An ninh nguồn nước và quyền tiếp cận nước sạch của người dân vùng đồng bằng sông hồng thực trạng và giải pháp luận văn ths pháp luật và quyền con người - Pdf 69

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ QUNH MAI

AN NINH NGUồN NƯớC
Và QUYềN TIếP CậN NƯớC SạCH CủA NGƯờI DÂN
VùNG ĐồNG BằNG SÔNG HồNG - THựC TRạNG Và GIảI PHáP
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. V QUANG

H NI 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Quỳnh Mai


Mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước và quyền con người.......................16

1.1.5.

Các thách thức, rủi ro về an ninh nguồn nước trong khu vực Châu Á........18

1.2.

Một số vần đề lý luận về quyền tiếp cận nƣớc sạch..............................23

1.2.1.

Lịch sử quyền về nước............................................................................... 24

1.2.2.

Cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận nước sạch của người dân.......................28

1.2.3.

Nội dung của quyền sử dụng nước............................................................. 36

1.2.4.

Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên........................................................ 38

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƢỚC
VÀ QUYỀN TIẾP CẬN NƢỚC SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 45

Khả năng tiếp cận....................................................................................... 56

2.2.2.

Tính bền vững............................................................................................ 62

2.2.3.

Tính công bằng........................................................................................... 65

Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO CƠ CHẾ ĐẢM
BẢO AN NINH NGUỒN NƢỚC VÀ QUYỀN TIẾP CẬN NƢỚC
SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 68
3.1.

Hội nhập và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trƣờng............................... 68

3.1.1.

Hội nhập quốc tế về bảo vệ môi trường..................................................... 69

3.1.2.

Hợp tác quốc tế trong việc sử dụng nguồn nước trên các lưu vực
sông quốc tế và bảo đảm thực hiện quyền 70

3.2.

Giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nƣớc


82

3.2.5.

Bảo đảm tính cộng đồng và tính công bằng trong quản lý sử dụng nước...85

3.2.6.

Nhóm giải pháp liên quan đến một số ngành............................................. 87

KẾT LUẬN............................................................................................................ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 91

4


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

AICHR

Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (ASEAN
Intergovernmental Commission on Human Rights)

ASEAN

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of

Organization)

WB

Ngân hàng thế giới (World Bank)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Bảng 1.1:
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên có giới hạn và là một loại hàng
hóa công cộng thiết yếu cho đời sống và sức khỏe. Một cuộc sống theo đúng nghĩa
3

của nó không thể thiếu quyền có nước uống. Trái đất ước tính có 1,4 tỉ km nước,
nhưng trừ đi những phần nước mặn, nước đóng băng và nước ở sâu dưới lòng đất
không thể khai thác được, thì chỉ còn lại 0,75% để phục vụ con người. 0,75% ấy lại
được phân chia không đồng đều. Nước sạch không phải là nguồn tài nguyên dành
cho tất cả mọi người bởi vẫn còn 11% (khoảng 783 triệu người) vẫn không được
tiếp cận nguồn nước an toàn. Thêm vào đó, sự khác biệt lớn cũng diễn ra giữa khu

nguồn nước cũng như vấn đề quyền tiếp cận nước sạch của người dân ở Việt Nam
nói chung, vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng cần được nhận thức một cách đầy
đủ, có hệ thống và rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Vì những lý do nêu trên tác giả đã chọn đề tài “An ninh nguồn nước và
quyền tiếp cận nước sạch của người dân vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng
và giải pháp” cho luận văn của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu

Vấn đề về an ninh nguồn nước và việc sử dụng nước sạch tại đồng bằng sông
Hồng tuy không phải là vấn đề mới tại Việt Nam, nhưng hiện nay là vấn đề mới
trong khoa học pháp lý, đặc biệt là liên quan đến lĩnh vực nhân quyền. Vấn đề về an
ninh nguồn nước được các nhà khoa học Việt Nam tập trung nghiên cứu dưới góc
độ thủy lợi và phát triển bền vững. Quyền tiếp cận nước sạch cũng chỉ được các nhà
luật học Việt Nam nghiên cứu như là một phần nhỏ trong quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa trong cách sách chuyên khảo, tạp chí. Mỗi tác giả nghiên cứu, khai thác an
ninh nguồn nước và quyền tiếp cận nước sạch dưới nhiều khía cạnh riêng của mình.
Điển hình là các công trình:
Bài viết “Suy giảm tài nguyên nước và nguy cơ mất an ninh nguồn nước ở
Việt Nam”của tác giả Lê Bắc Huỳnh, 2013, đăng trên trang web của Cục quản lý tài
nguyên nước – Bộ tài nguyên môi trường. Bài viết đã đề cập đến thực trạng an ninh
nguồn nước tại Việt Nam dưới góc độ phát triển bền vững.
Nghiên cứu của John Scanlon, Angela Cassar và Noémi Nemes với đề tài
“Nước là quyền con người?” trong chương trình Luật môi trường của Tổ chức

