Trung Quốc - Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam– Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu - Pdf 64


Trang 1
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây
Bảng: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các năm 2006 – 7 tháng đầu 2010.

2006 2007 2008 2009 7T -2010
Kim ngạch (tỷ USD)
39,6 48 62,9 56,6 38,3
Tốc độ gia tăng kim ngạch
+ 22,1% + 20,5% + 29,5% -9,9% +17,5%
Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam qua các năm 2006 –7 tháng đầu năm 2010

Trang 2
Nhận xét:
Kim ngạch xuất khẩu của ta tăng qua các năm 2006-2008 với mức tăng trưởng
dương và lớn hơn 20%.
Đến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm khá mạnh – 5,9 tỷ USD về kim ngạch
(giảm 9.9%). Nguyên nhân của sự sụt giảm này có thể là ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế thế giới, gây biến động trên các thị trường xuất khẩu của ta.
Tuy nhiên, sang năm 2010, có thể thấy kim ngạch xuất khẩu đang có chiều hướng
gia tăng. 7 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của ta đạt 38,3 tỷ USD, tăng
17,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nửa đầu tháng 8 năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,59 tỷ USD, giảm 20%
tương ứng 647 triệu USD so với kỳ 2 tháng 7 năm 2010.
Nếu xét về thứ hạng xuất khẩu trong năm 2009 thì Việt Nam đứng thứ 27 trên
thế giới nếu không tính thương mại nội khối giữa các nước thành viên EU và ứng

Châu Đại Dương 8,8 8,0 8,0 6,7 - - - - 4,5
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Thương mại

Trang 4
Nhận xét
Có thể thấy, châu Á luôn là thị trường chủ lực của ta với tỷ trọng xuất khẩu dẫn đầu so
với các thị trường khác. Tuy nhiên, tỷ trong này đang có xu hướng giảm ở châu Á và
tăng ở châu Âu cho thấy mức độ ngày càng đa dạng hoá thị trường, ngày một mở rộng
xuất khẩu của ta.

 Châu Á – Thái Bình Dương
Riêng châu Á, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất lớn so với các châu lục khác
(44%), bởi đây là thị trường lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài ra, việc số liệu thống kê
về xuất khẩu vào châu Đại Dương được tính gộp vào châu Á đã làm tăng thêm tỷ trọng
của khu vực này. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong khu vực này
bao gồm: Nhật Bản, Trung Quốc, Asean.
 Châu Âu
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tại khu vực này vẫn chủ yếu tập trung vào khối
các nước EU, thị trường Liên Bang Nga, các nước SNG và Khu vực Thương mại tự
do Châu Âu (EFTA). Trang 5
 Châu Mỹ
Có thể thấy, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang châu Mỹ đứng thứ hai (22,97%) so
với các khu vực khác . Trong đó Hoa kỳ vẫn là đối tác lớn của ta trong khu vực này.
 Châu Phi & Tây Nam Á
Dự báo tình hình phát triển kinh tế tại khu vực này có thuận lợi ở một số thị trường và
không có đột biến trong chính sách thương mại, đòi hỏi ở thị trường này không quá

phải kể đến các mặt hàng giày dép và dệt may.
 Nhật Bản: cũng là một thị trường xuất khẩu nhiều mặt hàng có thế mạnh của
Việt Nam như: dầu thô, khoáng sản, dệt may, thuỷ sản,…Năm 2008, kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với 2007. Năm
2009, việc xuất khẩu vào thị trường này có nhiều thuận lợi hơn sau khi Hiệp định
Đối tác Kinh tế toàn diện Việt - Nhật (EPA) được ký kết ngày 25/12/2008. Các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực được Bộ định hướng đến thị trường Nhật Bản giai

