MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1
1. Mở đầu
1
2
1.1.Lí do chọn đề tài
1
3
1.2.Mục đích nghiên cứu
1
4
1.3.Đối tượng và thời gian nghiên cứu
2
5
2.2.2. Khó Khăn
4
11
2.3. Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề
5
12
5
13
2.3.1. Xác định và tìm hiểu kiến thức tích hợp, liên
môn có liên quan đến bài hoc.
3.2.2. Tài liệu, học liệu:
14
3.2.3. Thiết bị dạy học cần thiết cho bài học:
6
15
3.3.4. Tiến trình trải nghiệm thực tế đề tài:
1.1.Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết giáo dục hiện nay đang đổi mới đồng bộ phương
pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
của học sinh trên tinh thần nghị quyết 29-NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo. Mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh đòi
hỏi phải yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề
thực tiễn. Khi giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn bao gồm cả t ự
nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên
quan đến nhiều môn học. Vì vậy dạy học cần phải tăng c ường theo h ướng
tích hợp và liên môn.
Dạy học tích hợp là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá
trình dạy học các môn học như: Tích hợp giáo dục đạo đức, l ối s ống; giáo
dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo
dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn
giao thông…Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung ki ến th ức
liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học.
Các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không ph ải h ọc l ại
nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, v ừa gây
quá tải, nhàm chán vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả
năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn. Hơn n ữa trong quá
trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên ph ải d ạy
những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì v ậy đã có s ự am
hiểu những kiến thức liên môn đó một cách cơ bản. Trong thực tế giảng
dạy bài: Biển và Đại Dương
( SGK Địa lí lớp 6 ) các năm học trước bản thân vẫn phải sử dụng kiến thức
các môn học liên quan để hướng dẫn học sinh tìm hi ểu bài. Tuy nhiên m ới
dừng lại ở mức độ đơn giản và chưa hiểu được bản chất c ủa vấn đ ề. Bên
cạnh đó chưa chỉ rõ đơn vị kiến thức đó thuộc lĩnh vực nào.Từ đó vi ệc v ận
dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế c ụ thể của h ọc sinh
còn gặp nhiều khó khăn. Qua việc áp dụng dạy học theo hướng tích hợp liên
6 1.3.2. Thời gian nghiên cứu đề tài:
Học sinh khối 6 trường THCS Cẩm Vân năm học 2015 –
2016 1.4.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lí luận: Nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với đồng nghiệp, thăm dò ý ki ến học
sinh.
- Phương pháp thực tế: Trải nghiệm thực tế, thống kê.
- Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng học sinh được trải
nghiệm và không được trải nghiệm đề tài.
-Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết qu ả các
bài kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả vận dụng tích hợp liên
môn trong dạy học.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.
1. Cơ sở lí luận của vấn đề:
Theo từ điển Tiếng Việt: “ Tích hợp là sự kết hợp những ho ạt đ ộng,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hoà hợp, sự kết hợp”[9].
Theo từ điển giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực ho ặc vài lĩnh
vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.[10]
Trong dạy học các môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các
nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “ môn h ọc”
mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nôi dung vốn có c ủa
môn học. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã tr ở thành xu
thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và
trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan
điểm
kiến thức liên môn đó. Có thể nói lâu nay bản thân cũng đã dạy học tích h ợp
liên môn, nhưng chưa đi sâu và chưa có sự kết hợp một cách bài bản.
+ Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay được giáo viên đã và
đang đẩy mạnh rộng rãi.Vai trò của giáo viên không còn là ng ười truyền th ụ
kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của
học sinh cả ở trong và ngoài lớp học, Vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan
có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong d ạy h ọc.
+ Trong những năm qua bản thân cũng đã được trang b ị thêm nhi ều
kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực: nh ư ph ương
pháp bàn tay nặn bột, kĩ thuật khăn trải bàn, bản đồ tư duy, d ạy h ọc theo
dự án …Đó là tiền đề tốt để vận dụng dạy học theo hướng tích hợp liên
môn.
