I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết để hạn chế tai nạn thương tích, đảm bảo an toàn tính
mạng cho trẻ ở cơ sở giáo dục mầm non, học sinh, sinh viên và cán bộ công chức
ngành giáo dục và đào tạo, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu: Các cơ sở
giáo dục tăng cường công tác phòng, chống tai nạn thương tích để thực hiện
nghiêm túc, có hiệu quả “Chính sách quốc gia phòng, chống tai nạn thương tích”[1]
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế số tai nạn thương tích trẻ em đang gia tăng,
chúng tôi nhận thấy, một phần rất lớn những ca tai nạn thương tích đau lòng của
trẻ thường bắt nguồn từ sự bất cẩn và kém hiểu biết của người lớn và kỹ năng
sống của trẻ còn non nớt
Kỹ năng sống là khả năng điều chỉnh và lựa chọn hành vi đúng đắn, có khả
năng điều chỉnh nhu cầu của bản thân một cách hợp lý và ứng phó kịp thời trước
những thách thức trong cuộc sống.
Giáo dục kỹ năng sống là trang bị những kiến thức thái độ hành động giúp
cho trẻ hình thành được kỹ năng sống cần thiết phù hợp với môi trường sống
.đặc biệt là cần trang bị cho trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân [2]
Tai nạn thương tích luôn rình rập quanh ta nhất là đối với trẻ nhỏ. Vì vậy, là
giáo viên mầm non cần tìm hiểu và trang bị cho bản thân những kiến thức chính
xác và cách phòng tránh tai nạn thương tích để có những biện pháp phòng tránh
một cách có hiệu quả. Giáo dục trẻ biết cách phòng tránh tai nạn thương tích là
một việc làm rất quan trọng nhưng không dễ dàng. Bản thân tôi là một giáo viên
trẻ nên rất muốn chung tay cùng nhà trường phòng tránh tai nạn thương tích,
đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, điểu đó đã thôi thúc tôi nghiên cứu và tìm ra
“Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ nhà trẻ 18 - 24
tháng tuổi”
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ
trong trường mầm non và tìm ra nhiều biện pháp phòng tránh tai nạn thương
tích, đảm bảo an toàn cho trẻ mọi lúc, mọi nơi.
3. Đối tượng nghiên cứu
vào đời.
Thực tế hàng ngày trẻ được tiếp xúc, được tham gia rất nhiều các hoạt động
trong trường, ở mọi nơi như trong lớp, ngoài sân trường. Hay nói một cách khác
là nhu cầu hàng ngày của trẻ là học tập và vui chơi ở mọi nơi. Nhưng trẻ chỉ biết
rằng mình thích chơi theo cách của mình, điều này rất nguy hại bởi trẻ chưa hiểu
về những yếu tố tác động bên ngoài có thể gây nguy hiểm đến bạn thân. Chính
vì vậy, một trong những nhiệm vụ của trường mầm non là trang bị cho trẻ những
hiểu biết về “tai nạn thương tích cũng như cách phòng tránh tai nạn thương
tích”. Để trẻ tiếp thu được những kiến thức đó, giáo viên cần nắm bắt được tình
hình cũng như những đặc điểm của môi trường xung quanh trẻ. Như vậy việc
tuyên truyền phòng tránh tai nạn thương tích mới đạt hiệu quả như mong đợi.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Là một trong những trường còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất nhưng
những năm vừa qua trường MN Quảng Yên luôn thực hiện tốt công tác thi đua dạy
tốt học tốt, chất lượng giáo dục không ngừng được nâng cao. Và đặc biệt công tác
đảm bảo an toàn cho trẻ luôn được nhà trường chú trọng đặt lên hàng đầu.
Để thực hiện được mục tiêu đó đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực
trạng của lớp mình và nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
2.1. Thuận lợi
Trong quá trình công tác không chỉ riêng năm học 2017-2018 bản thân tôi
được nhà trường giao phụ trách lớp nhà trẻ mà tôi cũng đã từng chủ nhiệm độ
tuổi này nhiều năm liền nên tôi cũng nắm vững về tâm sinh lý và nhu cầu phát
triển toàn diện của trẻ.
Hơn nữa, là một giáo viên trẻ đã được đào tạo chuẩn, có lòng yêu nghề
mến trẻ, tận tình trong công việc và lại là người địa phương nên tôi gặp rất nhiều
thuận lợi trong công tác. Bản thân tôi luôn mong muốn đảm bảo an toàn tuyệt
đối cho trẻ mọi lúc mọi nơi cả về thể xác lẫn tinh thần.