2


bảo tồn thiên Quốc tế(IUCN), năm 2004 đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa

sử dụng nguồn nước tại khu vực và đảm bảo việc thực hiện quyền sử dụng nước
sạch của người dân.

3


3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề an ninh nguồn nước tại khu vực
đồng bằng sông Hồng dựa trên tình hình thực tế có tham chiếu đến các chính sách,
quy định pháp luật có liên quan. Đồng thời luận văn đi sâu vào nghiên cứu lý luận,
các quy chuẩn của quyền tiếp cận nước sạch tại các Điều ước quốc tế và tại các văn
bản khác của Việt Nam làm cơ sở cho việc đánh giá về quyền tiếp cận nước sạch
của người dân vùng đồng bằng sông Hồng. Thông qua việc đánh giá thực trạng
trong 5 năm từ năm 2009 – 2013 để có cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như việc thực hiện đạt hiệu quả cao.
4.

Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài

Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, trong đó có sự vận dụng tổng hợp các phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để thấy được tiến trình hình thành và phát
triển các quy định về an ninh môi trường, an ninh nguồn nước và các quyền về nước
trên thế giới và Việt Nam, cụ thể hơn là tại đồng bằng sông Hồng. Đồng thời quán
triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước đối với an ninh nguồn nước và quyền tiếp cận nước sạch…
Ngoài ra, để lý giải các vấn đề lý luận, giúp cho các vấn đề nghiên cứu được
nhìn nhận từ nhiều góc độ, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp như:
phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá… Các số
liệu có liên quan được nêu trong luận văn do tác giả thu thập và phân tích từ các báo

hiệu quả.
Luận văn còn cung cấp cơ sở lý luận cho Đảng, Nhà nước để xây dựng chủ
trương, đường lối, chính sách, pháp luật đối với việc quản lý, sử dụng nguồn nước
đảm bảo an ninh và quy định việc thực hiện quyền tiếp cận nước sạch trong các văn
bản pháp luật có hiệu quả.
Công trình nghiên cứu giúp ích cho các nhà nghiên cứu trong công tác tuyên
truyền, chỉ đạo thực hiện pháp luật.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong
việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan (đến chủ đề của luận văn). Ngoài
ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên
cứu ở Khoa Luật Ðại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam.
7.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung về an ninh nguồn nước và quyền tiếp
cận nước sạch
Chương 2. Thực trạng về đảm bảo an ninh nguồn nước và quyền tiếp cận
nước sạch của người dân vùng đồng bằng sông Hồng
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao cơ chế đảm bảo an ninh nguồn
nước và quyền tiếp cận nước sạch của người dân vùng đồng bằng sông Hồng.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN NINH NGUỒN NƢỚC
VÀ QUYỀN TIẾP CẬN NƢỚC SẠCH

