Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòng thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh đắk lắk - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THU

NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮK LẮK- NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ THU
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THANH THỦY

Tác giả xin cam đoan đề tài “Năng lực thực thi công vụ của công chức
Văn phòng – Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là công trình
nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, các kết quả nghiên cứu chưa được công
bố ở bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung
thực, nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả

Lê Thị Thu


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 3
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................. 4
MỤC LỤC ............................................................................................................. 1
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn....................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn........................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 7
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ...................... 7
Chương 1 ............................................................................................................. 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA
CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ ..................................... 10
1.1. Những vấn đề chung về công chức Văn phòng – Thống kê .................... 10
1.2. Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã20
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực của công chức Văn phòng –
Thống kê cấp xã .............................................................................................. 29
Tiểu kết Chương 1 ............................................................................................... 33
Chương 2 ............................................................................................................. 34
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC

: Bảo hiểm y tế

CBCC

: Cán bộ công chức

CC VPTK

: Công chức Văn phòng – Thống kê

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HCNN

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

KT-XH

: Kinh tế, xã hội


Bảng 2.11: kỹ năng thực hiện nhiệm vụ được đánh giá từ lãnh đạo, công chức
chuyên môn ..................................................................................................... 55
Bảng 2.12: thái độ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk .................................................................................................... 56
Bảng 2.13: đánh giá của lãnh đạo, công chức chuyên môn và các đoàn thể cấp
xã về thái độ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ........................... 57
Bảng 2.14: đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ............................................ 64


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị địa phương ở
Việt Nam hiện nay nhưng chính quyền cấp xã lại có vị trí và vai trò hết sức quan
trọng. Trong đó, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã nói chung
phụ thuộc rất nhiều năng lực của chính đội ngũ cán bộ, công chức của chính
quyền cấp xã. Do đó, việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công
chức cấp xã là yêu cầu bức thiết và cấp bách nhằm bảo đảm ổn định chính trị xã hội ở địa phương, tạo ra cơ sở, đáp ứng đòi hỏi của việc nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.
Công chức cấp xã là một bộ phận của công chức nhà nước, nhân tố có
vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính
quyền cơ sở. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói chung
và UBND xã nói riêng xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng
lực và hiệu quả hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã. Công
chức cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất, trực tiếp tiếp xúc
với nhân dân, hàng ngày triển khai hướng dẫn, vận động nhân dân thực
hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà
nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp
trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Chính vì công
chức cấp xã có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng công chức
cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ,

trọng tâm và quan tâm hàng đầu là việc nâng cao năng lực đội ngũ công chức,
đặc biệt là công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã là bộ phận tham mưu giúp
việc cho bộ máy chính quyền cấp xã về đối nội và đối ngoại.
Trong những năm gần đây, tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk đã quan tâm
đến công tác cán bộ, thực tế thì năng lực của cán bộ, công chức nhất là công
chức Văn phòng - Thống kê của một số đơn vị còn nhiều hạn chế, chưa đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Bên cạnh đó, công chức Văn phòng -

2


Thống kê cấp xã chuyên môn đã được đào tạo nhưng chưa đáp ứng được yêu
cầu thực tiễn công tác.
Với những lý do trên tác giả chọn đề tài: “Năng lực thực thi công vụ
của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”
để làm luận văn thạc sỹ, nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần giải quyết
những yêu cầu nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn
Năng lực đội ngũ công chức cấp xã nói chung và công chức Văn phòng Thống kê nói riêng không còn là một vấn đề mới, ở nhiều nước trên thế giới,
đội ngũ công chức trong bộ máy nhà nước là chủ đề nghiên cứu nhiều môn
khoa học như: Chính trị học, quản lý công… nhưng chất lượng đội ngũ công
chức luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp. Vấn đề
này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt
động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu, luận án, luận văn
đề cập đến vấn đề về xây dựng đội ngũ CB,CC và nâng cao năng lực, chất
lượng công chức ở nước ta như:
Thứ nhất, về đề tài khoa học, giáo trình và sách chuyên khảo:
- Hà Quang Ngọc (2000), Góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ, công chức nhà nước hiện nay, NXB Chính trị quốc gia [19];