3
+ Hiện nay không gian “ Trường học kết nối” rất thuận lợi để giáo
viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, đổi mới trong dạy tích hợp, liên môn.
+ Trường trung học cơ sở Cẩm Vân là trường chuẩn quốc gia nên cơ
sở vật chất cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu dạy học. Bên cạnh đó đã đ ầu t ư
nhiều phương tiện dạy học có thể đáp ứng một phần đổi mới phương pháp
dạy học hiện nay.
- Đối với học sinh:
Học sinh có hứng thú tìm hiểu kiến thức các bộ môn nhất là các bộ
môn tự nhiên ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo
hướng “ mở ” vì vậy cũng tạo điều kiện, cơ hội cũng như môi trường thuận
lợi cho học sinh phát huy tư duy sáng tạo.
2.2.2. Khó Khăn:
- Đối với giáo viên:
kiến thức về những chủ đề tích hợp, liên môn, nhất là tìm hi ểu v ề nh ững
ứng dụng của kiến thức liên môn vào giải quyết các tình huống thực ti ễn.
- Đối với học sinh
+ Dạy học tích hợp, liên môn là khái niệm mới mẻ đối với học sinh,
lâu nay học sinh vẫn quen học tập kiến thức theo lối đơn môn. Vì v ậy, khi
giáo viên tổ chức dạy học theo hướng tích hợp liên môn cũng khi ến nhi ều
học sinh bỡ ngỡ, lúng túng trong quá trình lĩnh hội kiến thức đặc biệt là
những học sinh tiếp thu chậm.
Việc học tập theo hướng tích hợp liên môn yêu cầu học sinh phải nắm
vững kiến thức tổng hợp của nhiều môn học có liên quan, cũng có nh ững
đơn vị kiến thức học sinh nắm chưa vững nên khó khăn trong việc gi ải
quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Học tập theo hướng tích hợp liên môn yêu cầu học sinh phải học tập
một cách chủ động theo sự hướng dẫn của giáo viên. Tuy nhiên vẫn còn m ột
số học sinh chưa thật sự tích cực và tự giác trong học tập nên cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy của giáo viên.
2.3. Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề:
2.3.1. Xác định và tìm hiểu kiến thức tích hợp,liên môn có liên quan
đến bài học.
Trong bài học: “ Biển và Đại Dương” giáo viên và học sinh c ần s ử
dụng các kiến thức tích hợp, liên môn để giải quyết các vấn đề đặt ra trong
bài học cụ thể như sau:
* Kiến thức vật lí: Nguyên nhân sinh ra thủy triều.
Địa chỉ tích hợp: Mục 2. Sự vân động của nước Biển và Đại dương
Giáo viên nắm vững hiên tượng thủy triều là do sức hút c ủa M ặt
Trăng và một phần từ Mặt Trời lên Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo
nên hiện tượng nước lên( triều lên), nước rút( triều xuống)vào những
khoảng thời gian nhất định trong một ngày. Lực đó gọi là lực hấp dẫn. Trái
năm 981; Kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1288 của Tr ần Qu ốc
Tuấn.
* Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường:
Địa chỉ tích hợp: Mục 2. Sự vân động của nước Biển và Đại dương
- Biết vai trò của biển và đại dương đối với đời sống, sản xu ất c ủa
con người trên Trái Đất và vì sao phải bảo vệ nước biển và đại dương khỏi
bị ô nhiễm.
- Biết nguyên nhân gây ô nhiễm nước biển và đại dương và hậu quả
- Có ý thức bảo vệ, không làm ô nhiễm nước biển và đại dương; phản
đối hành vi làm ô nhiễm nước biển và đại dương.
* Tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả,
ứng phó với biến đổi khí hậu.
