ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––––
VŨ THỊ KIỀU TRANG
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THẨM MĨ
CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU SỬ THI,
TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 81.401.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
THÁI NGUYÊN - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội dung
trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất
cứ một công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kiều Trang
i
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 6
NỘI DUNG ................................................................................................................... 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................... 7
1.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................................ 7
1.1.1. Năng lực cảm thụ thẩm mĩ ........................................................................... 7
1.1.2. Dạy đọc hiểu văn bản văn chương theo hướng phát triển năng lực cảm
thụ thẩm mĩ cho học sinh ..................................................................................... 12
1.1.3. Đặc điểm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số .............................................. 14
1.1.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 10 ......................................................... 22
1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 24
1.2.1. Nội dung dạy học các tác phẩm văn học sử thi, truyện thơ của dân tộc
thiểu số trong SGK Ngữ văn 10 tập 1 .................................................................. 24
1.2.2. Thực trạng việc dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS theo định
hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ ......................................................... 25
1.2.3. Đánh giá thực trạng .................................................................................... 31
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 32
iii
Chương 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THẨM MĨ
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU SỬ THI, TRUYỆN THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ .................................................................................................................. 33
2.1. Yêu cầu về dạy học đọc hiểu học sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong
SGK Ngữ văn 10 tập 1 theo định hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ
cho học sinh.............................................................................................................. 33
2.1.1. Bám sát chương trình đảm bảo mục tiêu dạy học ...................................... 33
2.1.2. Phát huy năng lực của học sinh đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ...... 35
2.1.3. Các hoạt động dạy học được thực hiện theo lý thuyết kiến tạo ................. 38
TÀI LỆU THAM KHẢO ........................................................................................102
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
TỪ, NGỮ VIẾT TẮT
TỪ, NGỮ ĐẦY ĐỦ
1
BGDĐT
Bộ giáo dục đào tạo
2
DTTS
Dân tộc thiểu số
3
GD-ĐT
Sách giáo khoa
9
SGV
Sách giáo viên
10
THPT
Trung học phổ thông
iv
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học theo yêu cầu
PTNL là một định hướng mới do bộ GD-ĐT đề ra trong công văn 791/HD-BGDĐT,
nhằm hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường THPT, PTNL
học sinh THPT. Mục tiêu là giúp HS được phát triển toàn diện các năng lực sẵn có và
cần có. Từ đó HS có khả năng vận dụng và giải quyết các tình huống trong thực tiễn.
Như vậy việc dạy học theo định hướng PTNL cho HS vừa mang tính thời sự đáp ứng
được yêu cầu cấp bách do bộ GD-ĐT đề ra vừa mang tính thực tiễn đáp ứng được nhu
cầu của người học, nhu cầu của cuộc sống. Phương pháp dạy học mới này sẽ khắc phục
được những hạn chế của lối dạy học truyền thống, mang lại những hiệu quả tích cực cho
việc học của HS, giúp các em có điều kiện phát triển tối đa năng lực của bản thân. Vì thế
việc dạy học nói chung và Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài Biện pháp phát triển năng lực
cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân
tộc thiểu số với một mong muốn tìm ra một hướng đi, một giải pháp dù là rất nhỏ để
việc dạy văn nói chung và Dạy học các tác phẩm văn học sử thi, truyện thơ DTTS nói
riêng đạt hiệu quả cao hơn, có ý nghĩa hơn với người học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu các tác phẩm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong
SGK Ngữ văn THPT
Các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS trong chương trình SGK Ngữ văn 10 tập 1 và
nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả.
Trong cuốn Giảng văn văn học Việt Nam, NXBGD (1997) tác giả Vũ Anh Tuấn
bàn về nhóm các tác phẩm văn học dân gian DTTS như Đẻ đất đẻ nước (sử thi
Mường) Bài ca Đăm Săn (Sử thi Ê Đê) Tiễn dặn người yêu (Truyện thơ Thái), Vượt
biển (truyện thơ Tày Nùng). Tác giả Vũ Anh Tuấn nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, tình
hình văn bản, giải thích bình giảng văn bản và giá trị tác phẩm. Nhưng vẫn theo cách
tiếp cận cũ là bình giảng.
Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập 1 của các tác giả Bùi Văn Nguyện,
Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị...đã viết về
truyện thơ DTTS. Ở giáo trình này các nhà nghiên cứu đề cập đến thuật ngữ truyện
thơ và xếp nó vào chương “Trường ca Dân tộc”. Ở tác phẩm Xống chụ xôn xao (Tiễn
dặn người yêu) đặt đồng đẳng với Đăm Săn gọi là trường ca. Phân tích nó là “Một
2
thảm kịch đầy nước mắt về tình yêu trong xã hội cũ”. Tác giả khẳng định là trường ca
nhưng cũng ít nhiều có dáng dấp một truyện thơ.
Trong bài Văn hóa nghệ thuật quân đội chuyên mục: Văn học nghệ thuật được
đăng ngày 18/10/2011 Khan sử thi Ê đê: Bức tranh toàn cảnh của tộc người Ê đê cổ
truyền trong bài báo tác giả đã đề cập đến nhân vật và thái độ thẩm mĩ của công
chương trình cũ theo đổi mới thì chưa đáp ứng được việc PTNL cho HS.
- Vấn đề ba: Tác giả đề cập dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại. Đó là
những phương diện dấu hiệu chung cho cách nhận diện tác phẩm tự sự và cụ thể là
thể loại sử thi chúng ta đang nghiên cứu. Tác giả đưa ra đặc trưng của sử thi và
phương pháp dạy học sử thi tuy nhiên đây là phương pháp cho thể loại sử thi nói
chung chưa phải là công trình nghiên cứu về sử thi DTTS theo định hướng phát triển
cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh.
Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học của Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan,
Nguyễn Văn Thàng, NXB - ĐHQG Hà Nội (2000), cũng đã nghiên cứu về các năng lực
của HS-THPT. Tuy nhiên việc PTNL HS THPT trong dạy học đọc hiểu Ngữ văn 10 thì
chưa được nêu cụ thể.
Kĩ năng đọc hiểu Văn của Nguyễn Thanh Hùng, NXBĐHSP đưa ra cách thức
dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại ở trung học. Trong đó ông đã nghiên
cứu mô hình dạy học đọc hiểu tác phẩm theo thể loại và đề cập đến hai thể loại sử thi
và thơ trữ tình. Phương pháp đề cập đến ở đây cho GV là hướng dẫn HS chiếm lĩnh
tác phẩm thông qua đọc hiểu, thông qua ngôn ngữ để nắm rõ hình tượng nhân vật.
Tuy nhiên Nguyễn Thanh Hùng chỉ cung cấp lý thuyết chung cho mỗi thể loại chưa
nghiên cứu đến phương pháp dạy học các tác phẩm văn học dân gian DTTS. Đây là
phương pháp dạy học cũ chưa phát huy năng lực riêng đặc biệt là năng lực cảm thụ
thẩm mĩ cho HS.
Trong Thiết kế dạy học Ngữ văn 10 của Hoàng Hữu Bội, NXBGD đã đưa ra
hướng dạy học cho GV đối với đoạn trích Chiến thắng Mtao- Mxây, Lời tiễn dặn
trích Tiễn dặn người yêu truyện thơ dân tộc Thái về định hướng dạy học và tiến trình
dạy học. Phương pháp dạy học ở đây theo sự hướng dẫn của GV thông qua phân tích
tác phẩm, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ để HS tiếp nhận tác phẩm. Ở đây GV sử
dụng câu hỏi liên quan đến tác phẩm HS đọc hiểu và trả lời. Phương pháp tuy đã phát
triển được việc tự học của HS nhưng chưa thể hiện hết được sự sáng tạo và PTNL
cảm thụ thẩm mĩ cho HS.
4
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm
mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai đoạn trích trong SGK Ngữ văn 10 tập 1
- Đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxây” trích sử thi Đăm Săn
- Đoạn trích “ Lời tiễn dặn” trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu
Khảo sát thực trạng và thực nghiệm ở trường THPT Nguyễn Khuyến - Bình Lục
- Hà Nam và THPT A Bình Lục - Bình Lục - Hà Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp để nghiên
cứu thực hiện đề tài đó là: Phương pháp hồi cứu tư liệu, phương pháp phân tích,
phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp khảo sát điều tra, phương pháp thống
kê-so sánh, phương pháp liên nghành ( văn hóa học, dân tộc học ...) phương pháp
thực nghiệm…
6. Cấu trúc đề tài
Đề tài này gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10
trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
6
- Năng lực xã hôi,bao gồm:
7
+ Năng lực giao tiếp
+ Năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ,bao gồm:
+ Năng lực tính toán
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC) [5,46]
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm,
thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất
định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên
cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của
con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập
luyện mà có. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn.
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê có nêu Năng lực là khả năng, điều kiện chủ
quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lý và
sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất
lượng cao. [35,32].