Năm học 2017-2018 lớp tôi được Ban giám hiệu nhà trường giao nhiệm vụ
thực hiện điểm về một nội dung trong đề án “Trường học gắn với thực tiễn và
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ - Nội dung giáo dục kỹ năng tự lập”. Do đó, nhà
quy định của sở giáo dục, nội quy của nhà trường. Đồng thời, dựa vào kinh
nghiệm của bản thân cũng như hiện trạng cơ sở vật chất, môi trường học tập, tôi
đã đúc kết được một số kinh nghiệm, biện pháp để đảm bảo an toàn cho trẻ như
sau:
3.1. Biện pháp 1: Chấp hành nghiêm túc nội quy, quy định của
ngành học về việc sử dụng đồ dùng, đồ chơi.
Một trong những khái niệm về đồ chơi thì đồ chơi là một trong những đồ
dùng không thể thiếu đối với trẻ nhỏ, đồ chơi cần cho trẻ được ví như cơm ăn
nước uống hàng ngày của trẻ. Nếu trong một ngày ở lớp trẻ hoạt động mà không
có đồ chơi thì coi như hoạt động đó không thành công qua đó nói nên tầm quan
trọng của đồ chơi là rất cần thiết cho trẻ. Và thời gian trẻ được tiếp xúc với đồ
chơi trong một ngày là rất nhiều, chính vì vậy phải thường xuyên loại bỏ những
đồ chơi gây nguy hiểm cho trẻ.
Theo nội quy của nhà trường, giáo viên phải thường xuyên vệ sinh đồ
dùng, đồ chơi hàng ngày, hàng tuần để đảm bảo vệ sinh và loại bỏ những đồ
chơi gây nguy hiểm cho trẻ.
Những đồ chơi đã bị hư hỏng trở nên sắc nhọn rất nguy hiểm. Cơ thể trẻ
còn rất non yếu, làn da mỏng manh của trẻ rất dễ bị trầy xước. Vì thế, khi chơi
3
dễ gây ra nguy hiểm cho trẻ như đứt tay, xước da. Ngoài ra, vật sắc nhọn còn
làm nguy hiểm đến mắt cũng như chảy máu cơ thể trẻ.
Những đồ chơi nhỏ như xâu hột hạt, hoa ở góc hoạt động với đồ vật rất
nhỏ khi trẻ chơi cô cần chú ý quan sát tránh để trẻ đưa vào miệng. Khi chơi
xong cô cần cất dọn cẩn thận không để trẻ tự ý lấy chơi.
Đồng thời tôi luôn cố gắng sáng tạo ra những loại đồ chơi mới phù hợp
với lứa tuổi mà vẫn đảm bảo tính khoa học của hoạt động. Ở góc hoạt động với
đồ vật ngoài những đồ vật sẵn có như hột hạt, hoa, tôi sáng tạo thêm một số đồ
chơi theo chủ đề: Khâu quần áo, cài khuy… bằng nhiều chất liệu khác nhau như
cấp một số khu vực có thể gây nguy hiểm cho trẻ.
Tất cả các lan can được xây cao 120cm quá tầm đầu trẻ, các nan hoa trang
trí được thiết kế bằng các thanh dọc không rộng quá 15cm, bỏ hết các thanh
ngang có thể làm bàn đạp cho trẻ leo trèo, một số đoạn lan can được xây kín.
Hiên đằng sau lớp học được sự đóng góp tham gia xã hội hóa giáo dục của phụ
huynh nhà trường đã có kinh phí để làm khung sắt đảm bảo an toàn cho trẻ. Mà
vẫn đảm bảo không gian thông thoáng, ánh sáng đầy đủ cho trẻ.
Sàn nhà vệ sinh khi xây dựng còn nhiều vũng nước đọng gây nguy hiểm
cho trẻ, được nhà trường lưu tâm chú ý, nâng cấp lại sàn vệ sinh, xử lý các vũng
nước đọng. Giờ đây, sàn nhà vệ sinh luôn róc nước, khô thoáng.
Hơn thế, tôi đã tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường trang bị cho mỗi
phòng vệ sinh một thảm nhựa chống trơn để đảm bảo cho trẻ không bị trượt ngã
do trơn khi vào vệ sinh và có giá để đồ ở trên cao tránh tầm với của trẻ.