đến nâng cao năng lực công chức là điều kiện để nền công vụ nước ta tiến lên
chính quy, hiện đại [13].
- Trần Anh Tuấn (2009), Vấn đề công vụ và trách nhiệm công vụ trong
Luật Cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 11. Tác giả đã đề cập
làm sáng tỏ thêm lý luận về công vụ và trách nhiệm công vụ; nhấn mạnh đến
việc phải hoàn thiện chế độ công vụ là nội dung quan trọng của cải cách hành
chính nhà nước; nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức.
Đồng thời, tác giả đã đưa ra một số giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất
lượng, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức như: đổi mới quy

4


trình, chế độ tuyển dụng công chức; thi nâng ngạch công chức trên cơ sở cạnh
tranh lành mạnh; đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng …Đặc biệt, tác giả đã
nhấn mạnh đến đặc điểm, những nguyên nhân tồn tại, yếu kém của đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở và các giải pháp phù hợp với tình hình nhiệm vụ và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở [28].
- Nguyễn Minh Sản (2009), Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở Việt Nam hiện nay – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách chuyên
khảo, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Tác giả đã trình bày cơ sở lý
luận, đánh giá thực trạng pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở
Việt Nam, từ đó đưa ra quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn
thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã [25].
Đây là tài liệu mang tính hệ thống các loại văn bản pháp luật có liên
quan đến cán bộ, công chức cấp xã. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên
công trình chỉ dừng lại những văn bản trước khi có Luật cán bộ, công chức và
đặc biệt là công chức cấp xã (quy định mới từ năm 2010).
- Nguyễn Thị Hồng Hải (2011), Một số vấn đề phát triển năng lực của
cán bộ, công chức”,Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 09. Tác giả lý giải năng lực

Tất cả các luận văn trên đều có kết cấu thống nhất và đề cập chung đối
với tất cả công chức cấp xã. Do đó, cũng giúp để nhìn nhận bức tranh chung
của công chức cấp xã về năng lực.
Công chức cấp xã và năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã,
bên cạnh những tiêu chí chung, mang tính pháp lý (năng lực pháp lý) thì năng
lực của công chức cấp xã phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của từng xã ở
từng huyện, từng tỉnh. Do đó, các luận văn trên giúp để có cùng chung suy
nghĩ, nhưng để giải quyết cụ thể cho cấp xã của từng huyện, từng tỉnh đòi hỏi
phải có công trình riêng.
Tuy nhiên, đứng trước xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, xây dựng
nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập thì vấn đề nâng cao năng lực thực thi
công vụ cho đội ngũ công chức cấp xã nói chung và công chức Văn phòng –

6


Thống kê nói riêng vẫn hết sức cần thiết. Việc nghiên cứu trực tiếp về vấn đề
“Nâng cao năng lực thực thi công vụ của Văn phòng - Thống kê trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk” vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào. Vì vậy, việc chọn
nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Đắk Lắk.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của
công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lý luận về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã.
- Phân tích thực trạng năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và chỉ ra
nguyên nhân của hạn chế đó.

Phiếu: hỏi 184 công chức Văn phòng - Thống kê và một số công chức
khác. Ngoài 184 công chức công chức Văn phòng - Thống kê mỗi xã chọn
ngẫu nhiên 1 công chức (184 đơn vị = 184 người). Tổng số 368 người
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê các số liệu từ Sở Nội vụ của tỉnh Đắk Lắk
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung
những vấn đề lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng Thống kê cấp xã.
- Ý nghĩa thực tiễn: luận văn cung cấp các luận cứ khoa học giúp các cấp
lãnh đạo, cơ quan quản lý cán bộ, công chức của tỉnh Đắk Lắk trong việc xây
dựng chương trình hành động, quy hoạch, kế hoạch phát triển, nâng cao năng
lực thực thi công vụ cho đội ngũ công chức xã, trong đó có công chức Văn
phòng - Thống kê cấp xã; hoàn thiện các chế độ, chính sách.
7. Kết cấu của luận văn

8


Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
phần nội dung chính của luận văn gồm 03 chương, như sau:
Chƣơng 1: một số vấn đề lý luận về năng lực thực thi công vụ của công
chức Văn phòng - Thống kê cấp xã.
Chƣơng 2: thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn
phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chƣơng 3: quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ
của Văn phòng - Thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

9




pháp, quốc hội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự
nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước. Công chức địa
phương là những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương [20].
Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống
nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã
hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng.
+ Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển gắn liền
với sự phát triển của nền hành chính nhà nước.
Công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân
tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay
ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng
biệt do Chính phủ quy định [22].
“Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa
phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng
lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”[22].
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công dân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương
được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật”[22].