cổ đại đã coi nước là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển
của xã hội loài người thì các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát
triển trên lưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở
lưu vực hai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh
Ai Cập ở hạ lưu sông Nile; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng
Hà ở Trung Quốc; nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam...
Tài nguyên nước của một quốc gia hay của một vùng lãnh thổ gồm 2 loại:
loại từ nước nội địa sinh ra do mưa trừ đi lượng bốc hơi và loại nước quá cảnh chảy
từ nước khác (hoặc vùng lân cận đến).
Tài nguyên nước bao gồm nước trong khí quyển, nước mặt, nước dưới mặt
nước biển và đại dương. Các nguồn nước này hầu hết là tài nguyên tái tạo, nằm
trong chu trình tuần hoàn của nước. Mặc dù lượng nước trên Trái Đất là khổng lồ,
song lượng nước ngọt cho phép con người sử dụng chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé
(dưới 1/100.000). Hơn nữa sự phân bố của các nguồn nước ngọt lại không đều theo
không gian và thời gian càng khiến cho nước trở thành một dạng tài nguyên đặc
biệt, cần phải được bảo vệ và sử dụng hợp lý.
Ngân hàng thế giới (WB) dự báo rằng trong 20 năm tới dân số thế giới có thể
đạt tới 8 tỷ người, sẽ làm tăng nhu cầu nước lên 650% khiến cho 26 quốc gia với
250 triệu dân sẽ lâm vào tình cảnh thiếu nước, căng thẳng về nước. Người ta
tính
rằng cứ sau 21 năm, nhu cầu sử dụng nước lại tăng gấp đôi. Trong khi đó hiện nay,
ô nhiễm nước vẫn không ngừng tăng lên. 1/4 số hồ của Trung Quốc bị ô nhiễm,
hàng ngàn hồ của Thụy Điển bị Axit hóa, 3/4 lượng nước sông của Balan bị nhiễm
bẩn đến mức chỉ sử dụng cho nhu cầu công nghiệp cũng không đạt 2.
Các giá trị và tầm quan trọng của tài nguyên nước tại các lưu vực sông đã có
sự tác động đối với các nguồn tài nguyên khác và với con người, cụ thể như sau:
+
các

Tầm quan trọng theo tính chất đa chức năng gồm có: (i) Cung cấp

trọng nhiều hơn tới việc mở rộng khái niệm truyền thống về an ninh sang những
lĩnh vực được gọi là các nguy cơ mới như cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, vi
phạm quyền con người, sự lan tràn của các căn bệnh truyền nhiễm và nguy cơ
xuống cấp môi trường do nhiễm độc, phá hủy tầng ôzôn, ô nhiễm nguồn nước…
Chính các vấn đề này đã làm thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ cụ thể giữa môi
trường và an ninh.
Nhân loại đã bước sang thế kỷ thứ 21 đối mặt với an ninh và phát triển là sự
thay đổi môi trường. Vấn đề suy thoái môi trường được đưa ra công luận thế giới từ
những năm 60 của thế kỷ 20 từ những bài viết của Rachel Carson. Cho đến những
năm 70, vấn đề này mới được nhận phản hồi tích cực: Hội nghị Stockhom, 1972 đã
đưa vấn đề này lên chương trình nghị sự toàn cầu và thành lập Chương trình Môi

8


trường Liên hợp quốc (UNEP); các tổ chức phi chính phủ như Hòa bình xanh và
Những người bạn của Trái đất, các cơ quan Bảo vệ môi trường Quốc gia đã được
thành lập; nhiều hiệp định đa phương về môi trường được đàm phán. Vào những
năm 80, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) đã được thiết lập và
đưa ra khái niệm mới phát triển bền vững để đưa vào chương trình toàn diện nhằm
cứu lấy môi trường. Ủy ban cũng đã kêu gọi mọi người nhận thức rằng an ninh môi
trường cũng một phần là chức năng của phát triển bền vững 2.
An ninh toàn diện của một quốc gia luôn bao gồm hai bộ phận có mối quan
hệ khăng khít với nhau: an ninh chính trị (bao gồm các yếu tố quân sự, kinh tế và
con người) và an ninh môi trường (bảo vệ và sử dụng môi trường). Các chuyên gia
ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng quốc gia không còn là đối tượng duy nhất đang
được bảo vệ an ninh và ủng hộ việc chuyển từ khái niệm an ninh là tránh khỏi các
mối đe dọa khác sang khái niệm an ninh là tự do tiếp cận tới các dịch vụ về môi
trường. Mối quan hệ giữa an ninh và môi trường rất khó để phân tích, bởi qua hàng
thế kỷ đã coi an ninh là một khái niệm hẹp chỉ sự an toàn, không có xung đột vũ

được sự quan tâm rộng rãi trên thế giới.
1.1.2.2. Một số vấn đề an ninh về nước: sự khan hiếm nước và các tranh
chấp quốc tế liên quan đến nguồn nước
Khái niệm an ninh về nước được hiểu là [2]:

-

-

Nước ngọt và hệ sinh thái được bảo vệ và cải thiện

-

Phát triển bền vững và chính trị ổn định được cổ vũ

Ai cũng có nước sạch để dùng với giá cả phải chăng, đảm bảo sức khỏe và

năng lực sản xuất
-

Con người được bảo vệ khỏi các nguy hiểm do nước gây ra

An ninh về nước của quốc gia là sử dụng tổng hợp, bảo vệ và phòng
chống
có hiệu quả các tác hại về nước với 7 điểm cụ thể:
+