Khu vực nhà bếp được xây dựng cách xa khu vực giảng dạy để tránh ảnh
hưởng của khí ga cũng như tiếng ồn ảnh hưởng tới trẻ nếu trẻ hít phải khí độc từ
các nguồn gây ô nhiễm không khí ( như hơi than tổ ong, khí ga …) rất dễ bị ngộ
độc không khí.
Khu vực bể nước ở trường tôi tuy được xây cách xa khu sân chơi và lớp
học nhưng do đã xây dựng lâu năm nên nền sân đôi khi bị bong tróc, trơn trượt.
Do đó, tôi cùng các chị em thường xuyên làm vệ sinh cọ rửa nền sân mỗi khi đi
rửa bát. Đồng thời, bể nước luôn được đậy lắp, khóa vòi cẩn thận.
5
Hoạt động vệ sinh trước khi ăn
Từ những điều kiện cơ sở vật chất ban đầu còn nhiều khó khăn, Ban giám
hiệu nhà trường đề xuất ý kiến lên cấp trên để nâng cấp, cải tạo, kết hợp cùng
giáo viên và phụ huynh nâng cấp và sửa chữa kịp thời một số hạng mục hư hỏng
nhỏ để nhà trường có khung cảnh sư phạm đẹp và đảm bảo an toàn cho trẻ. Thực
Bếp ga, tủ lạnh, quạt trần
Nồi cơm, chảo điện rất gần tầm tay
Lại còn cả phích nước đầy
Không may ngã phải là gây bỏng liền
An toàn là việc đầu tiên
Bé ơi phải nhớ, tránh liền bếp thôi!
Đi dép lê[6]
Đi dép lê
Không được chạy
Kẻo vấp ngã
Gãy trẹo chân
Rách áo quần
Tay lấm bẩn
Nhắc bé[6]
Cái mũi để thở
Cái miệng để ăn
Nghe được rõ rành
Là tai bé đấy
Không dùng que, gậy
Hột hạt đồ chơi
7
Đi cẩn thận
Cho vào mọi nơi
Bước nhẹ nhàng
Mắt, tai, mũi, miệng
Chớ vội vàng
+ Giáo viên luôn lồng ghép, tích hợp giáo dục về an toàn cho trẻ trong mọi
chủ đề, lồng ghép nội dung phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình
giáo dục.
VD: CĐ Mẹ và những người thân yêu của bé: lồng ghép các câu hỏi:
“những đồ dùng nào trong gia đình có thể gây nguy hiểm trẻ không được đến
gần”( các đồ dùng sử dụng điện, phích đựng nước nóng, dao, kéo…)[8]
CĐ Bé đi khắp nơi bằng phương tiện giao thông nào: biển báo giao thông
đơn giản, đèn tín hiệu, khi tham gia giao thông các bé cũng phải nhớ đội mũ bảo
hiểm….[8]
CĐ Đồ dùng, đồ chơi trong lớp bé: khi chơi đồ chơi phải như thế nào, nếu
đưa vào miệng sẽ bị làm sao…[8]
CĐ Cây và những bông hoa đẹp: Giáo dục trẻ không được leo trèo lên cành
cây sẽ bị ngã rất nguy hiểm.[8]
- Cho trẻ làm quen với những biển cấm, biển báo nguy hiểm, cảnh báo
những đồ vật gây nguy hiểm và những nơi nguy hiểm trẻ không được đến gần.
* Hoạt động ăn: Vào giờ ăn trẻ rất hiếu động háu ăn vì thế khi thức ăn
mang từ nhà bếp lên còn đang còn nóng cô cần để nguội bớt rồi mới chia về bàn
cho trẻ.
+ Kiểm tra thức ăn trước khi cho trẻ ăn, uống. Tránh cho trẻ ăn thức ăn,
nước uống còn quá nóng.
+ Không ép trẻ ăn, uống khi trẻ đang khóc, trẻ vừa ăn, vừa cười đùa hoặc
khi trẻ đang khóc mà cô cố ép trẻ ăn, uống đều rất dễ gây sặc cho trẻ. Vì thế cô
phải để trẻ ăn trong tâm trạng thật thoải mái, không cố ép trẻ
+ Khi ăn cần cho trẻ ăn ở tư thế ngồi, nhắc trẻ ăn từ từ, nhai kỹ. Giáo dục
trẻ khi ăn không được vừa ăn, vừa đùa nghịch, nói chuyện dễ bị xặc, nghẹn.
