Các công cụ tài chính chủ yếu lưu thông trên thị trường Việt Nam - Pdf 64

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOAN QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
MÔN : TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài :
CÁC CÔNG CỤ PHỔ BIẾN LƯU THÔNG
TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIÊT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Trí Thọ
Nhóm SV thực hiện: Trịnh Trung Cương (27)
Vũ Hồng Chuyên (24)
Đỗ huy Diện (39)
Hà nội, 6-2009
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 1
Mục lục
Lời nói đầu…………………………………………………………………..3
Chương I:các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ…………………4
1. Tín phiếu kho bạc………………………………………………….....4
2. Kỳ phiếu thương mại…………………………………………………7
3. Hợp đồng mua lại…………………………………………………….12
Chương II: Các công cụ lưu thông trên thị trường vốn…………………..15
I .Khái niệm………………………………………………………………..15
II.Các công cụ chủ yếu lưu thông tại Viện Nam hiện nay…………...….15
1. Trái phiếu……………………………………………………...……16
2. Cổ Phiếu…………….………………………….………..……………22
3. Các khoản vay thế chấp…………………………………………...…25
4. Các khoản vay thương mại và tiêu dùng………………………..….28
Kết
luận…………………………………………………………………...32
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 2
Lời nói đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, nhu cầu về vốn luôn là

hành để tài trợ cho những khoản chi tiêu tức thời, các thâm hụt ngắn hạn thường
xuyên của chính phủ hoặc tài trợ các khoản nợ đến hạn.
b. Kỳ hạn thanh toán
Tín phiếu kho bạc có kỳ hạn thanh toán khoảng 1 năm hoặc ngắn hơn (thông
thường có các kỳ hạn 3,6, 12 tháng).Tín phiếu kho bạc được bán theo định kỳ hàng
tuần (Regular weekly T-bills) thường được phát hàn với thời hạn là 28 ngày ( tương
đương 4 tuần hoặc 1 tháng), 91 ngày (tương đương 13 tuần hoặc 3 tháng), 182 ngày
( 26 tuần hoặc 6 tháng), 364 ngày (52 tuần hoặc 1 năm) thông qua các cuộc đấu giá
đơn giá được tổ chức hàng tuần.
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 4
c. Đặc điểm của tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc phát hành theo từng lô qua Ngân hàng Nhà nước được thực
hiện dưới hình thức đấu thầu (Ngân hàng nhà nước đứng ra làm cơ quan tổ chức bán
số tín phiếu ấy ra ngoài thông qua thị trường mở dưới hình thức đấu thầu) .Ngân hàng
Nhà nước là cơ quan đại lý cho Bộ Tài chính trong việc phát hành, thanh toán tín
phiếu khi đến hạn, tổ chức và quản lý đấu thầu tín phiếu Kho bạc.Việc tổ chức và
giám sát thị trường thứ cấp (mua bán lại tín phiếu sau khi đấu thầu) do Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thực hiện
Tín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngân hàng Nhà nước thông qua đấu thầu có
hình thức và đặc điểm như sau
• Tín phiếu kho bạc thuộc loại chứng khoán chiết khấu. Giống như trái phiếu
chiết khấu, đây là loại chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi trước khi
đáo hạn (interest prior to maturity) song lại được bán với giá chiết khấu tức là
giá thấp hơn mệnh giá (par value hay face value). Khi đáo hạn, nhà đầu tư được
nhận lại đủ mệnh giá vì vậy phần chênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá
mua chứng khoán chính là lãi của nhà đầu tư (lợi tức tính đến ngày đáo hạn
(Yield To Maturity).
Lợi tức chiết khấu được tính theo công thức:
Lợi tức chiết khấu (%) = (Mệnh giá – Giá bán)/Giá bán * (360/Số ngày đến khi
đáo hạn)* 100%

