ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
VŨ KHẮC HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY
HOẠCH KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ KHU VỰC
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
VŨ KHẮC HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY
HOẠCH KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ KHU VỰC
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Tuấn
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Khoa Địa Lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã trang bị cho tôi những
kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận tư duy khoa học, phục vụ công tác giảng dạy,
nghiên cứu và cuộc sống.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên hướng dẫn là PGS.TS.
Trần Văn Tuấn đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành
luận văn.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành
tốt nghiên cứu của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể Cán bộ phòng Tài nguyên và Môi
trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng Quản lý đô thị quận Hà Đông
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Khắc Hùng
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................. 5
1.1. Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu ............................ 5
1.1.1. Trên thế giới ...................................................................................................... 5
1.1.2. Tại Việt Nam ................................................................................................... 13
1.2. Cơ sở lý luận quy hoạch không gian mở đô thị ................................................. 18
1.2.1. Khái niệm không gian mở đô thị ..................................................................... 18
1.2.2. Phân loại không gian mở đô thị....................................................................... 21
1.2.3. Quy định thiết kế các đối tượng không gian mở đô thị................................... 30
1.2.4. Ý nghĩa của các đối tượng KGM đô thị .......................................................... 32
3.1.3. Đánh giá mức độ hài lòng và kiến nghị của người dân về hệ thống quy hoạch
KGM tại quận Hà Đông ............................................................................................ 64
3.2. Một số định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch KGM đô thị
Hà Đông .................................................................................................................... 65
3.2.1. Về chính sách pháp luật .................................................................................. 65
3.2.2. Gia tăng vốn đầu tư, nguồn lực tài chính ........................................................ 67
3.2.3. Phân vùng định hướng quy hoạch KGM đô thị tại quận Hà Đông ................. 68
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 75
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 77
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1. Phân loại không gian mở theo các đối tượng cụ thể ................................ 22
Bảng 1. 2. Phân loại Công viên và Không gian mở, Quản lý tài trợ Bộ Tài nguyên
thiên nhiên Michigan, 2009....................................................................................... 24
Bảng 1. 3. Phân loại không gian mở theo các nhóm chức năng Singapore .............. 26
Bảng 1. 4. Phân loại không gian mở ở Luân Đôn ..................................................... 27
Bảng 1. 5. Đề xuất hệ thống phân loại KGM đô thị tại Việt Nam ............................ 29
Bảng 1. 6. Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngoài đơn vị ở trong các đô thị
................................................................................................................................... 30
Bảng 1. 7. Diện tích tối thiểu sử dụng trồng cây xanh trong các công trình ............ 31
Bảng 1. 8. Chỉ tiêu sử dụng đất cho các công trình thể dục thể thao đô thị .............. 31
Bảng 2. 1. Tổng giá trị gia tăng và cơ cấu kinh tế quận Hà Đông giai đoạn 2014 – 2018 ..... 44
Bảng 2. 2. Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng bình quân các lĩnh vực kinh tế
quận Hà Đông năm 2014 – 2018............................................................................... 47
Bảng 2. 3. Biến động sử dụng đất quận Hà Đông giai đoạn 2014 – 2018 ................ 49
Bảng 2. 4. Thống kê diện tích cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hà Đông ............. 53
Không gian mở
KGCC
Không gian công cộng
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Không gian mở đô thị hay không gian công cộng là khu vực thuộc sở hữu
cộng đồng hoặc do cộng đồng sử dụng, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận, thụ
hưởng [5]. Đó là nơi con người tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí, mua sắm,
rèn luyện sức khỏe…Tại bất cứ đô thị nào trên thế giới, nếu quy hoạch phần diện
tích không gian mở thiếu hoặc không đầy đủ, thiết kế không tốt hoặc bị tư nhân hóa,
thành phố sẽ rơi vào tình trạng bị chia cắt, xung đột xã hội gia tăng, cơ hội kinh tế
bị cản trở.