Trang 7
đoạn 2009-2010 là: dệt may, giày dép, thuỷ sản, các mặt hàng cơ khí chế tạo, đồ
gỗ với trị giá dự kiến 18,3 tỷ USD.
 Các nước Asean: Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường
Asean trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt hơn 5,24 tỷ USD, tăng 18% so với cùng
kỳ của một năm trước đó và chiếm 16,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Thị trường này có cơ cấu hàng hoá có nhiều điểm giống với Việt Nam. Trong các
nhóm hàng xuất khẩu sang các nước Asean, đóng vai trò chủ lực là gạo và dầu
thô với trị giá xấp xỉ 37% tổng kim ngạch hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường này. Ngoài ra còn có các mặt hàng khác như: xăng dầu, máy móc thiết bị,
sắt thép, dệt may…
 Trung Quốc: là một nước có chung đường biên giới với Việt Nam và được đánh
giá là một thị trường xuất khẩu quan trọng, nhiều tiềm năng. Các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu sang thị trường này bao gồm: sản phẩm điện khí và điện; thiết bị
máy; hàng may; sợi dệt và hàng; dụng cụ gia đình…
Bảng: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số thị trường
qua các năm 2008-7 tháng đầu 2010.

2008 2009 6T-2010 7T-2010
Kim
ngạch
(tỷ

Quốc
4,34 +34,6% 4,9 +13% 2,9 +45% -0,9% Trang 8

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD) của Việt Nam sang một số thị trường qua
các năm 2008 – 6 tháng đầu năm 2010.

Nhận xét:
Trong năm 2009, trong khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước có
xu hướng sụt giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì kim ngạch
xuất khẩu sang 2 thị trường Trung Quốc và EU lại có mức tăng trưởng dương: EU tăng
6%, Trung Quốc tăng 13%.
Trong số các thị trường, Hoa Kỳ và EU vẫn là hai thị trường xuất khẩu hàng đầu
của ta với kim ngạch xuất khẩu luôn ở mức cao qua các năm. Trong đó, kim ngạch
xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng trưởng khá mạnh 7 tháng đầu năm 2010 (24%). Mức tăng
trưởng kim ngạch xuất khẩu sang Nhật cũng khá cao – 25,44%, các nước Asean –
15%, EU – chỉ có 8,7%. Riêng Trung Quốc thì kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm
lại có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2009 – giảm 0,9%.

Trang 9

Biểu đồ: Tốc độ tăng giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số thị
trường qua các năm 2008 – 7 tháng đầu 2010.
1.3. Trung Quốc – thị trường xuất khẩu tiềm năng
Trong số các đối tác thương mại của ta, có thể nói Trung Quốc là một thị trường
có tiềm năng khá lớn. Sáu tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của ta sang thị
trường này là 2,9 tỷ USD. Dự báo trong thời gian sắp tới, sản lượng xuất khẩu của ta
sang thị trường này sẽ tiếp tục tăng cao.

năm 2007 là 65,3%; năm 2008 là 61,6%; năm 2009 lên đến gần 90%. Trang 11
Biểu đồ: Tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng kim ngạch nhập siêu cả nước
giai đoạn 2007 – 2009.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên đến gần 6 tỷ
USD,trong khi lượng nhập siêu cả nước là khoảng 6,7 tỷ USD.
Vì vậy, Việt Nam cần phải có những biện pháp gia tăng xuất khẩu sang thị trường
này nhằm góp phần hạn chế đươc nhập siêu.
(USD)
6,600
GDP theo cấu trúc
ngành
Nông nghiệp 10.9 % Công nghiệp 48.6 % Dịch vụ 40.5
%
Lực lượng lao động
(triệu người)
812.70
Lực lượng lao động theo
lĩnh vực nghề nghiệp
Nông nghiệp 39.5 % Công nghiệp 27.2 % Dịch vụ 33.2
%
Tỉ lệ thất nghiệp (%)
4.3

2.1.1. Kinh tế
Có thể nói, nền kinh tế Trung Quốc là kinh tế thị trường mang đậm màu sắc Xã
hội chủ nghĩa. Cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải tổ nền

Trang 13
kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết sang nền kinh tế hướng
thị trường hơn nhưng vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng. Theo mục tiêu này,
chính quyền đã chuyển sang cơ chế khoán trong nông nghiệp thay cho hình thức hợp
tác xã, tăng quyền hành đối với cán bộ địa phương và lãnh đạo các nhà máy trong
công nghiệp, cho phép hoạt động đối với một loạt các doanh nghiệp cỡ nhỏ trong các
ngành dịch vụ và sản xuất nhỏ, và mở cửa nền kinh tế cho ngoại thương và đầu tư
nước ngoài. Các chính sách kiểm soát giá cả cũng được nới lỏng. Kết quả là nền kinh
tế Trung Quốc đã chuyển từ một nền kinh tế mệnh lệnh sang hình thức kinh tế hỗn
hợp, dung hòa cả khuynh hướng tư sản lẫn vô sản.