-Lãi xuất phát hành tín phiếu là lãi xuất trúng thầu cao nhất được áp dụng chung
cho tất cả các đối tượng trúng thầu.
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 6
Ngoài khối lượng tín phiếu Kho bạc được phát hành qua Ngân hàng Nhà
nước, Bộ Tài chính còn được tiếp tục phát hành một khối lượng nhất định tín
phiếu Kho bạc để bán lẻ trực tiếp cho dân chúng.
Các loại tín phiếu Kho bạc do hệ thống Kho bạc trực tiếp phát hành phải có
mẫu chứng chỉ khác với mẫu chứng chỉ tín phiếu Kho bạc phát hành qua Ngân
hàng Nhà nước thông qua đấu thầu. Mức lãi suất tín phiếu Kho bạc bán lẻ qua hệ
thống Kho bạc Nhà nước do Bộ Tài chính quy định sau khi có sự thống nhất của
Ngân hàng Nhà nước và phù hợp với mặt bằng lãi suất thị trường.
Như vậy ta có thể thấy được tín phiếu kho bạc không chỉ để bù đắp thiếu hụt
ngân sách nhà nước mà còn là một công cụ quan trọng để ngân hàng nhà nước điều
hành chính sách tiền tệ.
2 . Kỳ phiếu thương mại (Thương phiếu)
a. Khái niệm
Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất – kinh doanh giữa các doanh
nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là
hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu. Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp
thừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua
bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Đó chính là
quan hệ tín dụng thương mại.
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán
chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan
hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền,
hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu thương mại” hay
“thương phiếu”.
Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong
nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần dần biến đổi tính chất, từ
một giấy chứng nhận nợ thông thường đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng có

Những ích lợi của thương phiếu khi vận dụng vào thực tế:
Có thể kể ra một số lợi ích kinh tế chủ yếu của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công cụ lưu
thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ,
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi
của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa
giữa các doanh nghiệp.
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết
khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh
khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN để
khôi phục nguồn vốn của mình.
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện cho ngân
hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu thông.
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi
cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển
nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các
khoản cho vay của ngân hàng.
Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân
hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tuy nhiên, thương phiếu khi vận dụng vào thực tế cũng có những nhược điểm nhất
định như:
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 9
Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai
doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát
sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố.
Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá
không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương mại, khó có
thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường
hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu.

thương phiếu.
Giải pháp thứ ba, nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng
(CIC) dể có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh
nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu, đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng.
Giải pháp thứ tư, trong thời gian đầu Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các
doanh nghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng có tham gia vào quan hệ thương phiếu.
Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước phải gấp rút ban hành các thông tư hướng dẫn để
các ngân hàng có thể mạnh dạn thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu
như bảo lãnh, chiết khấu và cầm cố thương phiếu. ngân hàng Nhà nước cũng phải
nhanh chóng ban hành mẫu biểu cho thương phiếu, ban hành Luật về các công cụ
chuyển nhượng…
Trên đây chỉ là một số giải pháp cơ bản được đưa ra, tuy nhiên, nếu thực hiện được,
thì việc đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành
hiện thực
3. Hợp đồng mua lại
Tiểu luận tài chính - tiền tệ Page 11
a.. Khái niệm
Hợp đồng mua lại (repurchase agreement hay repo hay Sale and Repurchase
Agreement) cho phép người đi vay sử dụng một số chứng khoán tài chính như vật
thế chấp cho 1 khoản vay tiền mặt với 1 mức lãi suất nhất định. Trong một hợp
đồng mua lại, người đi vay thoả thuận sẽ bán cho người cho vay một số chứng
khoán và kèm theo điều khoản mua lại số chứng khoán trên sau 1 khoảng thời gian
nhất định(thường không quá 2 tuần) tại một mức giá cố định (cao hơn mức giá bán
đi) . Một hợp đồng mua lại tương đương với một sự chuyển giao tiền mặt cộng với
1 hợp đồng kỳ hạn (forward contract).Kết quả của việc chuyển giao này la việc
tiền mặt được chuyển đến người đi vay và việc chuyển chứng khoán hợp pháp đến
người cho vay trong khi hợp đồng kỳ hạn đảm bảo việc hoàn trả khoản vay tới
người cho vay và trả lại tái sản thế chấp cho người đi vay(là sốchứng khoán đã bán
đi). Điểm khác biệt giữa giá giao sau (forward price) và giá chi trả ngay lập tức
(spot price) là lãi suất của khoản vay, trong khi ngày chi trả của hợp đồng kỳ hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status