Địa chỉ tích hợp: Mục 2. Sự vân động của nước Biển và Đại dương
Giáo dục cho học sinh biết có thể khai thác các vận động của nước
biển như sóng và thủy triều để tạo ra năng lượng sạch thay thế năng lượng
truyền thống.Từ đó giúp chúng ta sử dụng nguồn năng lượng m ột cách hi ệu
quả giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Học sinh có kĩ năng nhận biết những dấu hiệu khi sắp xảy ra sóng
thần để có biện pháp phòng tránh hiệu quả.
3.2.2. Tài liệu, học liệu:
- Sách giáo khoa Vật lí lớp 6,7,8 NXB Giáo dục.
- Sách giáo khoa Lịch sử lớp 6,7 NXB Giáo dục.
6
THCS
THCS
- Tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Địa lí
- Tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Vật lí
3. Thái độ: Có ý thức bảo vệ, không làm ô nhiễm nước biển và đại
dương; phản đối các hoạt động làm ô nhiễm nước biển và đại
dương.
4. Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực chung: Năng lực hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đ ề, t ự
học...
7
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, năng lực sử
dụng bản đồ, năng lực sử dụng hình ảnh...
II. PHƯƠNG TIỆN CẦN THIẾT:
- Giáo viên: Bản đồ tự nhiên thế giới, tranh ảnh về thủy triều, sóng
biển…
- Học sinh:Tìm hiểu bài ở nhà, sưu tầm các tranh ảnh về vận động c ủa
nước biển và đại dương.
III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:
1. Ổn định tổ chức ( 1’ )
2. Kiểm tra bài cũ .( 4’ )
? Sông và Hồ khác nhau như thế nào?
? Thế nào là Hệ thống Sông, lưu vực
Sông? 3. Nội dung bài mới
a. Đặt vấn đề:( 1’)
Trên bề mặt Trái Đất, biển và đại dương chiếm phần quan trọng nhất
(71% diện tích bề mặt Trái Đất ). Trong thủy quyển chủ yếu là n ước mặn
(97% toàn bộ khối nước ). Các biển và nhất là các đại dương lưu thông với
nhau, nhưng vẫn mang những đặc tính khác nhau. Vậy bi ển và đ ại d ương
có những đặc điểm gì và có các hình thức vận động nào ? Đó là n ội dung bài
là cứ 1000g nước biển có chứa 35g
của nước Biển
muối.
là 35‰
GV Tại sao Biển và Đại dương đều
thông với nhau nhưng độ muối lại
- Độ muối là do
khác nhau
nước sông hòa
HS: ( Mật độ các sông đổ ra biển nhiều tan cá loại
c
hay ít, độ bốc hơi lớn hay nhỏ)
muối từ đất đá
8
GV: Tại sao nước Biển ở các vùng Chí
tuyến như biển Hồng Hải lại mặn
hơn các vùng khác?
HS: ( Đây là vùng khí áp cao nên khi
bốc hơi lên bị gió mang đi )
GV: Độ mặn trung bình của biển nước
ta là bao nhiêu? Vì sao biển nước ta
có độ mặn thấp?
GV: Em hãy tìm trên bản đồ thế giới
các biển: Ban Tích, Hồng Hải.
HS: Chỉ trên bản đồ
HS trả lời, GV cung cấp: Khả năng
sóng
thần ở nước ta là không lớn nhưng
những khó khăn thực sự tiềm ẩn khả năng này. Vì vậy
và thiệt hại do chúng ta cần làm tốt công tác dự báo
sóng thần gây ra và có kĩ năng phòng tránh hiệu quả.
trong lục địa
đưa ra.
Độ muối của
các biển và
đại
dương
không giống
nhau tùy
thuộc
vào
nguồn nước
sông đổ vào
nhiều hay ít và
độ bốc hơi lớn
hay nhỏ.
2. Sự vân
động
của
nước Biển và
Đại dương.
a. Sóng:
+ Là
dưới chân khi đứng trên bờ. Sau đó
nước biển sủi bọt, một thời gian sau
nước biển đột ngột rút raxa bờ. Cuối
cùng một bức tường nước khổng lồ
sẽ
đột ngột tến nhanh vào bờ, tàn phá
tất cả những gì chúng đi qua.