Cung cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh cho mọi người

+

và Hội nghị bộ trưởng 3/2000 tại Hà Lan, qua đó các quốc gia tự xây dựng cho
mình Chương trình hành động quốc gia về an ninh nước thế kỷ 21.
Sự khan hiếm về nước là cực kỳ nhạy cảm, nó dễ dàng tạo ra các kiểu bất ổn
định và rất có thể là cội nguồn của chiến tranh. Trên thực tế, chưa cần nhìn đến
tương lai 10 năm nữa, ngay cả trong quá khứ và hiện tại, nước cũng đã là nguồn tài
nguyên gây ra xung đột và chiến tranh giữa các quốc gia. Kể từ năm 1990, đã có ít
nhất 18 cuộc xung đột nghiêm trọng xảy ra trên khắp thế giới mà nguyên nhân xuất
phát từ sự cạnh tranh về các nguồn tài nguyên như: cuộc chiến tranh nước kéo dài
đến 30 năm ở Sudan…
Nước ngọt chỉ chiếm 1% nguồn tài nguyên nước thế giới, cần cho nhu cầu sử
dụng của con người, cho nông nghiệp và công nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu nước tại
đô thị hiện nay, hơn một nửa thành phố ở Châu Âu đã khai thác quá mức nước ngầm
và nhiều nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng ước tính
hơn 20% dân số thế giới đang bị thiếu nước. Việc tìm kiếm nguồn nước ngọt cấp
cho các thành phố thường gây ra các xung đột tiềm tàng và thậm chí xảy ra các cuộc
chiến tranh vì nước.
Hơn 1 tỷ người không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản như nước, con số
này sẽ tăng lên đến 3 tỷ người trong vòng 25 năm tới. Nhiều nơi trên thế giới, người
nghèo phải mua nước của những người bán lẻ nên thường đắt hơn. Một nghịch cảnh
là trong khi người nghèo đang đấu tranh với nước, thì nhiều thành phố có tới một
nửa lượng nước cấp bị thất thoát do rò rỉ và tệ ăn cắp nước. Do thiếu hiệu quả trong
công tác quản lý và không bình đẳng trong cấp nước như vậy có thể dẫn đến xung
đột sâu sắc hơn về mặt xã hội.

11


Vấn đề khan hiếm nước ngọt chủ yếu xảy ra do sự phân bố không đồng đều,
có thể kể đến như tại Mỹ, dân số chiếm 4% dân số thế giới nhưng sở hữu tới 8%
lượng nước ngọt toàn cầu; Trung Quốc chiếm 22% dân số thế giới nhưng chỉ sở hữu

Đối với các khu vực khan hiếm nước, một kế hoạch có tầm nhìn khu vực cần
được xây dựng một cách hoàn chỉnh và các quốc gia phát triển cần phải sẵn sàng
ủng hộ tài chỉnh cũng như kỹ thuật để thực hiện các kế hoạch như vậy. Cái giá bỏ ra
chắc chắn sẽ nhỏ hơn nhiều so với cái giá chúng ta phải trả khi xảy ra tranh chấp.
Có nhiều kiểu mất an ninh môi trường liên quan đến nước, các chuyên gia đã
gọi là cuộc chiến tranh nước, được Pascal Boniface (2002) đề cập với các kiểu sau:
-

Những cuộc xung đột vũ trang công khai

Thương thuyết, đàm phán căng thẳng giữa các quốc gia về chia xẻ nguồn

nước quá cảnh.
-

Tranh chấp cộng đồng về chiếm dụng nguồn nước: ở nhiều nước, nông

nghiệp bị phê phán vì đã dùng quá nhiều nước nhưng đóng góp kinh tế lại không
đáng kể, nhiều nơi, các dịch vụ du lịch cũng bị lên tiếng vì chiếm dụng nước để
phục vụ du khách…
-

Sử dụng nguồn nước như một công cụ chiến tranh: xâm chiếm, ngăn chặn,

phá hủy các nguồn nước làm cho kẻ địch dưới hạ nguồn khốn đốn. Như trong chiến
tranh vùng Vịnh, máy bay đồng minh tiến công liên tục vào hệ thống thủy lợi của
Iraq, hay quân Serbi đã phá hủy đập Permusa của Croatia năm 1993 trong cuộc
khủng hoảng Bancăng.
-


