ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------
LƢƠNG THỊ DUNG
ẢNH HƢỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2016
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------
LƢƠNG THỊ DUNG
ẢNH HƢỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn
ủng hộ và giúp đỡ để tôi có thể thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lương Thị Dung
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... ii
1.Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2.Tình hình nghiên cứu .............................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ...........................................................8
CHƢƠNG 1: CÔNG GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA
NGƢỜI DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY ......................................................9
1.1 Khái quát chung về Công giáo tỉnh Ninh Bình. ...............................................9
1.1.1 Công giáo và giáo lý, giáo luật , nghi lễ của Công giáo tỉnh Ninh Bình...........9
1.1.2 Tình hình Công giáo ở tỉnh Ninh Bình .............................................................16
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời dân tỉnh Ninh Bình hiện nay. ................22
1.2.1 Một số khái niệm ..............................................................................................22
1.2.2 Địa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần
người dân ở tỉnh Ninh Bình hiện nay. .......................................................................30
CHƢƠNG 2: ẢNH HƢỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN NGƢỜI DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY: MỘT SỐ
PHƢƠNG DIỆN VÀ GIẢI PHÁP .........................................................................41
2.1 Ảnh hƣởng của Công giáo đến một số phƣơng diện của đời sống văn hóa
không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “đền bù hư ảo” cho một bộ phận quần
chúng nhân dân mà bản thân tôn giáo cũng mang trong mình những giá trị
đạo đức, văn hóa, nghệ thuật ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh
thần của người dân. Vì vậy mọi quốc gia dù có chế độ chính trị khác nhau,
cũng đều phải quan tâm tới vấn đề tôn giáo.
Nhận thức được vai trò của tôn giáo, ngay từ Hiến pháp năm 1946, bản
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xác nhận“ mọi
công dân Việt Nam có quyền tự do, tín ngưỡng’’. Nghị quyết 25-NQ/TW
ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung Ương (Khóa IX) về công tác tôn
giáo đã xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta’’. Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, ta nhận thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống văn
hóa xã hội. Tôn giáo với tính cách là một yếu tố cấu trúc của xã hội, nó vừa
có khả năng tạo nên những giá trị làm phong phú thúc đẩy đời sống văn hóa
tinh thần của xã hội song cũng có thể tạo nên những cản trở đối với sự phát
triển của đời sống văn hóa tinh thần, đời sống xã hội. Trong công cuộc đổi
mới và dân chủ hóa xã hội đời sống hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có sự nhìn
nhận đánh giá đúng và sát hợp hơn nữa về vấn đề tôn giáo.
Công giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, Công giáo du
nhập vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XVI, cho đến nay đã hơn 400 năm.
1
Hiện nay Công giáo là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam, có cơ cấu
tổ chức chặt chẽ, hệ thống thứ bậc rõ ràng. Từ khi được truyền vào Việt Nam
đến nay Công giáo đã không ngừng phát triển cả về tín đồ, chức sắc, chức
việc, về các dòng tu…Mặc dù du nhập vào Việt Nam chưa lâu nhưng Công
giáo đã trở thành một thành tố văn hóa không thể tách rời của nền văn hóa
dân tộc và có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống văn hóa tinh thần của
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú, lành mạnh ở Ninh
Bình và trong phạm vi cả nước.
Từ những lý do trên đặt ra cho chúng ta những yêu cầu cần thiết tìm
hiểu nghiên cứu những vấn đề tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Vì
vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống
văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bình hiện nay ”, làm luận văn
Thạc sĩ.