Hiện nay tại một số quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt
Nam, có một sự mất cân đối nghiêm trọng trong việc phát triển KGM, công viên
mới được xây dựng, hàng trăm ngàn héc ta mặt nước sông hồ, diện tích bán ngập bị
san lấp, thu hẹp và ô nhiễm, hàng vạn cây xanh bị chặt bỏ tùy tiện.
Hà Nội là một trong 2 thành phố ở Việt Nam có tốc độ đô thị hóa cao nhất cả
nước. Trong 20 năm qua, mỗi năm Hà Nội có thêm hàng triệu mét vuông sàn đã
được xây dựng mới trong hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng mới, hàng trăm km
đường giao thông mới mở, hàng chục cây cầu mới bắc (chỉ tính riêng năm 2017 Hà
Nội có thêm 11 triệu m2 nhà ở, cao hơn 100 lần kỷ lục xây dựng 0,11 triệu m2 nhà
ở Hà Nội năm 1978) [8]. Hàng vạn khu sinh hoạt công cộng trong các khu dân cư
đã bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh, bãi đỗ xe, xây nhà ở. Nạn lấn chiếm vỉa hè,
- Khảo sát ý kiến người dân trong việc quy hoạch các đối tượng KGM tại
quận Hà Đông.
- Xác định nhu cầu sử dụng đất không gian mở của quận Hà Đông đến năm
2030.
- Phân vùng các vùng không gian mở tại Quận Hà Đông.
- Đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở và các giải pháp nâng cao
chất lượng không gian mở quận Hà Đông.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp điều tra, thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu
Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, các số
liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch, bản đồ hiện trạng sử dụng đất quận
Hà Đông.
Các số liệu được thu thập chủ yếu tại phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng
Quản lý đô thị quận Hà Đông.
2
4.2. Phương pháp thống kê, so sánh
Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành thống kê, so sánh tài
liệu về KGM ở các nước trên thế giới và các quy định liên quan đến các đối tượng
KGM ở Việt Nam nhằm đưa ra khái niệm và hệ thống phân loại một cách đầy đủ
cho hệ thống đô thị Việt Nam.
4.3. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
- Tìm hiểu các vấn đề về thực trạng sử dụng đất và quy hoạch quận Hà
Đông.
- Khảo sát thực trạng các không gian mở: khảo sát các kiểu không gian xanh,
mặt nước, đánh giá trực quan môi trường tại các không gian mở.
4.4. Phương pháp điều tra xã hội học
Tham khảo ý kiến của người dân về các đối tượng KGM trong quận Hà
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Các nghiên cứu về không gian mở đô thị xuất hiện khá sớm, chủ yếu là các
nghiên cứu nước ngoài. Không gian mở là một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà
quy hoạch cảnh quan và kiến trúc sư cảnh quan cho khu vực đất được cố tình để lại
chưa xây dựng như các khu đất trống và các khu rừng trong khi đất xung quanh
chúng được phát triển vào các tòa nhà và công trình xây dựng. Không gian mở công
cộng, như công viên, không gian xanh, khu thể thao, khu bảo tồn và khu di sản,
quảng trường, không gian lưu thông…từ lâu đã được coi là nơi tập trung thỏa mãn
về mặt tinh thần của những hoạt động khác nhau và thúc đẩy những hoạt động xã
hội, ràng buộc xã hội, tạo ra không gian cộng đồng và địa điểm kết nối trong đô thị.
Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế
giới Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới
vào giai đoạn cuối thế kỉ 18 đến nửa đầu thế kỉ 19 đã khiến quá trình đô thị hóa diễn
ra mạnh mẽ tại các nước Châu Âu đã khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại
các nước Châu Âu. Với sự bùng nổ của sản xuất hàng hóa dựa trên máy móc công
nghiệp, các đô thị mới Châu Âu dần được hình thành, thay đổi và được coi như
những đô thị công nghiệp với các chức năng chính là nơi trao đổi và sản xuất hàng
hóa. Đến cuối thế kỉ XIX, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng và sức ép từ tăng trưởng
nóng đem lại diện mạo mất kiểm soát về không gian tại các thành phố ở châu Âu
[23]. Trước bối cảnh đó, các nhà quản lý và nghiên cứu đô thị đề xuất sử dụng công
cụ quy hoạch và thiết kế đô thị tích hợp với những thành tựu công nghệ tích luỹ
được từ ngành xây dựng, môi trường, và kinh tế học nhằm hệ thống hoá không gian
công cộng trong thành phố. Lấy mỹ học đô thị làm trọng tâm, các nhà quản lý và
học thuật hy vọng giải quyết sự lộn xộn của không gian gây ra bởi quá trình đô thị
khu vực nội đô, cải thiện không gian công cộng, nâng cấp hệ thống giao thông bộ
hành, bảo tồn, phục chế di tích lịch sử, xây dựng những khu thương mại kết hợp văn
hoá giải trí quần chúng [23].
Một trong những lý luận kinh điển trong quy hoạch đô thị tại các nước Châu
Âu bấy giờ và cũng là một cống hiến lớn cho lí luận quy hoạch đô thị hiện đại chính
là lí luận thành phố vườn – thành phố vệ tinh của Ebenezer Howard, một kiến trúc
sư nổi tiếng người Anh [2]. Kiến trúc sư đã phê phán những hiện tượng xã hội, văn
hóa, kinh tế của các thành phố công nghiệp ở Anh và rút ra kết luận rằng nguyên
6
nhân cơ bản của các hiện tượng xấu là do tập trung quá cao dân cư vào các đô thị
mà lại thiếu đi những khu vực công cộng, nơi con người kết nối thông qua các hoạt
động văn hóa, thể thao…Thành phố vườn của Ebenezer Howard được đề xướng
năm 1986. Trong số các giải pháp được đề xuất nhằm đề xuất giải quyết các vấn đề
về không gian thành phố, tác giả đã đề cập đến việc xây dựng các khu vực cây
xanh và đất đai sản xuất nông nghiệp bao quanh các khu ở, tạo không gian xanh
nhiều hơn trong thành phố.
Ngoài ra, thành phố được phân bố lại, các thành phố vệ tinh tập hợp xung
quanh thành phố trung tâm hay gọi là thành phố mẹ, quy mô lớn nhất là 58.000
người. Qua đó, thành phố vườn là những đơn vị thành phố vệ tinh, có quy mô dân
số khoảng 32.000 người, quy mô đất đai khoảng 400ha với nhà ở gia đình thấp tầng
và có vườn. Kết quả lí luận đã góp phần quan trọng trong việc việc xây dựng các
thành phố vườn tại London [2]. Năm 1940, theo Ebenezer Howard, R. Unwin và
Parker thiết kế xây dựng thành phố vườn đầu tiên cách London 50km. Năm 1920,
Louis de Soissions thiết kế xây dựng thành phố vườn thứ hai cách London 25km.
a.
b.
gỗ đã góp phần xoá đi sự lặp lại nhàm chán, đó là chưa kể đến trí tưởng tượng
phong phú của chủ nhân mỗi ngôi nhà.
Hình 1. 4. Khu đô thị vườn Chemin-Vert nhìn từ trên cao [24]
Hơn nữa, do được xây dựng trên một địa thế hình elíp và theo phong cách
của các khu đô thị vườn kiểu Anh, toàn bộ khu đô thị này được cấu trúc để đảm bảo
mỗi ngôi nhà có được khoảng lưu không tối thiểu 25 mét, điều đó đảm bảo cho
4.000 cư dân sinh sống tại đây (số liệu của giai đoạn 1935-1940, hiện nay con số
này thấp hơn nhiều do phần lớn các căn hộ chỉ có trung bình từ 2 đến 3 nhân khẩu)
có đủ ánh nắng, tạo cảm giác ấm cúng và luôn tràn đầy ánh sáng.