Hay trong cuốn Tài liệu chuyên văn, tập 2 của PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống: Năng lực
là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực một công việc cụ thể. Nó bao gồm sự vận
dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành. Nói một cách khái
quát, năng lực là một trạng thái hay một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể
thực hiện một công việc cụ thể. [42,12].
Như vậy, cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng
các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về
khái niệm này.
thuộc vào độ tuổi, kinh nghiệm sống, học vấn hay tâm trạng người đọc, người nghe
lúc tiếp xúc với tác phẩm văn chương. [27,180]
Do đó ta thấy rằng hiện tượng tiếp nhận văn học là một hoạt động phức tạp có
nhiều mức độ, quá trình tác động thẩm mĩ, người đọc tham gia vào mục đích sáng tạo
cùng nhà văn,qua ý đồ của nhà văn mở ra những hiểu biết mới về cuộc đời.
- Các năng lực tiếp nhận văn học
+ Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của các tác phẩm văn học: Năng lực
tái hiện hình tượng là người đọc sách đã đi từ vỏ ngôn ngữ của tác phẩm để nhận ra
thế giới nghệ thuật do tác giả dựng lên. Sự khác nhau trong hiệu quả đọc đó chính là
9
sự khác nhau trong năng lực tưởng tượng tái hiện. Đây cũng là dấu hiệu của năng
khiếu văn học.
+ Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học: Năng lực liên tưởng trong tiếp
nhận văn học là từ gợi ý của nhà văn thông qua những chi tiết, những hình ảnh, những
con người, những tâm trạng, người đọc liên tưởng đến hiện thực cuộc sống, với vốn sống
trực tiếp hoặc gián tiếp của mình bắt gặp được ý, lời tâm tình của nhà văn.
+ Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ
thuật của tác phẩm trong chỉnh thể của nó: Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học
chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc hiểu và rung động trong quá trình cảm nhận
những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật
(cuốn truyện, bài văn, bài thơ...) hay của một bộ phận văn bản (đoạn văn, đoạn thơ,..
thậm chí một từ ngữ, hình ảnh có giá trị trong câu văn, câu thơ).
+ Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận: Có ba loại: tự
sự, trữ tình, kịch và từng loại lại có các thể nhỏ. Người giáo viên dạy văn không chỉ
chiếm lĩnh mà còn giúp người khác chiếm lĩnh tác phẩm, và do đó việc xác định “chất
của loại” trong thể rất cần chính xác. Để khi đi vào từng tác phẩm, từng loại thể
người đọc cần có những năng lực nhận diện loại thể và khả năng vận dụng thi pháp
- Nhận thức được cảm xúc của bản thân: Đó là chúng ta nhận biết các xúc cảm
của mình từ đó điều khiển nó theo ý mình một cách có lý trí sẽ làm cho cuộc sống của
mình tốt hơn. Những người không biết cảm xúc của mình sẽ thường phó mặc tình
cảm của mình đó là cở sở của năng lực cảm xúc.
- Làm chủ các cảm xúc của bản thân: Đó là năng lực làm cho những cảm xúc
của mình thích nghi trong mọi hoàn cảnh, tuy nhiên còn phụ thuộc vào ý thức và lý trí
bản thân. Những người có năng lực làm chủ cảm xúc của bản thân có thể vượt qua
một cách tốt nhất và dễ dàng nhất những thất bại và những khó khăn bản thân gặp
trong cuộc sống. Tránh được sự buồn rầu, giận dữ thậm trí cả những hậu quả tiêu cực.
Người có năng lực này biết ứng xử, biết thể hiện tình cảm, cảm xúc của bản thân
trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định.
- Nhận biết các cảm xúc của người khác và những biểu hiện của cuộc sống từ
phương diện thẩm mĩ: Đó chính là sự đồng cảm, nhạy cảm trước những hoàn cảnh
của người khác xuất phát từ ý thức của bản thân đây chính là yếu tố cơ bản tạo nên
mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và những người xung quanh. Người đồng cảm là
người biết chia sẻ, hiểu được những mong muốn, nhu cầu của người khác, cũng như
sự nhạy cảm và sự tương giao giữa cảm xúc của cá nhân với những thay đổi của các
11
hình ảnh cuộc sống. Biết thể hiện tình cảm, thái độ phù hợp trước những biểu hiện
của cái đẹp, cái thiện cũng như cái ác, cái xấu trong cuộc sống.