Kinh tế

Chính trị

Văn hóa

Dân số

Sinh thái


Từ góc độ an ninh con người, biến động môi trường nước đã có tác động rất lớn
trên ba khía cạnh. Thứ nhất, nó có thể trở thành nguồn bất ổn, thậm chí nếu quốc gia
không coi biến đổi môi trường nước như một hiểm họa của những giá trị hay các lợi ích
quốc gia thì các công dân có thể đánh giá khác đi. Thứ hai, nếu quốc gia thực sự đánh
giá mối quan hệ giữa biến động môi trường nước và an ninh cá nhân, thì sự đánh giá
này vẫn có thể bị nhìn nhận từ khia cạnh lợi ích của quốc gia. Thứ ba, biến động môi
trường nước có thể làm xấu đi những dạng tiềm năng của bất an ví dụ như đói nghèo,
phân biệt đối xử hay nạn khủng bố…Cần phải có nhận thức toàn diện về vấn đề an ninh
con người trong mối quan hệ với biến động của môi trường nước 2. Ví dụ như nỗ lực
để giảm bất an bằng cách xóa đói giảm nghèo có thể thất bại nếu liên quan tới việc gia
tăng sự suy giảm hay khan hiếm tài nguyên nước, tạo nên sự tăng trưởng ngắn hạn sẽ
làm lu mờ những mất mát về trung và dài hạn.

Khi an ninh con người và an ninh môi trường nước cũng hướng đến một kết
quả chung sẽ tạo điều kiện, trong đó cá nhân và cộng đồng có sự tiếp cận công bằng
và hợp lý những nhu cầu cần thiết để tồn tại và phát triển khỏe mạnh; các xung đột
về môi trường được giải quyết công bằng; môi trường nước được bảo vệ khỏi hành
vi phá hoại của con người. Dưới hoàn cảnh đó, các thể chế hỗ trợ an ninh con người
sẽ tăng khả năng thích nghi và ứng phó với những thay đổi từ môi trường hơn là


An ninh môi trường (tiếp cận với nguồn cấp nước sạch, không khí trong

lành và một hệ thống đất đai không bị thoái hóa)
+
dọa)

An ninh cá nhân (được bảo đảm an ninh khỏi bạo lực thể chất và các đe

+

An ninh cộng đồng (được đảm bảo không bị phân biệt sắc tộc)

+
An ninh chính trị (được bảo vệ bằng các quyền con người cơ bản và có
tự do)

An ninh con người đã đưa ra cơ hội để kết nối chính sách an ninh với chính
sách phát triển. Bởi phát triển bền vững không phải luôn là chiến lược được ưa
chuộng bởi các chuyên gia an ninh truyền thống. Nhưng để đi đến thành công về sự
phát triển chung, cộng đồng phải trở nên nhạy bén với an ninh con người và có
những mối quan tâm về an ninh môi trường và phạm vi chúng được chia sẻ. Có thể
nói rằng an ninh môi trường là một bộ phận của an ninh con người.
1.1.4. Mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước và quyền con người
-

Thứ nhất, an ninh nguồn nước là vấn đề của quyền con người

An ninh nguồn nước là một phần hợp thành an ninh môi trường. Bảo đảm an
ninh nguồn nước sẽ góp phần bảo đảm môi trường trong lành. Con người được sống

thụ quyền của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Vì vậy, bảo vệ và nâng cao chất lượng
nguồn nước là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống con người, là điều kiện tiền đề
bảo đảm nhân phẩm và giá trị của con người, phát triển và hoàn thiện nhân cách con
người.
Các hoạt động của con người đã làm ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước trên
phạm vi toàn cầu đã gây hại cho sức khỏe con người. Do vậy, quyền sống của con
người đang bị ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày do sự ô nhiễm nguồn nước gây ra.
Trách nhiệm bảo vệ môi trường và quyền con người trước hết thuộc về Nhà nước.
Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người về
môi trường, trong đó có quyền được sử dụng nước sạch.
-

Thứ ba, bảo vệ và thực hiện tốt quyền con người là điều kiện thiết yếu để

có chính sách tốt về đảm bảo an ninh nguồn nước ở mỗi quốc gia.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status