trong bộ máy quản lý hành chính và là một trong các chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
1.1.2. Nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã

13


Theo quy định của pháp luật, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có
nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: văn phòng, thống
kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân
tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật [9].
Trên cơ sở thực tiễn hoạt động của công chức Văn phòng – Thống kê cấp
xã trong công tác tham mưu cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã
thực hiện quản lý nhà nước, được cụ thể như sau:
Một là, xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công
tác, lịch làm việc định kỳ và đột xuất của HĐND, Thường trực HĐND, UBND,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, căn cứ yêu
cầu, nhiệm vụ thực tế, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã chủ động tham
mưu xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, quý, hàng tuần, trình
ký phê duyệt, ban hành. Bên cạnh đó, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện, đôn đốc các
bộ phận công tác triển khai, theo dõi tiến độ thực hiện, tổng hợp tình hình, báo
cáo và tổ chức cuộc họp sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình, kế hoạch.
Hai là, tham mưu Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
cấp xã tổ chức các kỳ họp, chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các
hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã. Ở cấp xã, Hội
đồng nhân dân cấp xã thường tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, hội nghị triển
khai nhiệm vụ chuẩn bị điều kiện phục vụ kỳ họp Hội đồng nhân dân, tổ chức

Văn phòng – Thống kê cấp xã đối với công tác hành chính, văn thư, lưu trữ là
tổ chức thực hiện các văn bản của cấp trên gửi cho ủy ban nhân dân; biên soạn,
trình lãnh đạo ủy ban nhân dân ban hành văn bản mới về công tác văn thư, lưu
trữ, hành chính cho phù hợp với thực tế của địa phương.
Năm là, tham mưu thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại
ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ chế “một cửa” là cách thức giải quyết công việc
của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm thẩm quyền của một cơ quan hành

15


chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận
hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước. Cơ chế “một cửa liên
thông” là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách
nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa
các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thủ
tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một
đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà
nước. Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã phối hợp cùng với các công
chức chuyên môn khác của ủy ban nhân dân xã hoặc với cơ quan hành chính
các cấp có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu giải quyết hồ sơ, trả kết quả
cho đương sự, thu lệ phí theo quy định của pháp luật.
Sáu là, tổng hợp, theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy
ban nhân dân cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Bảy là, chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình
hình phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế - xã
hội trên địa bàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân
dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân

vẫn có trách nhiệm đảm bảo cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Hội
đồng nhân dân và cơ quan Ủy ban nhân dân theo quy định hiện hành của nhà
nước. Nội dung cụ thể là: công chức Văn phòng – Thống kê đề nghị về nhu
cầu sử dụng đất đai, nhà cửa, trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện làm việc
khác. Trong trường hợp cụ thể, nếu được phân công, công chức Văn phòng –
Thống kê trực tiếp mua sắm; trực tiếp quản lý, bảo dưỡng các tài sản thuộc cơ
quan Uỷ ban nhân dân.
Mười là, thực hiện công tác tổ chức – cán bộ. Công chức Văn phòng –
Thống kê tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nghiệp vụ
công tác tổ chức và cán bộ; trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, người
hoạt động không chuyên trách và người lao động thuộc Uỷ ban nhân dân;

17


thống kê số lượng, chất lượng cán bộ, công chức, người hoạt động không
chuyên trách và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân
dân xã; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ, chính sách đối với
cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách và người lao động
đảm bảo theo quy định của nhà nước.
Mười một là, giữ mối quan hệ công tác giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với
các cơ quan, đoàn thể cùng cấp và nhân dân. Mối quan hệ công tác giữa Ủy
ban nhân dân cấp xã với các cơ quan, đoàn thể và nhân dân được thông qua
bằng nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đó chủ yếu thông qua
hình thức hội họp. Khi các cơ quan, đoàn thể hoặc nhân dân có nhu cầu đến
làm việc với lãnh đạo Ủy ban nhân dân, công chức Văn phòng – Thống kê có
trách nhiệm tiếp nhận nhu cầu. Sau khi báo cáo và được lãnh đạo Uỷ ban
nhân dân đồng ý, công chức Văn phòng – Thống kê sắp xếp lịch làm việc.
Mười hai là, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về
công tác thanh niên. Để thực hiện quản lý nhà nước đối với công tác thanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status