+ Dị vật đường ăn thường gặp là hóc xương, nghẹn nên tôi đã trao đổi phối hợp
với tổ nuôi, chế biến những món ăn mềm, xay nhỏ, phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ.[7]
* Hoạt đông ngủ: Khi trẻ chuẩn bị lên giường giáo viên chú ý xem trẻ còn
ngậm thức ăn trong miệng không, kiểm tra tay, túi quần áo xem có vật nhỏ lạ,
Như vậy, bằng việc thường xuyên giám sát trẻ và dạy trẻ một số kỹ năng
sống cần thiết tôi đã loại bỏ được hết những tai nạn có thể xảy ra. Đồng thời trẻ
lớp tôi đã nhận biết được một số nguy cơ gây nguy hiểm cho bản thân và biết
cách phòng tránh.
10
3.5. Tự học tập, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về phòng tránh tai nạn
thương tích cho trẻ.
Giáo viên mầm non là người trực tiếp chăm sóc trẻ khi ở lớp, vì vậy bồi
dưỡng kiến thức về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là rất quan trọng.
Ngoài việc tham gia đầy đủ vào các buổi tập huấn do nhà trường và phòng giáo
dục tổ chức giáo viên còn cần nghiên cứu sách báo và hoàn thiện nội dung,
chương trình giáo dục nội khoá và ngoại khoá về phòng, chống tai nạn, thương
tích cho phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tế ở địa
phương. Tổ chức và tham gia các cuộc thi tìm hiểu về cách phòng tránh tai nạn
thương tích cho trẻ. Thực hiện nghiêm túc và có chất lượng về nội dung giáo
dục phòng, tránh tai nạn, thương tích đã được Bộ quy định tại chương trình các
môn học. Cần chú trọng việc trang bị kiến thức và hình thành kỹ năng phòng,
chống tai nạn thương tích cho trẻ.
Giáo viên cũng phải tham gia các lớp tập huấn về Y tế để nâng cao kiến
thức vế cách sơ cứu kịp thời nếu trẻ không may gặp tai nạn. Giáo viên phải được
tập huấn kiến thức và kĩ năng về phòng và xử trí ban đầu một số tai nạn thường
gặp như xặc, bỏng, gãy xương… Hằng năm, nhà trường cần phối hợp với y tế
địa phương tập huấn, nhắc lại cho giáo viên về nội dung này.[7]
Khi trẻ bị tai nạn phải bình tĩnh xử trí sơ cứu ban đầu tại chỗ, đồng thời báo
cho cha mẹ và y tế nơi gần nhất để cấp cứu kịp thời cho trẻ.
Tham mưu với ban giám hiệu đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị
phòng, tránh tai nạn, thương tích ( băng, nẹp cứu thương…) củng cố và phát
triển phòng Y tế để đáp ứng được nhiệm vụ phòng, tránh tai nạn, thương tích;
tuyên truyền cho phụ huynh thực hiện các biện pháp an toàn cho trẻ, để phòng tránh
những tai nạn cho trẻ có thể xảy ra tại gia đình, trên đường đến trường hoặc đón trẻ
từ trường về nhà. Tuyệt đối không đẻ trẻ nhỏ đi đón nhau.
Vì đa phần phụ huynh rất bận, nên giáo viên thường tranh thủ trao đổi vào
giờ đón trả trẻ về cách phòng tránh tai nạn thương tích tại nhà như khuyến khích
phụ huynh dán những cảnh báo nguy hiểm ở ổ điện , để những vật dụng gây
nguy hiểm lên cao, đúng nơi quy định nhất là các loại dao kéo, phích nước, các
loại thuốc…Thường xuyên loại bỏ những đồ chơi gây nguy hiểm ở nhà, kiểm tra
quần áo trước khi mặc cho trẻ tránh trường hợp có côn trùng bám vào khi phơi
lại mặc cho trẻ khiến trẻ ngứa ngáy khó chịu.
Giếng nước, bể nước phải xây cao thành và các dụng cụ chứa nước như
chum, vại… cần có nắp đậy chắc chắn hoặc khóa cẩn thận. Không bao giờ được
để trẻ một mình ở dưới nước hoặc gần nơi nguy hiểm. Nếu gia đình nào có điều
kiện nên dạy trẻ tập bơi sớm để phòng tránh đuối nước.
Nhắc phụ huynh cẩn thận khi cho trẻ ăn các loại quả có hạt, các loại thạch,
kẹo cứng…Điều quan trọng nhất là phải luôn giám sát trẻ để chắc chắn rằng con
mình luôn được đảm bảo an toàn tuyệt đối.