2.Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về Công giáo là một trong những lĩnh vực được nhiều
người quan tâm tìm hiểu, lý giải và hiện nay đã có rất nhiều đề tài, công trình
nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như: đạo đức học, sử học,
nhân học, xã hội học, tôn giáo học, triết học, thần học…
Trên lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử - triết học – tôn giáo có một số
công trình đã công bố như: Mười tôn giáo lớn trên thế giới của Hoàng Tâm
Xuyên (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Tác phẩm Một số
vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam của Đỗ Quang Hưng, Tủ sách
Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1991; Tôn giáo thế giới và Việt Nam của Mai
Thanh Hải, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000; Một số tôn giáo ở Việt
Nam của tác giả Nguyễn Thanh Xuân, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2005; Thập giá
và lưỡi gươm của linh mục Trần Tam Tĩnh, bản gốc tiếng Pháp: “Catholique
3
et César”, được linh mục Vương Đình Bích dịch sang tiếng Việt, Nxb. Trẻ ấn
hành năm 1978; ); Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam (từ thế
kỷ XII đến thế kỷ XIX) (Nguyễn Văn Kiệm, Hội khoa học lịch sử Việt Nam,
Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà
Nội, 2001); Tôn giáo lý luận xưa và nay của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh
Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2005;
Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Hồng
cập đến một không gian cụ thể: Làng Công giáo Lưu Phương trong một
khoảng thời gian từ khi thành lập 1829 đến trước Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 dưới góc độ lịch sử và văn hoá- tôn giáo. Những thay đổi trong
mối quan hệ giữa cộng đồng đồng bào Công giáo và ngoài Công giáo trước
và sau khi Pháp xâm lược ở làng Lưu Phương cũng được phân tích. Đây có
thể coi là một trong những làng khá điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ.
Ngoài ra, nghiên cứu về Công giáo ở Ninh Bình, còn phải kể đến
công trình nghiên cứu của Nguyễn Hồng Dương “Về một số làng Công giáo
ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đầu thế kỷ XIX”. Tác giả đã cho người đọc
một cái nhìn tương đối toàn diện về hoạt động, cơ cấu tổ chức, các lễ nghi về
Công giáo gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể, đặc trưng của Công
giáo ở huyện Kim Sơn, Ninh Bình.
Các công trình đề cập tới đạo Công giáo ở giáo phận Phát Diệm còn có
cuốn: Địa chí Ninh Bình của Tỉnh ủy Ninh Bình (2010) đã đề cập tới quá
trình khai khẩn và thành lập huyện Kim Sơn trong đó có đề cập tới vai trò
của người Công giáo cũng như tình hình Công giáo ở địa phận Phát Diệm.
Lã Đăng Bật có các công trình nghiên cứu: Nho Quan vùng đất cổ; Kim sơn
vùng đất mở và Đất và người Ninh Bình đã đề cập đạo Công giáo ở Ninh
Bình và nhà thờ Phát Diệm. Tiến sĩ Lê Văn Thơ với công trình nghiên cứu
“Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm giáo phận Phát Diệm Ninh
5
Bình” (2012) đã làm rõ quá trình hình thành, phát triển củ a đạo Công giáo ở
giáo phận Phát Diệm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; phân tích thực trạng và
đặc điểm của giáo phận Phát Diệm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay; Từ
đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của đạo Công giáo.
Ngoài ra, chúng ta cũng còn phải kể đến một số bài nghiên cứu, chẳng
hạn như Nguyễn Phú Lợi, “Vài nét về công cuộc khai hoang thành lập Làng
dân tỉnh Ninh Bình hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng
Luận văn chỉ tập chung nghiên cứu ảnh hưởng của Công giáo đến đời
sống văn hóa tinh thần người dân cụ thể là người Công giáo trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình hiện nay.
4.2 Phạm vi
Luận văn giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của Công giáo tới một số
phương diện của đời sống văn hóa tinh thần, đó là đạo đức, lối sống, hôn nhân
và gia đình, và tín ngưỡng truyền thống – tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Thực hiện đề tài này tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; những quan điểm, đường lối chính
sách của Đảng về tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng; kế thừa các
công trình nghiên cứu về tôn giáo và Công giáo của các nhà khoa học trong
và ngoài nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
7
Người viết quán triệt những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đề tài được lý giải, phân
tích, chứng minh chủ yếu bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn
dịch, quy nạp, so sánh, đối chiếu, loại suy và các phương pháp khác như văn
bản học, tôn giáo học với nguyên tắc tiếp cận liên ngành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần xây dựng những luận cứ khoa học và hoàn thiện
Chúa Kitô với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giám mục trong
toàn Giáo hội.