Xuất phát từ nhu cầu phát triển bền vững, thiết kế đô thị đương đại cần kết
hợp yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường cùng tạo dựng không gian thành
phố và vùng đô thị trong xã hội hậu công nghiệp. Năm 1994, Hiến chương Aalborg
(Đan Mạch) được các nước châu Âu cùng thông qua. Những năm 1987 và 1992, lần
lượt Báo cáo Brundtland, “Tuyên bố về môi trường sống và phát triển” và “Chương
trình nghị sự cho thế kỷ 21” được thông qua tại hội nghị của Liên hiệp quốc họp tại
Rio de Janeiro. Năm 2003, Hội quy hoạch Liên minh châu Âu ban hành “Tân hiến
chương Athens”, đề xuất phương hướng thiết kế đô thị chủ nghĩa hiện đại theo xu
thế phát triển bền vững. Năm 2007, nước Đức trong lần chủ trì phiên họp của Liên
9
minh châu Âu đề xuất chính thức đưa ý tưởng phát triển bền vững tại các thành phố
châu Âu vào Hiến chương Leipzig [23].
Trong những năm gần đây, các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc)
thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát
triển (như Việt Nam) (khoảng ~35%) [29]. Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn
định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát
triển. Đô thị hóa diễn ra ở mức cao tại các nước phát triển kết hợp với nền tảng kiến
người dùng. Vì vậy, các nhà quy hoạch nên thiết kế các không gian công cộng với
những khác biệt trong sự nhận thức và cảm nhận của người dân [14].
Một nghiên cứu khác của Dasimah Binti Omar và cộng sự về tương tác của
con người trong không gian mở được đăng tại Procedia - Social and Behavioral
Sciences [19]. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng không gian mở rất quan trọng đối với
sự bền vững của thành phố. Tương tác của con người rất quan trọng trong mối quan
hệ với các không gian mở vì cả hai yếu tố đáp ứng tốt với nhau. Các tương tác
không chỉ mang lại lợi ích cho con người mà đồng thời tác động tích cực đến hệ
sinh thái tự nhiên khi cả hai yếu tố tương quan với nhau. Ngoài ra, nghiên cứu này
đã chỉ ra rằng các tương tác tự nhiên và con người cần các yếu tố của không gian
mở như không gian xanh, yếu tố nước, thuộc tính vật lý để tăng cường sự tương tác
giữa con người và con người-thiên nhiên. Do đó, các khuyến nghị trong nghiên cứu
này được khuyến nghị để đảm bảo tính bền vững của đô thị, đặc biệt là về mặt
tương tác giữa con người và con người. Đối với các tương tác giữa con người và
thiên nhiên, trong số các khía cạnh như đa dạng sinh thái và sinh học nên được xem
xét vì rừng đã mất bản sắc do sự phát triển của các thành phố mới. Đối với sự tương
tác giữa người với người, rất nhiều khía cạnh để khuyến nghị thêm về nghiên cứu
có thể được tăng cường về mặt lợi ích tâm lý và sức khỏe của con người.
Đối với hầu hết đô thị tại các quốc gia đang phát triển, hướng nghiên cứu về
không gian công cộng được tập trung xoay quanh việc giải quyết các vấn đề của quá
trình đô thị hóa như ô nhiễm môi trường, tìm kiếm không gian, mâu thuẫn xã hội
trong quá trình phát triển đô thị và các giải pháp giúp đô thị phát triển bền vững. Sự
mở rộng chóng mặt khu vực đô thị ở các nước đang phát triển có đặc điểm khác với
sự bùng nổ ở các nước công nghiệp. Mặc dù tất cả đều phải đối mặt với các vấn đề
môi trường nhưng những thành phố ở các nước phát triển đứng trước hàng loạt rủi
ro đặc biệt. Ô nhiễm, thiếu nhà ở, vệ sinh kém và thiếu cung cấp nước sạch là
những vấn đề thường xuyên xảy ra ở các thành phố này.