HS: Quan sát H62 và H63 SGK trang
74
GV: Nhận xét sự thay đổi của ngấn
nước Biển ven bờ?
* Tích hợp kiến
thức vật lí:
Học sinh vận dụng
kiến thức liên môn
vật lí để giải thích
hiên tượng thủy
triều là do sức hút
của Mặt Trăng và
một phần t Mặt
ừ
Trời lên Trái Đất
trong khi Trái Đất
quay đã tạo nên
hiện tượng nước
lên( triều lên),
nướ rút ( triều
c
xuống) vào những
nước
lên
theo
10
Thủ
triều
y
có nhiều loại, phổ
biến nhất l bán
à
nhật triều. Bán
nhật triều là hiện
tượng trong một
ngày trăng (24 giờ
50 phút) có 2 lần
nước lớn và 2 lần
nước ròng.
* Kiến thức lịch
sử:
Giáo viên cho HS
tìm hiểu nhân dân
ta đã vận dụng
những hiểu biết
về
quy luật lên xuống
của thủy triều để
đánh
tổ
quốc Đó l các
.
à
trận chiế thắng
n
Bạch Đằng năm
938 của
Ngô
Quyền đánh đuổi
quân Nam Hán;
Kháng chiến
chống
Tống của Lê Hoàn
năm 981; Kháng GV: Ngày nay chúng ta còn khai thác
chiến chống quân vận động của sóng biển và thủy
triều
Nguyên Mông năm để tạo ra nguồn năng lượng thân
1228 của Trần thiện với môi trường ( than xanh ),
Quốc
giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Tuấn.
*
T
í
c
h
h
ợ
m và hiệu quả,
ứng phó với biến
đổi khí hậu.
Giáo dục cho học
sinh biết có thể
- Nguyên nhân
là do sức hút
của
Mặt
Trăng và 1
phần Mặt Trời
làm cho nước
biển vận
động lên
xuống.
11
khai thác các vận HS: Quan sát H.64 trang 75
độn
củ
nước
g
a
biển như sóng và
thủy triều để tạo
ra năng lượng
nhiễm biển đang ở mức báo động
vậy theo em nguyên nhân hiện tượng
này là gì ?
HS: Chất thải từ các nhà máy đổ
ra.Hiện tượng đắm tàu và tràn dầu
của tàu chở dầu.Ý thức của người
dân chưa tốt trong bảo vệ môi
trường
3. Dòng biển.
- Là hiện
tượng chuyển
động của lớp
nước
biển
trên mặt, tạo
thành
các
dòng
chảy
trong biển và
đại dương.
- Nguyên nhân
sinh ra các
dòng biển chủ
yếu là các loại
gió
thổi
thường xuyên
bị ô nhiễm
- Biết
nguyên
nhân gây ô nhiễm
nước biển và đại
dương và hậu quả
- Có ý thức bảo vệ,
không
làm
ô
nhiễm nước biển
và đại dương;
phản đối hành vi
làm ô nhiễm nước
biển
và
đại
dương.
biển. Chất thải nông nghiệp…
GV: Muốn bảo vệ môi trường biển
chúng ta cần phải làm gì?
HS: Chúng ta cần có ý thức bảo vệ,
không làm ô nhiễm nước biển và đại
dương; phản đối hành vi làm ô
nhiễm nước biển và đại dương; bảo
vệ sự đa dạng sinh học của biển...
IV. TỔNG KẾT, HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1. Tổng kết ( 4’)
thì học sinh đã rất hào hứng, phấn khởi và tự các em đã có thêm những cảm
nhận, những hiểu biết mà bản thân tự khám phá về bài học.