Công giáo là tôn giáo thờ Thiên Chúa Ba Ngôi (Chúa Cha, Chúa
Con, và Chúa Thánh Thần) nhưng cùng một bản thể và uy quyền như nhau.
Trong bốn chi phái chính của Kitô giáo, bên cạnh đạo Tin Lành, Chính
thống giáo và Anh giáo, Công giáo là tôn giáo duy nhất có Giáo hội hoàn
vũ, nghĩa là một tổ chức chung cho tất cả các Giáo hội địa phương, tức Tòa
thánh Vatican hiện nay, đứng đầu là Giáo hoàng.
Đạo Công giáo được du nhập vào Việt Nam đến nay đã gần 5 thế kỷ.
Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, năm 1533 được xem là năm
9
khởi đầu cho Công giáo tại Việt Nam với sự truyền đạo của thừa sai Innêkhu
(hay Inhaxiô). Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam với
nhiều thăng trầm, biến động. Từ một tôn giáo ban đầu hoàn toàn xa lạ với xã
hội Việt Nam, đến nay đạo Công giáo đã phát triển trở thành tôn giáo lớn ở
Việt Nam, với nhiều hoạt động đa dạng và có những ảnh hưởng lớn trong đời
sống văn hóa-xã hội Việt Nam.
Cùng với quá trình du nhập và phát triển của Công giáo trên khắp đất
nước. Công giáo cũng đã được du nhập vào Ninh Bình, trong quá trình tồn tại
và phát triển Công giáo Ninh Bình cũng đã tạo cho mình những đặc điểm
riêng biệt, tuy nhiên giáo lý, giáo luật và nghi lễ vẫn mang những đặc điểm
chung của Công giáo Việt Nam.
- Giáo lý Công giáo
Giáo lý của Công giáo nằm trong kinh thánh gồm hai bộ: Cựu Ước
(46 quyển) và Tân Ước (27 quyển). Sách Cựu Ước, vốn là sách của đạo Do
Thái, trình thuật về Thiên Chúa với công việc sáng tạo ra vũ trụ và con người,
kể về những phong tuc tập quán của người Do Thái và loan báo, chuẩn bị cho
sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Sách Tân Ước tiếp nối Sách Cựu Ước, kể về
thường.
3) Giành ngày chủ nhật để phụng thờ Thiên chúa.
4) Thảo kính Cha Mẹ.
5) Không được giết người.
6) Không được dâm dục
7) Không được gian tham lấy của người khác
8) Không được làm chứng dối, che dấu sự gian dối.
9) Không được ham muốn vợ hoặc chồng của người khác.
10) Không được ham muốn của trái lẽ.
11
Mười điều răn của Thiên chúa đã cho khắc vào đá ban cho Maisen, tổ
phụ của người Do thái, chung quy lại hai điều được coi là tôn chỉ của Công
giáo là kính Chúa và yêu người.
Giáo luật Công giáo quy định các tín đồ không ai được quyền vi phạm
một trong mười điều răn trên, bởi chỉ cần phạm vào một điều là phạm tới tất
cả những điều răn còn lại. Điều này là tất yếu, bởi không thể tôn trọng người
khác mà không chúc tụng Thiên Chúa – Đấng sáng tạo ra họ, lại càng không
thể chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương những con người vốn là sản
phẩm của Thiên Chúa tạo ra.
Ngoài Mười điều răn của Chúa, luật lệ Công giáo còn được quy định
bởi “Sáu điều răn của Giáo hội” đó là:
1) Xem lễ các ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc.
2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật.
3) Xưng tội mỗi năm một lần.
4) Chịu lễ mùa phục sinh.
5) Giữ chay những ngày quy định.
6) Kiêng ăn thịt vào những ngày quy định.
Ngoài ra các tín đồ phải chịu bảy phép bí tích: phép rửa tội, phép thêm
ngày lễ Chúa Giêsu lên trời luôn rơi vào ngày thứ năm, nhưng thường được
rời vào ngày chủ nhật kế tiếp. Theo Tân ước, khi Chúa Giêsu sống lại, ngài ở
lại cùng các môn đệ trong 40 ngày, sau đó lên trời để kết thúc sự hiện diện
của ngài giữa loài người trần thế.