11
lượng cuộc sống, cảnh quan đô thị, nhu cầu giải trí, văn hóa, xã hội và thậm chí
12
kinh tế, chính trị là rất lớn. Việc quy hoạch đô thị đồng bộ, có kiểm soát và cân
bằng các đơn vị ở, kinh doanh với các khu vực mở là bài học lớn đối với các đô thị
đang phát triển như tại Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Tại Việt Nam
Không gian mở xuất hiện từ thời đại phong kiến nước ta dưới hình thái các
sân chơi, bến nước, cây đa đầu làng, sân đình, cổng làng, chợ làng, đường làng, các
đình đền đài, hội quán, nhà thờ tổ… Qua nhiều giai đoạn khác nhau, các khu vực
không gian mở chịu ảnh hưởng bởi nhiều tư tưởng quy hoạch đã tạo nên những nét
đặc sắc riêng cho đô thị Việt Nam.
Vào thời kỳ phong kiến, chính quyền phong kiến quyết định các vấn đề
chung và có không gian quyền lực của nó. Cộng đồng như làng xã, phường hội, dòng
tộc lại quyết định về những việc nội bộ của một nhóm người nên họ cũng có những
không gian có chức năng hỗ trợ thể chế cộng đồng tương ứng. Làng là một mô hình
quần cư truyền thống vô cùng đặc sắc của Việt Nam. Làng có thiết chế riêng, có
hiệu lực mạnh mẽ vì nó đảm bảo tồn tại và vững mạnh của cả cộng đồng làng; vì
vậy, dân ta có câu “phép vua thua lệ làng”. Trong làng, trong phường hội, họ được
quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ và có trách nhiệm đối với người khác. Vì thế nhu cầu tỏ ra
mình là người cùng hội cùng thuyền, có quan tâm, đóng góp cho cộng đồng là cấp
thiết. Vì vậy, những không gian cộng đồng truyền thống như bến nước, cây đa đầu
làng, sân đình, cổng làng, chợ làng, đường làng, các đình đền đài, hội quán, nhà thờ
tổ…đều được sử dụng rất hiệu quả và thường xuyên. Trong không gian cộng đồng
này, mỗi cá thể xuất hiện ít khi dưới danh nghĩa cá nhân, mà dưới danh nghĩa là một
bộ phận trong một cỗ máy chung. Họ lấy việc chứng tỏ phục tùng luật lệ chung làm
lý do để xuất hiện trong không gian này. Những người ngoài có thể được chấp nhận
vào các lễ hội, sự kiện cộng đồng, nhưng họ rõ ràng là khách và phải chấp nhận mọi
Thời kỳ xây dựng nhà nước XHCN hiện nay (từ năm 1945 đến nay), bên cạnh
những KGCC do người Pháp xây dựng, loại hình KGCC phổ biến nhất ở nước ta
thời kỳ này là các quảng trường chính trị ở tất cả các thành phố, thường bố trí trước
mặt tòa nhà UBND – HĐND, xung quanh là các công trình phục bộ máy hành chính
địa phương như trụ sở các sở, ban, ngành, tòa án, bưu điện, ngân hàng công. Ở Hà
Nội, có thể nói Quảng trường Ba Đình là KGCC biểu tượng quyền lực của Nhà
nước XHCN với sự hiện diện của Lăng Hồ Chủ tịch, Tòa nhà Quốc hội, và các tòa
công thự khác. Ở đây Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, và cũng là nơi chỉ
dành cho các sự kiện trọng đại, mitting, diễu hành tầm cỡ quốc gia. Trước đây người
14
dân không được phép đi lại vui chơi tự do ở Quảng trường Ba Đình và nó đúng nghĩa
là một KGCC của chính quyền. Tuy nhiên gần đây và buổi tối người dân đã được
phép dạo chơi thư giãn ở đây, mặc dù vẫn chịu sử quản lý theo dõi sát sao của lực
lượng canh gác lăng.