Các con số tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc cho thấy nước này đang thay
đổi toàn diện, từ sức mạnh quân sự tới sức mạnh tài chính trên toàn cầu. Trung Quốc
vốn đã là nhà nước xuất khẩu lớn nhất, nhà sản xuất thép lớn nhất và ảnh hưởng của
Trung Quốc trên toàn cầu ngày càng tăng mạnh.
Nền kinh tế của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ lớn hơn Nhật Bản vào cuối
năm 2010 vì tốc độ tăng trưởng khác xa nhau. Trong khi Trung Quốc tăng trưởng tới
10%/năm thì theo dự đoán, kinh tế Nhật Bản chỉ tăng ở mức từ 2-3%/năm.

Trang 15
2.1.2. Thương mại Theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, trong 7 tháng đầu năm
2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 1.617,06 tỷ USD, tăng
40,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 850,49 tỷ USD, tăng 35,6%;
nhập khẩu đạt 766,56 tỷ USD, tăng 47,2%; thặng dư thương mại đạt 83,93 tỷ USD,
giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2009.
Xét về quan hệ song phương giữa Trung Quốc với một số bạn hàng chủ yếu 7
tháng đầu năm 2010. EU là bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc với tổng kim ngạch
thương mại song phương đạt 263,16 tỷ USD, tăng 36,6%. Mỹ là bạn hàng lớn thứ 2

Trang 16
của Trung Quốc với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 207,23 tỷ USD, tăng
30,6%. Nhật Bản là bạn hàng lớn thứ 3 của Trung Quốc với tổng kim ngạch mậu dịch
song phương đạt 161,71 tỷ USD, tăng 34,9%. Đứng thứ 4 là ASEAN, với tổng kim
ngạch thương mại song phương đạt 161 tỷ USD, tăng 49,6%.


Sợi dệt & hàng dệt 42,84 32,8%
Dụng cụ gia đình 18,54 34,9%
Giày dép 19,42 23,6%
Nhựa 10,18 30,2%
Valy, túi sách 9,13 30,75%
Đồ chơi 4,75 30%
Nguồn: Tổng cục Hải quan Trung Quốc
Nhận xét
Trong các mặt hàng nhập khẩu, đại đa số lượng nhập khẩu các mặt hàng có số
lượng lớn đều tăng với mức độ khác nhau, giá nhập khẩu bình quân đều tăng trở lại
với tốc độ nhanh. Qua số liệu thống kê của hải quan cho thấy, trong 7 tháng đầu năm
2010, nhập khẩu quặng sắt đạt 360 triệu tấn, tăng 1,5%, giá nhập khẩu bình quân là
116USD/tấn, tăng 53,3%; nhập khẩu đậu tương đạt 30,76 triệu tấn, tăng 16,2%, giá
nhập khẩu bình quân là 439USD/tấn, tăng 4%. Ngoài ra, nhập khẩu sản phẩm cơ điện
đạt 360,28 tỷ USD, tăng 42,8%, trong đó nhập khẩu ô tô đạt 459.000 chiếc, tăng 1,5
lần.