- Lễ Chúa Thánh thần hiện xuống (có một số nơi gọi là lễ Hiện xuống,
Giáng xuống, hạ trần, Lễ Ngũ Tuần ): đây là một ngày lễ trọng của người theo
Công giáo được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu ngày lễ phục sinh,
và sau mười ngày kể từ ngày lễ Chúa Giêsu lên trời.
13
Người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánh
thần hiện xuống, ngày này người Ki tô giáo tin là mang đến những tín hiệu tốt
lành về niềm tin vào sự sống.
- Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời: đây là ngày lễ cổ xưa nhất trong
các ngày lễ kính Đức mẹ của người Ki tô giáo. Trong những thế kỷ đầu ngày
lễ Đức bà hồn xác lên trời được gọi là lễ Đức mẹ an giấc. Kể từ năm 1950 khi
Giáo hoàng Piô XII định tín việc Đức mẹ được cân nhắc về trời cả về trời cả
hồn lẫn xác.
Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời được cử hành vào ngày 15 tháng
8, nhưng theo truyền thống của Giáo hội Phương Đông sẽ dành 15 ngày đầu
của tháng để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn. Ở Việt Nam ngày lễ
kỷ niệm Đức bà hồn và xác lên trời thường chỉ được tổ chức trong ngày 15
tháng 8 mà thôi và được các tín hữu tham gia đông đảo.
- Lễ các Thánh, là một lễ trọng được tổ chức vào ngày 01 tháng 11
hàng năm. Trong Ki tô giáo Tây phương hoặc chủ nhật đầu tiên sau Lễ Ngũ
Tuần, trong Ki tô giáo Phương Đông, nhằm tôn vinh tất cả các vị Thánh Kitô
giáo đang hưởng phúc trên thiên đàng. Ở nhiều quốc gia có truyền thống
Công giáo Lễ các Thánh là một ngày lễ nghỉ.
tháng 6 hàng năm.
- Lễ cầu nguyện cho các linh hồn, được cử hành vào ngày 2 tháng 11
hàng năm.
- Ngoài ra Giáo hội Công giáo còn chia một năm thành từng tháng,
từng mùa để làm chủ đích cho các sinh hoạt tôn giáo và các hoạt động cho các
tín đồ, như tháng 3 là tháng kính Thánh cả Giuse, tháng năm là tháng Dâng
hoa kính Đức bà Maria, tháng sáu là tháng kính Trái tim của Chúa Giêsu,
tháng 11 là tháng cầu nguyện cho các linh hồn, mùa vọng từ 30 tháng 11 đến
Lễ Giáng sinh,…
15
1.1.2 Tình hình Công giáo ở tỉnh Ninh Bình
Công giáo được truyền vào Ninh Bình từ rất sớm, theo cuốn “Lịch sử
đàng ngoài” thì ngày 19/3/1627 linh mục Anlexandre de Rohdes (giáo dân
thường gọi là Đức cha Đắc Lộ) cùng giáo sĩ Pierre Margue đến cửa Ba Làng
(Hậu Lộc – Thanh Hoá) lập cửa thánh Juise. Sau đó, trên đường đi thuyền ra
Thăng Long, ngày 3/4/1627 đến cửa biển Thần Phù, gần mom núi Yên
Duyên, Hảo Nho (thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên Mô tiếp giáp với xã Lai
Thành, huyện Kim Sơn ngày nay), tiến hành truyền đạo, đánh dấu quá trình
truyền đạo và phát triển đạo ở Ninh Bình. Qúa trình hình thành và phát triển
của đạo Công giáo ở Ninh Bình chia thành các thời kỳ:
- Thời kỳ các giáo sĩ Dòng Tên (1027 – 1665): Theo nguồn sử liệu của
nhà Nguyễn, Công giáo du nhập vào Việt Nam năm 1533. Tuy nhiên, việc
truyền giáo ở Việt Nam chỉ thực sự đạt kết quả vào đầu thế kỷ XVI thời các
giáo sĩ Dòng Tên. Năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma
Cao ( Trung Quốc ) đến Đàng Trong. Năm 1627, hai giáo sĩ Alexandre de
Rhodes và Bdro Marquez đến Cửa Bạng (Ba Làng, Thanh Hóa), mở đầu cho
thời kỳ truyền giáo của Đàng Trong ở Đàng Ngoài nói chung và Ninh Bình
phát triển.