Những quảng trường chính trị ở các thành phố khác cũng tương tự, thường
được tạo ra phục vụ các sự kiện đại lễ chính thống do chính quyền địa phương tổ
chức chứ không phát huy như các không gian phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí tự do
của người dân, nên nhìn chung các không gian này thường vắng lặng khô cứng và
thiếu sức sống xã hội. Nhiều nơi việc tiếp cận không gian uy nghiêm này bị hạn chế
bằng hàng rào ngăn cách.
Thời kỳ này một số các khu dân cư mới đã được quy hoạch và xây dựng theo
mô hình “tiểu khu” học từ Liên Xô (là mô hình có sự vi chỉnh từ mô hình “đơn vị ở”
gốc của Clarence Perry thế kỷ IX). Ở Hà Nội điển hình loại này có các khu Trung
Tự, Kim Liên, Giảng Võ, Thanh Xuân. Với nguyên lý quy hoạch khá rõ rệt, các
KGCC, các công trình công cộng như trường học, nhà trẻ, sân chơi, vườn hoa
thường được bố trí ở trung tâm khu dân cư hoặc tâm của các nhóm nhà. Mặc dù
chất lượng các không gian này còn nhiều điều đáng bàn, nhưng về lượng và sự phân
chia các giai đoạn phát triển của hệ thống không gian mở đô thị tại nước ta gắn với
hai thời kỳ xã hội đặc trưng là thời kỳ bao cấp (1976 – 1985) và thời kỳ đổi mới
(1985 – nay).
Trong giai đoạn xã hội bao cấp, kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ
cho kinh tế do nhà nước chỉ huy. Do vậy, các công trình phục vụ xã hội như không
gian mở được quyết định hoàn toàn bởi nhà nước. Khi đó, người dân có rất ít quyền
dân chủ thể hiện qua các công trình xây dựng. Tuy nhiên, người dân được sử dụng
và tiếp cận các đối tượng đó một cách miễn phí như các con đường, công viên,…
Nhận thấy những bất cập trong việc duy trì nền kinh tế bao cấp, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra phương
hướng thay đổi nhằm giúp nước ta thay đổi bộ mặt kinh tế và xây dựng đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó, cụm từ bao cấp được xóa bỏ trong nền
kinh tế Việt Nam và thay vào đó, có sự tham gia của các doanh nghiệp, người dân
trong việc phát triển kinh tế chung. Kể từ đây, các công trình KGM mới thực sự
mang lại lợi ích và phục vụ nhu cầu của con người một cách tốt nhất. Các doanh
nghiệp sẵn sàng tham gia vào xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như công
viên, BOT, bệnh viện, trường học,… nhằm phục vụ nhu cầu của người dân và đổi
16
lại, họ sẽ thu lại lợi ích trong tương lai. Các công trình mang hướng thị trường như
trên góp phần làm tăng chất lượng hệ thống KGM ở các đô thị và giải quyết tốt hơn
nhu cầu xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Các nghiên cứu tại Việt Nam trong nhiều năm gần đây thường hướng tới các
đối tượng KGM cụ thể trong quy hoạch đô thị mà chưa có những nghiên cứu tổng
thể về hệ thống KGM trong một đô thị tại Việt Nam. Điều này một phần được xác
định bởi quy định thiết kế các đối tượng KGM chưa đầy đủ và đồng bộ. Chẳng hạn,
quy chuẩn xây dựng Việt Nam có đưa ra cây xanh là một đối tượng thuộc KGM,
được quy định cụ thể trong các trường hợp trong hoặc ngoài đơn vị ở, hoặc trong