Trang 18

Biểu đồ: Tốc độ gia tăng sản lượng nhập khẩu một số mặt hàng
7 tháng đầu năm 2010 của Trung Quốc.
2.1.3. Luật pháp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu
Ngày nay, Trung Quốc đã thiết lập được hệ thống luật pháp về ngoại thương khá
hoàn chỉnh, trong đó có việc quản lý những nhà xuất nhập khẩu và hàng hoá xuất nhập
khẩu, ngoại hối, hải quan, kiểm định hàng hoá, kiểm dịch động thực vật, bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ và trọng tài kinh tế thương mại liên quan đến lợi ích và doanh thu nước
ngoài.
Bao gồm:
 Luật ngoại thương
Luật Ngoại thương, bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1994 là luật cơ bản để tiêu chuẩn hoá

Quy định về kiểm soát ngoại hối, Thông báo của Ngân hàng nhà nước
Trung Quốc về việc cải tổ hệ thống kiểm soát ngoại hối, Các điều khoản về việc
thanh toán bằng ngoại hối.
 Luật về hải quan và thuế quan
Luật Hải quan, Quy định Hải quan, Quy định liên quan đến bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ, Quy định kiểm hoá hải quan, Quy định về thuế suất xuất nhập khẩu.

Trang 20
 Luật thương mại và dân sự liên quan đến quyền lợi nước ngoài
Những nguyên tắc cơ bản của Bộ Luật dân sự , Luật về Hợp đồng kinh tế có
yếu tố nước ngoài.
 Các hiệp định và tập quán kinh doanh thông thường trong thương mại quốc tế
Ngày nay, chính phủ Trung Quốc đã ký kết hàng loạt hiệp định thương mại
song phương và hiệp ước đối với chính phủ của hơn 100 nước (khu vực) và ký
kết gần 100 hiệp ước thương mại và kinh tế quốc tế. Chính phủ Trung Quốc đã
tham gia nhiều công ước quốc tế về thương mại và thừa nhận nhiều tập quán
thương mại quốc tế , luật lệ và quy định quốc tế như Nguyên tắc chung về những
thuật ngữ sử dụng trong thương mại quốc tế, Quy định Warsaw-Oxford , năm
1932, Quy định thống nhất về vận đơn sử dụng trong vận tải đa phương thức,
Quy định thống nhất về L/C với điều khoản Bồi hoàn và Quy tắc thống nhất về
cách áp dụng phương thức nhờ thu.
2.2. Thế mạnh của nền kinh tế Trung Quốc
Từ đầu thập niên 1980 đến nay, kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình gần
10%. Kết quả là hiện nay nước này vươn lên vị trí thứ hai thế giới về GDP và mậu
dịch và có lượng dự trữ ngoại tệ nhiều nhất thế giới.
 Quá trình công nghiệp hóa tiến nhanh trên quy mô lớn. Nhiều ngành trong
công nghiệp chế biến, chế tác phát triển trên dưới 20% mỗi năm như đồ điện gia dụng,
xe hơi, máy tính cá nhân và nhiều loại máy móc khác. Trong nhiều mặt hàng thuộc các
ngành này, Trung Quốc chiếm tới trên dưới 40% sản lượng thế giới. Vì vậy mà Trung
Quốc được xem là công xưởng của thế giới.

loại máy móc chiếm khoảng 40%.
 Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) tập
trung trong các ngành chế tạo các loại máy móc từ trung cấp (như đồ điện gia dụng)
đến cao cấp (như máy tính, máy chụp hình kỹ thuật số) làm thành các cụm công
nghiệp ở các tỉnh ven biển, nhất là ở tam giác sông Châu Giang tỉnh Quảng Đông. Qua
đó, Trung Quốc tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa xuất khẩu vừa
nhập khẩu các mặt hàng thuộc nội bộ các ngành này. Hiện nay có hơn 50% kim ngạch
xuất và nhập khẩu của Trung Quốc do MNCs thực hiện, nhất là MNCs có gốc Nhật,
Hàn Quốc và Đài Loan.
Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp trên quy mô lớn và triển
khai hầu như toàn diện trong các lãnh vực, từ sản phẩm có hàm lượng công nghệ

Trang 22
thấp đến các sản phẩm có hàm lượng kỹ năng cao, công nghệ cao; đồng thời Trung
Quốc triển khai phân công hàng ngang (horizontal trade), phân công nội ngành (intra-
industry trade) với các nước khác trong các mặt hàng chế tạo các loại máy móc, là
những lãnh vực chủ đạo trong mậu dịch quốc tế hiện nay
2.3. Năng lực cạnh tranh
Vào ngày 9 tháng 9 năm 2010, tại Bắc Kinh, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF)
đã công bố “Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2010 – 2011”. Theo đó, Trung Quốc
đã lên hai bậc – đứng thứ 27, trong khi Mỹ tụt xuống vị trí thứ tư, bị Thụy Điển và
Singapore “qua mặt”.