- Làm chủ những liên hệ, những giá trị của con người và cuộc sống: Luôn biết
giữ quan hệ tốt với những người xung quanh, đó chính là biết chủ động điều khiển
các cảm xúc của mình. Những người biết làm cho mình có được tình cảm yêu mến
của người khác, biết điều khiển và định hướng một cách có hiệu quả những mối liên
hệ của mình với những người khác đều có thể làm chủ cảm xúc ở mức cao nhất. Đó
cũng là người biết nhận thức được những giá trị sống của phương diện thẩm mĩ, biết
hành động vì những gì tốt đẹp trong môi trường sống của mình. Đây chính là yếu tố
của văn bản.
- Thể hiện những hiểu biết về văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại
văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống
yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn
bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt năng lực viết sáng tạo. Thể
hiện khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng
vấn đề đặt ra.
Dạy đọc hiểu văn bản theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ
Ở môn Ngữ văn, năng lực thẩm mĩ gồm hai năng lực nối tiếp nhau trong quá
trình tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương và tiếng Việt đó là: năng lực khám
phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cái đẹp.
- Năng lực khám phá cái đẹp gồm năng lực phát triển cái đẹp và những rung
động thẩm mĩ.
- Còn năng lực thưởng thức cái đẹp là năng lực cảm thụ cái đẹp.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ được thể hiện ở những phương diện sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh,
hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người cuộc sống qua
ngôn ngữ nghệ thuật.
- Nhận ra được giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học, cái đẹp,
cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn.. từ đó nhận được những giá trị tư
tưởng cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm.
- Hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn học,
hình thành và nâng cao nhận thức và cảm xúc thẩm mĩ cá nhân, biết cảm nhận và
rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống, có những hành vi đẹp
13
chính của sử thi là các anh hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần,
cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tả khá tỉ mỉ,
14
đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị đi đứng đến những trận giao chiến với kẻ thù, những
chiến công lừng lẫy và đôi khi cả trong những nét sinh hoạt đời thường, điều đáng
chú ý là tất cả những cái này được miêu tả kỳ diệu khác thường. Sở dĩ như vậy là vì
sử thi ra đời vào thời điểm nối tiếp sau thần thoại, tức là từ thế giới của các vị thần
bắt đầu chuyển sang thế giới của con người, do đó cái nhìn đậm màu sắc thần kỳ nói
trên đối với các nhân vật trong sử thi là không tránh khỏi. Trong sử thi thì chủ yếu
miêu tả hành động của nhân vật hơn là rung động. Những câu chuyện kể, cốt
truyện thường được bổ sung thêm những mô tả có tính chất tĩnh tại và những cuộc
đối thoại trang trọng có tính nghi thức”. [14,376]
Trong quyển Lí luận văn học tác giả Phương Lựu giải thích về anh hùng ca (sử
thi) như sau: “Anh hùng ca (sử thi) là thể loại tự sự thể hiện tập trung cho loại chủ đề
lịch sử dân tộc, điều chủ yếu ở chỗ anh hùng ca là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện
quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc
và nhân dân” [29,380].
V.E.Guxep cho rằng: “đó là những truyện kể bằng lời ca hoặc nửa ca về sự đấu
tranh của thị tộc - bộ lạc - nhân dân cho sự tồn tại và nền độc lập của mình trong sự
xung đột với những lực lượng thù địch. Trung tâm của loại sử thi này là người anh
hùng mang phẩm chất ưu tú của tập thể và đại diện cho tập thể trong mọi hành động.
Sử thi anh hùng là những trang sử thi hùng tráng của quá khứ, nó giáo dục tình cảm
yêu nước của các thế hệ mới, chức năng sinh hoạt xã hội của những bài ca này thực
sự là ở chỗ đó” [45,168]
Sử thi (thuật ngữ châu Âu: épos, épic) là khái niệm được tiếp nhận từ các nền
học thuật chịu ảnh hưởng quan niệm văn học và mỹ học thuộc truyền thống châu Âu
dưới hai phạm vi rộng và hẹp: trong nghĩa rộng, thuật ngữ chỉ một thể loại tự sự, một
có mặt trong sử thi nhưng chúng không làm thành cái cơ sở mà chỉ là những yếu tố
phụ. [29,165].
Tiến sĩ Baumann (Đại học India - Hoa Kỳ) cũng đưa ra những tiêu chí cần phải
có trong nghệ thuật của sử thi:
+ “Có kết cấu thể thức thơ (có độ dài tương đối)” [32,165]
+ “Có tính truyện kể” [32,165]
+ “Có diễn xướng trong công chúng” [32,165].