- Thời kỳ từ năm 1862 đến năm 1900. Sau khi nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm
đạo (1862), đặc biệt từ khi linh mục Trần Lục làm chánh xứ Phát Diệm
(11865-1899), dựa vào chế độ của thực dân phong kiến, ông đã tìm cách
chiếm đoạt ruộng đất để lôi kéo người vào đạo, nên đạo Công giáo ở Ninh
Bình phát triển mạnh mẽ theo hai tuyến chính: Thứ nhất, từ xứ Phúc Nhạc,
Yên Vân và Phát Diệm phát triển ra vùng đồng bằng ven biển và khu trung
tâm của tỉnh gồm các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô và thị xã Ninh
Bình. Đây là tuyến đạo Công giáo phát triển nhanh và mạnh nhất. Thứ hai, từ
hai xích đạo Bạch Bát và Đồng Chưa phát triển vào vùng sâu miền núi, vùng
17
đồng bào Mường các huyện Gia Viễn, Nho Quan, một phần huyện Yên Mô,
Gia Khánh. Đồng thời, tổ chức giáo hội, cơ sở vật chất được xây dựng, nhất
là việc hoàn thiện quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm đã chuẩn bị mọi điều
kiện cho sự ra đời của giáo phận Phát Diệm.
- Thời kỳ 1901 – 1932. Ngày 15-4-1901, Giáo Hoàng Lêô XIII ban sắc
lệnh chia địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), thành lập địa phận Bắc Kỳ
Duyên Hải, quen gọi là giáo phận xứ Thanh do giám mục Alexandre Marcou
(Thành) coi sóc. Tòa giám mục và nhà thờ chính tòa đặt tại Phát Diệm. Dưới
thời giám mục Marcou Thành, Công giáo ở Phát Diệm phát triển rất mạnh.
Năm 1932, giáo phận Thanh Hóa được thành lập trên cơ sở tách khỏi giáo
phận Phát Diệm. Từ đây, địa giới hành chính của giáo phận Phát Diệm nằm
trọn trong tỉnh Ninh Bình và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình hiện nay.
- Thời kỳ từ năm 1933 đến năm 1954. Giáo phận Phát Diệm có sự
chuyển biến khá mạnh mẽ, không chỉ tăng nhanh về số lượng tín đồ, đội ngũ
giáo sĩ, tu sĩ người Việt, mà tổ chức xứ, họ đạo, cơ sở vật chất, tổ chức giáo
hội cũng được xây dựng hoàn thiện từ Tòa Giám mục xuống các xứ, họ đạo.
Đây là giáo phận đầu tiên ở Việt Nam được giao cho hàng giáo sĩ người Việt
triển mạnh ở vùng ven biển huyện Kim Sơn mà đã lan rộng vào nội địa, vùng
đồng bằng chiêm trũng Gia Viễn và lấn sâu vào vùng miền núi, khu vực đồng
bào dân tộc Mường ở Nho Quan (Ninh Bình), Lạc Thủy (Hòa Bình).
Hiện nay, đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh có Tòa Giám mục Phát
Diệm, với 77 gíao xứ, 358 giáo họ, 336 nhà thờ giáo xứ, giáo họ; có 01 Giám
mục, 80 linh mục; có 02 dòng tu là Dòng Mến Thánh giá Phát Diệm với 138
nữ tu, 100 dự tu và Dòng Xi tô Châu Sơn có 01 Giám mục nghỉ hưu, 10 linh
mục, 106 tu sĩ, tập tu. Có 25 loại hội đoàn với 1.158 hội đoàn. [76]
Thời gian qua, Tòa Giám mục Phát Diệm tập chung chỉ đạo các chức
sắc, chức việc trong giáo phận tăng cường các hoạt động củng cố đức tin cho
19