Bảng: Xếp hạng về chỉ số GCI thể hiện năng lực cạnh tranh các nước 2010-2011 Trang 23
Cũng theo báo cáo này, Trung Quốc là nước duy nhất tăng thứ hạng trong khối
BRIC
1

đối với kinh tế toàn cầu. BRIC hiện chiếm 40% dân số và 25% GDP toàn cầu. Đến năm 2050, BRIC sẽ chiếm 4
trong 6 nền kinh tế lớn nhất thế giới (thứ tự: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Brazil và Nga).

Trang 24
Giới trẻ Trung Quốc cho thấy nhu cầu tiêu thụ cao với khả năng mua sắm mọi thứ, từ
những chiếc đồng hồ đắt tiền đến những chiếc xe hơi nhập khẩu. Những thương hiệu
với khả năng đạt được và duy trì thị phần ưu tiên của lớp khách hàng hạng sang này sẽ
có thể duy trì được hình ảnh toàn cầu của mình và có sức cạnh tranh ngang tầm với
những thương hiệu cao cấp khác tại Trung Quốc.
Sức tăng tiêu dùng mang tính cấu trúc ở Trung Quốc sẽ tạo ra thay đổi đối với thị
trường tiêu thụ hàng hóa ở nước này cũng như toàn thế giới. Rất có thể Trung Quốc
sẽ vượt Mỹ để trở thành thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới vào năm 2020.
Các nhân tố cơ bản cho sự tăng trưởng tiêu thụ trong nước ở Trung Quốc chính là
tiến trình đô thị hóa, thu nhập của nông dân gia tăng cùng với thế hệ trẻ giàu có hơn và
có xu thế tiêu tiền nhiều hơn.
2.4.1.2. Thị hiếu
Người tiêu dùng Trung Quốc ưa chuộng sản phẩm công nghệ cao nhập ngoại.
Mặc dù người tiêu dùng Trung Quốc rất coi trọng hàng sản xuất trong nước, hàng
nhập khẩu vẫn được ưa thích hơn và họ vẫn chọn mua hàng nhập khẩu nếu có khả
năng, nhất là những mặt hàng công nghệ cao.
Những sản phẩm nước ngoài được người Trung Quốc ưa chuộng và sử dụng
nhiều nhất là xe hơi, máy vi tính, tivi và điện thoại tế bào. 46% người tiêu dùng dự
định mua Tivi Nhật, còn 25,5% nghĩ tới máy vi tính và tivi khi đề cập tới sản phẩm
Mỹ. Người tiêu dùng nghĩ tới xe hơi và điện thoại tế bào khi nói về sản phẩm công
nghệ cao Hàn Quốc và châu Âu. Về sản phẩm Mỹ, nhãn hiệu sản phẩm được ưa
chuộng nhất là IBM (9,4%), xếp đến là Motorola Inc (8,1%). Về sản phẩm Nhật,
Panasonic được xếp đầu bảng (26,5%), tiếp đến là Sony (23,1%). Sản phẩm châu Âu
được sử dụng nhiều nhất là Philips Electronics Co, (8,8%) và Mercedes - Benz (8,1%).
Các sản phẩm của Samsung (37,7%) và Daewoo International (16,6%) là những nhãn
hiệu nổi tiếng của Hàn Quốc. Người tiêu dùng Trung Quốc nhận thấy rằng sản phẩm

% Nhãn hiệu (%)
Ô tô 21,2 Daewoo (72,3), Samsung (16,0)
Điện thoại di động 16,7 Samsung (95,8)
Tivi 11,8 Samsung (64,7), LG (23,5)

Trích đoạn Công nghệ thông tin Khoáng sản Than đá Hạn ngạch và giấy phép xuất khẩu Tiêu chuẩn kiểm tra Quy chế về quản lý an toàn thực phẩm xuất nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status