệ thống
y tế cũng như khả năng tiếp cận của người dân cũng là nguyên nhân quan
trọng. Trong phần phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng sẽ tập trung phân
tích những khía cạnh này.
5
2.1.2. Trình độ văn hóa
Số người biết chữ của lao động Việt Nam khá cao so với các nước có
cùng mức thu nhập. Đến năm 2001, tỷ lệ lao động biết chữ trong lực lượng
lao động đạt 96, 42% so với năm 1990 là 84,5%, sau 10 năm đã tăng 12%.
Bảng 2-2. Trình độ văn hoá của lực lượng lao động
6
Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam năm 2001,
Nxb Lao động – xã hội, H, 2002.
Các số liệu của những năm trước đây cho thấy xu hướng tốt là lao động
có trình độ văn hoá cấp II, III (THCS, THPT) tăng dần, số có trình độ văn hoá
7
TT
vc, nht l cỏc nc ụng khi h bc vo cụng nghip hoỏ, ó ph cp
trỡnh trung hc ph thụng. Vỡ vy, phỏt trin giỏo dc ph cp THCS
cho lao ng c nc l nhim v bc xỳc trong giai on ti.
c im trỡnh vn hoỏ ca ngun nhõn lc theo vựng
n nm 2001, lc lng lao ng ca c nc l 39.489.808 ngi, t
l phõn b theo 8 vựng nh sau: ng bng Sụng Hng 22,87%, ng bng
sụng Cu Long 21,33%, ụng Nam b 14,70%, Bc Trung b 12,33%, ụng
Bc 12,02%, Duyờn hi min Trung 8,47%, Tõy nguyờn 5,26%, Tõy Bc
2,98%. Xem xột s bin ng ca s liu trong nhng nm gn õy phn ỏnh
rừ rt tc tng dõn s cao ca mt s vựng v s di c c hc gia cỏc
vựng lónh th.
Bng 2-3 . Trỡnh vn hoỏ ca ngun nhõn lc theo vựng nm 2001
n v : 1.000 ngi
Vùng
Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ
Người Tỷ lệ
Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ Người Tỷ lệ
Cả nước 39489 100 1415
6394.3
100
11856
100
12912
100
6942
100
Đồng bằng
S.Hồng
9034 22.8 69.32
4.90
373.2
5.84
1078
9.09
2366
18.32
1008
14.52
Duyên hải miền
Trung
3348 8.47 87.28
6.17
672.33
10.51
1267
10.69
816.3
6.32
507.9
7.32
Tây Nguyên 2079 5.26 225.3
15.92
358.4
5.60
684.7
5.78
546.7
4.23
265.1
3.82
động chung. Số lao động chưa biết chữ ở nước ta hiện nay tập trung phần lớn
ở các vùng kinh tế giàu tiềm năng. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 21,33%
lao động cả nước nhưng số lao động chưa biết chữ chiếm 37,2%; Đông bắc
chiếm 12,02% lao động cả nước nhưng có tới 20,23% lao động chưa biết chữ,
Tây Nguyên chỉ có 5,26% lao động cả nước nhưng lại chiếm tới 15,92% lao
động chưa biết chữ cả nước. Xem xét sự biến động của số liệu những năm gần
đây tình hình còn nghiêm trọng hơn, tỷ lệ chưa biết chữ không những không
giảm mà có xu hướng tăng rõ rệt. Do vậy, trong thời gian tới phải có những
chính sách phù hợp, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo để nâng cao
trình độ văn hóa cho người dân. Giải quyết tốt vấn đề này mới có điều kiện
nâng cao năng suất, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững cho
các vùng kinh tế quan trọng nêu trên.
Trình độ văn hoá của lao động ở từng vùng
Cơ cấu trình độ văn hoá cả nước ta năm 2001 như sau: Chưa tốt nghiệp
cấp I chiếm 16,11%, tốt nghiệp cấp I chiếm 30,02%, tốt nghiệp cấp II chiếm
32,69% và tốt nghiệp cấp III chiếm 17,57%.
Đây là tỷ lệ trung bình cả nước, phân tích cơ cấu trên ở từng vùng cho
thấy có sự khác biệt rất lớn. Đồng bằng sông Hồng, Bắc trung bộ, Duyên hải
miền Trung và Đông Nam bộ là bốn vùng lực lượng lao động có trình độ văn
hoá cao hơn mức trung bình cả nước.
Bảng 2-4 . Cơ cấu trình độ văn hoá của NNL từng vùng năm 2001
9
Vïng
Ngêi % Ngêi %
Ngêi % Ngêi % Ngêi % Ngêi %
C¶ níc 39489808 100 1415524 3.58 38074284 96.42 11856780 30.02 12912892 32.70 6942042 17.58
§B s«ng Hång 9034364 100 69320 0.77 8965044 99.23 1603028 17.74 4719253 52.24 2146065 23.94
§«ng B¾c 4748544 100 286268 6.03 4462275 93.97 1282224 27.00 1803519 37.98 813204 18.22
T©y B¾c 1180179 100 184225 15.61 995955 84.39 337167 28.57 282630 23.95 107862 10.83
B¾c Tr bé 4869183 100 46481 0.95 4822702 99.05 1078437 22.15 2366691 48.61 1008829 20.92
có trình độ văn hoá cấp 2, 3 trở lên chỉ chiếm 50,28% và có sự chênh lệch lớn
về trình độ văn hoá của lao động giữa các vùng. Lao động có trình độ văn hoá
cao tập trung phần lớn ở thành thị, khu vực kinh tế phát triển. Đồng bằng sông
Cửu Long, Duyên hải miền Trung là những nơi đông dân cư, lao động tập
trung đông, có tiềm năng sản xuất lớn nhưng tỷ trọng lao động mù chữ cao,
trình độ văn hoá cấp 2 và 3 thấp. Đây chính là một trong những nguyên nhân
hạn chế khả năng tăng năng suất lao động và thu hút vốn đầu tư của vùng.