Tuy nhiên để việc cung cấp kiến thức được hiệu quả, dễ nhớ nên tôi làm tờ
thông báo về một số cách phòng tránh tai nạn thương tích đơn giản ở góc tuyên
truyền. Ở đó dán những hình ảnh đẹp, dễ bắt mắt nên được phụ huynh lưu tâm
đọc hằng ngày.
Công tác tuyên truyền phòng tránh tai nạn thương tích với phụ huynh là
việc vừa dễ lại vừa khó, dễ vì đây là công việc hàng ngày của giáo viên, khó ở
đây là giáo viên phải có những lời nói thuyết phục, biết chọn lọc những nội dung
tuyên truyền thiết thực, thu hút được phụ huynh để phụ huynh dễ hiểu và dễ
thực hiện.
Biện pháp tuyên truyền kết hợp với phụ huynh tại lớp giúp giáo viên và
phụ huynh hiểu nhau hơn, từ đó giúp giáo viên thuận lợi trong việc giáo dục trẻ
tránh những nơi nguy hiểm, không an toàn với trẻ. Và cũng yên tâm hơn trong
công tác phòng tránh tai nạn tại nhà vì phụ huynh đã có kiến thức về cách phòng
1. Kết luận
Đảm bảo an toàn cho trẻ là việc làm rất cần thiết và vô cùng quan trọng
hàng ngày đối với tất cả mọi người. Bản thân là một giáo viên mầm non, là
người mẹ hiền thứ 2 của trẻ, vì thế tôi luôn tìm tòi tạo ra một môi trường vui
chơi và học tập tập đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. Qua việc thực hiện áp
dụng các biện pháp trên tôi thấy trẻ được vui chơi thỏa thích, thỏa mãi nhu cầu
tìm hiểu thế giới xung quanh của trẻ mà trong thế giới đó không có sự nguy
hiểm với trẻ. Những nguy hiểm mà trong khả năng của trẻ có thể phòng tránh
được qua những bài dạy của cô mà trẻ đúc kết được.
Từ những công văn của Phòng, Sở giáo dục và nội quy của nhà trường về
triển khai các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích trong trường học nhằm
mục đích giúp mọi người biết cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, tránh
được những điều đáng tiếc xảy ra, đảm bảo an toàn về con người và tài sản.
Biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là một hoạt động tổng
hợp đòi hỏi gia đình và nhà trường, giáo viên và phụ huynh cùng tham gia.
Những chủ nhân tương lai cần được giáo dục tốt để hình thành những thói quen,
kỹ năng tự bảo vệc chính mình. Đây là tránh nhiệm và lương tâm, phấn đấu cho
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một xã hội trật tự, kỷ cương,
văn minh và hiện đại.
Từ những biện pháp đã áp dụng trong suốt thời gian thực hiện đề tài tôi đã
rút ra nhiều bài học bổ ích: Bản thân cô giáo phải yêu nghề, mến trẻ luôn tìm tòi
tạo ra môi trường thật tốt quanh trẻ: từ những đồ dùng, đồ chơi đến bữa ăn giấc
ngủ luôn là an toàn với trẻ, tạo được niềm tin nơi phụ huynh rằng họ đang có
người đồng hành trên con đường xây đắp hạnh phúc và tương lai phồn thịnh cho
thế hệ măng non chủ nhân của đất nước .
13
2. Kiến nghị và đề xuất
Nhìn lại quãng thời gian thực hiện đề tài: “Một số biện pháp phòng tránh
[2] Moodun 39 giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ,mẫu giáo
[3] Báo giáo dục và thời đại số 278 năm 2017
[4] Báo cáo tổng kết cuối năm 2017 của UBND xã Quảng Yên
[5] Tiêu chí đánh giá nhà trẻ
[6] Mạng Internet
[7] Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non 2014 .NXB giáo dục 2017
[8] Kế hoạch thực hiện theo chủ đề.NXB giáo dục 2017
[9]Báo cáo khảo sát trẻ lần 2 năm 2018(Trường MN Quảng Yên)
15
MỤC LỤC
Trang
I. Mở đầu..............................................................................................................
1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................
1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................
1
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................
1
4.Phương pháp nghiên cứu....................................................................................
1
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm...................................................................
1
1. Cơ sơ lý luận của SKKN...................................................................................
1
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN.....................................................
16