Tác giả Phương Lựu viết “đặc điểm văn học nổi bật trong lời văn anh hùng ca là
lối trần thuật khoan thai, trầm tĩnh, tường tận mang sắc thái ngợi ca, phong cách
cường điệu cao cả. Văn anh hùng nói chung không bị câu thức bởi cảm giác thời
gian”. [29,387]
16
Võ Quang Nhơn đưa ra quan điểm “một trong những yếu tố góp phần tạo nên
giá trị độc đáo và trường cửu của các bản sử thi là yếu tố ngôn ngữ. Đó là thứ “ngôn
ngữ tình cảm” “ngôn ngữ giàu nhạc điệu” cách nói có vần điệu, tạo nên âm hưởng hài
hòa và có sự liên kết chặt chẽ với nhau giữa các vế trong một câu” [34,310].
Nhìn chung, những vấn đề lý thuyết liên quan đến khái niệm, những đặc điểm
về nội dung và nghệ thuật của thể loại sử thi đều được giới nghiên cứu mổ xẻ, làm rõ
ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng giữa các ý kiến vẫn chưa có sự thống nhất.
Sử thi Đăm Săn
* Quá trình sưu tầm sử thi Đăm Săn
Sử thi Đăm Săn là một tác phẩm có giá trị trong kho tàng văn học các DTTS
Việt Nam sử thi Đăm Săn được người Pháp biết đến khá sớm. Năm 1928, viên công
sứ Đắc Lắc là L.Sabatier đã sưu tầm được từ những người kể, sau đó dịch ra tiếng
Pháp và cho xuất bản ở Paris. Năm 1959 Đào Chí Tử dịch tác phẩm Đăm Săn do
L.Sabatier sưu tầm từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, đây được xem là một bước đột phá
giúp bạn đọc Việt Nam lần đầu tiên được biết tới tác phẩm nổi tiếng này. Năm 1988,
Vợ tỏ thái độ không bằng lòng chàng tức giận bỏ về nhà chị ruột. Sau đó hai nàng đi
tìm và gọi Đăm Săn về. Trong một lần đi bắt voi dữ cho hai chị em, chàng bị voi đưa
vào tận rừng và tình cờ chàng gặp hoa thiêng của vợ. Đăm Săn tìm mọi cách khèo
hoa rồi chàng mệt ngủ lịm trên cây. Hồn Đăm Săn gặp được Trời, Đăm Săn không
chịu lấy HơNhị nên bị Trời gõ đầu bảy lần. Tỉnh dậy gặp HơNhị hai người cùng trở
về, Đăm Săn trở lại nhà chị lấy khố áo và ngủ quên. Voi dữ đưa HơNhị vào rừng sâu
phải đổ chì nấu chảy vào tai chàng mới tỉnh dậy tìm vợ. Về đến nhà vợ chàng vẫn
mãi mê chơi đùa. Mtao Grự là một tù trưởng láng giềng được biết HơNhị là một cô
gái xinh đẹp hắn tìm cách bắt cóc HơNhị. Đăm Săn tìm đến chỗ ở của hắn, đánh nhau
và giết chết được Mtao Grự giành lại được vợ, chàng có thêm nhiều nô lệ và của cải,
Đăm Săn tổ chức ăn mừng và làm lễ tạ thần linh sau đó chàng kêu gọi dân làng bắt
tay vào việc nương rẫy. Biết Đăm Săn vắng nhà, một tù trưởng khác là Mtao Mxây
giả làm bạn Đăm Săn, vờ đến thăm và HơNhị lại bị bắt cóc một lần nữa. Đăm Săn
đánh một trận quyết liệt với hắn, nhờ sự giúp đỡ của Trời, Đăm Săn đã chiến thắng và
giành lại được vợ. Một hôm nọ, chàng gọi dân làng đi đốn cây, Đăm Săn tình cờ gặp
cây Smuk, cây Smuk chàng không biết đây là cây thiêng của HơNhị và HơBhị chàng
đốn cây quên cả thời gian. Hai chị em van xin nhưng Đăm Săn vẫn chặt, cây ngã và
HơNhị, HơBhị chết. Vợ chết Đăm Săn đau buồn khóc cả ngay lẫn đêm, sau đó chàng
tìm gặp Trời, định chặt đầu Trời nhưng Trời đã cứu HơNhị, HơBhị sống lại. Đăm Săn
quyết định đi bắt nữ thần Mặt Trời để về làm vợ bất chấp sự ngăn cản của vợ và hai
18