Khi tích hợp với các kiến thức liên môn, học sinh cảm thấy bài học
thú vị hơn. Đồng thời tôi thấy rằng “tích hợp” là một khái niệm được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong giáo dục, tích hợp ki ến th ức liên
môn vào giải quyết các vấn đề trong một môn học sẽ giúp học sinh hi ểu
rộng hơn, sâu hơn về vấn đề đặt ra trong môn học đó. Từ đó giúp h ọc sinh
thêm yêu quý môn học địa lí, hăng hái học tập và cho kết qu ả cao h ơn.
Trong thực tế tôi nhận thấy khi soạn bài có kết hợp các kiến thức của
các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hi ểu rõ h ơn, sâu h ơn
những vấn đề đặt ra. Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá nhiều
kiến thức và được suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó vận dụng ki ến th ức
vào thực tế tốt hơn.
Kết quả qua bài kiểm tra giáo viên tự tổ chức cho học sinh ở l ớp 6A
và 6B năm học2015 - 2016. Không thử nghiệm dạy và thử nghi ệm d ạy “
Kinh nghiệm vận dụng dạy học tích hợp, liên môn để nâng cao hiệu
quả bài học: Biển và Đại Dương - Địa lí lớp 6”.
Kết quả cụ thể như sau:
Kết quả lớp 6B năm học: 2015 - 2016 không qua thử nghiệm.
Kết quả đạt
được
Tổng số
Giỏ
Khá
Trung bình
Yếu, kém
i
học
Số
%
• Kết quả lớp 6A năm học: 2015 - 2016thử nghiệm dạy h ọc tích h ợp
liên môn.
Kết quả đạt
được
Tổng số
Giỏ
Khá
Trung bình
Yếu, kém
i
học
Số
%
Số
%
Số
%
Số
%
sinh
lượng
lượng
lượng
lượn
g
43
12
27.9
được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong
một môn học hoặc gữa các môn học thành một nội dung th ống nh ất.Vi ệc
dạy học theo hướng tích hợp liên môn sẽ giúp giáo viên có tầm hiểu biết sâu
rộng về kiến thức cần truyền tải cho học sinh, giúp giáo viên đào tạo ra
những học sinh có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế một cách sinh
động.
- Với học sinh, các kiến thức liên môn áp dụng trong bài học sẽ tạo
hứng thú cho các em để các em vừa hiểu được nội dung bài học lại vừa hi ểu
thêm những kiến thức của các môn học khác, đồng thời có thể vận dụng các
kiến thức đó để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, từ đó các em phát
triển toàn diện hơn về mọi mặt. Phương pháp dạy học tích hợp, liên môn
không phải là mới, nhưng nếu biết vận dụng hợp lý, người giáo viên sẽ làm
cho bài giảng thêm sinh động, có tính hấp dẫn với học sinh.
- Qua kết quả thực nghiệm của bản thân, tôi thấy vận dụng nguyên
tắc liên môn trong dạy học địa lí theo phương pháp tích h ợp đã kích thích
hứng thú học tập trong học sinh, giúp các em lĩnh hội bài tốt nhằm nâng cao
hiệu quả của bài học. Việc vận dụng phương pháp trên kết hợp với các hình
thức dạy học tích cực khác sẽ làm học sinh thêm yêu thích môn Địa lí, truyền
cho các em lòng yêu nước, tự hào với truyền thống dân tộc, từ đó có ý th ức
hơn trong học tập và rèn luyện.
-Từ kết quả thực nghiệm đề tài“ Kinh nghiệm vận dụng dạy học
tích hợp, liên môn để nâng cao hiệu quả bài học: Biển và Đ ại Dương Địa lí lớp 6”, qua kiểm tra đánh giá thực tế kết quả học tập của học sinh
cho thấy tính hiệu quả của đề tài là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn và có khả
năng áp dụng tốt trong quá trình giảng dạy môn Địa lí, trên c ơ sở đó có th ể
áp dụng tương tự cho nhiều bài học khác.
Với nội dung nghiên cứu và đưa vào áp dụng cụ thể sáng ki ến kinh
nghiệm trên, bản thân rút ra được những bài học kinh nghiệm cụ th ể nh ư
sau :
16