2.1.3. Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Bên cạnh trình độ văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực còn được phản
ánh bởi trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện ở số lượng, cấp bậc và cơ cấu
của lao động đã qua đào tạo. Do vậy phần dưới đây sẽ phân tích cụ thể những
khía cạnh này.
Phân bổ lao động chuyên môn kỹ thuật theo vùng và trong từng vùng
Đến năm 2001, toàn quốc có 6.733.012 lao động có CMKT gồm các
trình độ đào tạo từ sơ cấp đến sau đại học, so với tổng số lao động trong cả
nước chiếm 17,05%. Mặc dù tỷ trọng này tăng đều hàng năm nhưng tốc độ
tăng chậm nên số người lao động không có chuyên môn kỹ thuật vẫn ở mức
rất cao đến gần 83%. Sự phân bổ lao động có chuyên môn kỹ thuật cũng
không đồng đều giữa các vùng cũng là một hạn chế lớn. Đồng bằng sông
Hồng là cao nhất chiếm 29,77% số lao động chuyên môn kỹ thuật của cả
nước. Đứng thứ hai là Đông Nam bộ với 21,15%. Những vùng kinh tế giàu
tiềm năng như Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, Tây
nguyên tỷ lệ rất thấp không tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế của
vùng. Do vậy, trong thời gian tới cần có chính sách đầu tư để nâng cao trình
11
độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động để đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế, nâng cao mức sống của người dân.
Nếu xem xét tỷ trọng lao động chuyên môn kỹ thuật so với tổng số lao
động ở từng vùng tình trạng còn nghiêm trọng hơn. Đông Nam bộ là vùng
kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, GDP cao nhất trong cả nước và tỷ lệ lao
48,27% ( trong đó bao gồm cả không có bằng ), THCN 20,58%, ĐHCĐ
20,53% và trên đại học 0,37%. Số lao động này phân theo vùng như sau:
Sơ cấp và công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp tập trung ở hai
vùng có số lao động lớn là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ. Thấp
nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc. Tỷ lệ này cũng phù hợp với tỷ lệ phân bổ lao
động theo từng vùng. Thông thường vùng kinh tế phát triển, tập trung nhiều
lao động thì các tỷ lệ trên cũng khá cao.
Bảng 2-6. Phân bổ lao động chuyên môn kỹ thuật theo vùng
Vïng Tæng sè
Ngêi % Ngêi % Ngêi % Ngêi % Ngêi %
C¶ níc 6733012 502657 7.47 3249947 48.27 1385672 20.58 1381999 20.53 25224 0.37
§ång b»ng
s«ng Hång
2004101 137103 27.28 903622 27.8 393016 28.36 500443 36.21 10044 39.82
§«ng B¾c 736419 74693 14.86 216258 6.654 225998 16.31 133082 9.63 617 2.446
T©y B¾c 119937 11290 2.246 25028 0.77 43822 3.163 21294 1.541 0
B¾c Trung bé 686068 64468 12.83 254029 7.816 204274 14.74 108909 7.881 2012 7.977
Duyªn h¶i miÒn
Trung
544249 33554 6.675 297641 9.158 89560 6.463 109113 7.895 1946 7.715
T©y nguyªn 280206 22710 4.518
95640
2.943 74934 5.408 50222 3.634 272 1.078
§«ng Nam bé 1424157 109050 21.69
926806
28.52 191210 13.8 322290 23.32 9123 36.17
§ång b»ng
s«ng CLong
899273 23719 4.719
199186
miÒn Trung
3348286 33554 1.002 297641 8.889 89560 2.675 109113 3.259 1946 0.058
T©y nguyªn 2079003 22710 1.092 95640 4.6 74934 3.604 50222 2.416 272 0.013
§«ng Nam
bé
5805521 109050 1.878
926806
15.96 191210 3.294 322290 5.551 9123 0.157
§ång b»ng
s«ng CLong
8424727 49789 0.591
530923
6.302 162858 1.933 136646 1.622 1210 0.014
Th¹c sü vµ TiÕn
sü
S¬ cÊp CNKT THCN C§ vµ §H
Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam năm 2001,
Nxb Lao động – xã hội, H, 2002.
Những khu vực có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp là vùng núi phía
Bắc, Tây Nguyên. Thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu long, chiếm 21,33% lao
động cả nước nhưng so với tổng số lực lượng lao động của vùng trình độ sơ
cấp 0,59%, trung học chuyên nghiệp 1,93% và cao đẳng, đại học 1,62%%.
Phân tích về số lượng, cơ cấu của lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật hiện nay và so sánh với các số liệu trước đây có thể thấy:
Thứ nhất, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cả nước tuy có
tăng, nhưng tỷ lệ tăng không cao và chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số lao động.
Thứ hai, phân bổ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật không đồng
đều giữa các vùng. Chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam
bộ. Nhiều vùng giàu tiềm năng phát triển kinh tế có số lao động qua đào tạo
quá thấp, ví dụ như Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, Tây