ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11
Ở TRƯỜNG THPT THỊ XÃ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN - 2020
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Cơng nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11
Ở TRƯỜNG THPT THỊ XÃ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 8229013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, các giảng viên Khoa Lịch
sử, các cán bộ Phòng Đào tạo, Thư viện - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã giúp đỡ tơi trong q trình học tập và nghiên cứu hồn thành luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên và học sinh các
trường THPT Bắc Sơn, Lý Nam Đế, Lê Hồng Phong, Phổ Yên, thị xã Phổ
Yên, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thực nghiệm và
điều tra thực tế.
Tôi xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã ln giúp đỡ, động
viên tơi trong suốt q trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 6 năm 2020
Học viên
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU........................................................................ v
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ ................................................................... vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
lớp 11 ................................................................................................................. 39
2.3. Biện pháp tổ chức dạy học theo chủ đề trong dạy học LSVN lớp 11 ........ 42
2.3.1. Nhóm biện pháp chuẩn bị xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề ....... 42
2.3.2. Nhóm biện pháp tổ chức dạy học theo chủ đề bài học nội khóa ............. 53
2.3.3. Nhóm biện pháp dạy học chủ đề lịch sử trong hoạt động ngoại khóa .... 69
2.4. Thực nghiệm sư phạm ................................................................................ 75
2.4.1. Mục đích, đối tượng, địa bàn thực nghiệm.............................................. 75
2.4.2. Chủ đề và phương pháp thực nghiệm ...................................................... 76
2.4.3. Kết quả, nhận xét ..................................................................................... 77
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 81
KẾT LUẬN....................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 85
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Xin đọc là
DH
Dạy học
DHLS
LSVN
Lịch sử Việt Nam
NL
Năng lực
NXB
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
PC
Phẩm chất
SGK
Sách giáo khoa
THPT
Trung học phổ thơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Biểu đồ 2.2. So sánh học lực học sinh các lớp ................................................ 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành
Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ
nhiệm vụ của giáo dục phổ thông hiện nay là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều,
ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực
chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các
hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [14]. Thực hiện chủ trương trên,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức triển khai tập huấn đổi mới cách dạy học theo
chủ đề cho giáo viên toàn quốc từ năm học 2014 - 2015 nhằm giúp họ nhận thức
và thực hiện tốt hơn việc đổi mới để từng bước nâng cao chất lượng dạy học bộ
môn. Dạy học theo chủ đề có nhiều điểm mới, các nhiệm vụ học tập được giao
cho HS, HS chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề; kiến thức không vụn vặt,
riêng lẻ mà được tổ chức lại thành hệ thống, có quan hệ chặt chẽ; sau khi học
không chỉ hiểu, biết, vận dụng mà cịn biết phân tích, tổng hợp, đánh giá.
Thực tế việc vận dụng dạy học theo chủ đề hiện nay ở trường phổ thơng
cịn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao. Một số GV chưa nhận thức đúng tầm quan
trọng của việc triển khai bài học theo chủ đề để phát huy vai trị tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS nên chưa thật sự quan tâm tổ chức dạy học theo chủ đề
dạy học theo chủ đề trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT thị
xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có nhiều cơng trình nghiên cứu về dạy học theo chủ đề và
các vấn đề có liên quan trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng.
Trong điều kiện thời gian học tập và nghiên cứu hơn một năm qua, học viên đã
tiếp cận vấn đề này qua một số tài liệu trong và ngoài nước như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Cơng nghệ thơng tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
Năm 1982, tác giả I. la. Lecne với “Phát triển tư duy của học sinh trong
dạy học lịch sử” (NXB Giáo dục Mátxcova, Người dịch: Trần Kim Vân, Đinh
Ngọc Bảo, Phạm Duy Khánh, Nguyễn Thị Côi) đã đưa ra yêu cầu đối với GV
trong DHLS phải tạo ra “tình huống có vấn đề nhằm nâng cao kỹ năng nhận thức
tích cực để giải quyết các vấn đề” trong quá trình dạy học. Theo tác giả, thông
qua các biện pháp này sẽ kích thích năng lực sáng tạo, nhận thức tích cực của HS
nâng cao chất lượng dạy học môn LS. Đây là gợi ý giúp học viên triển khai
nghiên cứu dạy học theo chủ đề học tập [30].
Tài liệu “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử”, Phan Ngọc Liên,
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Cơi đồng chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2002, tác giả Trịnh Đình Tùng; giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (tập 1
và tập 2) của tác giả Phan Ngọc Liên chủ biên, Nxb Đại học Sư phạm (2010) cho
thấy: Ở Việt Nam, những nghiên cứu về DH theo chủ đề nói chung và tổ chức dạy
học theo chủ đề nói riêng còn khá khiêm tốn về nội dung, phạm vi, mức độ. Các
nghiên cứu chưa được thực hiện một cách hệ thống, toàn diện ở cả ba cấp học;
chưa đề xuất được phương pháp, kĩ thuật dạy học lịch sử theo chủ đề. Mặt khác,
phần lớn, các nghiên cứu mới được khai thác ở khía cạnh các chủ đề tích hợp cấp
Tiếp đến trong “Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý và giáo viên trung học phổ
thông xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh môn lịch sử” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) đã đề cập
đến việc xây dựng các chuyên đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS
môn LS. Trong đó có đề cập đến việc xây dựng mỗi chuyên đề dạy học cần thực
hiện các theo các quy trình sau: thứ nhất, xác định vấn đề cần giải quyết trong dạy
học chuyên đề sẽ xây dựng; thứ hai, xây dựng nội dung chuyên đề; thứ ba, xác định
chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ theo chương trình hiện hành; thứ tư, xác định và
mô tả mức độ yêu cầu; cuối cùng là biên soạn các câu hỏi/bài tập và cuối cùng là
thiết kế tiến trình dạy học. Tác giả có thể căn cứ vào đây để tiến hành tổ chức dạy
học theo chủ đề phần LSVN (từ năm 1858-1918) [5].
Ngày 5/12/2014, Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP thành phố
Hồ Chí Minh hội thảo “Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa ở trường trung
học - Giải pháp đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau
năm 2015″. Tác giả Võ Văn Duyên Em đã chỉ ra rằng hiện nay cần thiết phải
trang bị nhiều kĩ năng cho học sinh (an tồn giao thơng, giáo dục bảo vệ mơi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
trường, an toàn lao động, sử dụng năng lượng tiết kiệm, định hướng nghề
nghiệp…) trong khi những tri thức này không thể tạo thành môn học mới để đưa
vào nhà trường vì lí do phải đảm bảo học tập phù hợp với sự phát triển của học
sinh. Mặc dù khi xây dựng chương trình sách giáo khoa nhiều tri thức đã được
tích hợp nhằm thực hiện nhiều yêu cầu đối với học sinh, song không thể đầy đủ
và phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh. Vì vậy, giáo viên phải nghiên cứu,
tích hợp các nội dung này một cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp với
từng đối tượng học sinh ở các vùng miền khác nhau [49].
tồn diện giữa các chủ đề về chiến tranh với các chủ đề về kinh tế, văn hóa. Như
vậy, có thể thấy DH theo chủ đề là một trong những định hướng được nhiều nhà
nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục đưa ra tại hội thảo và đây là một trong những
hướng đi đúng đắn, phù hợp với thực trạng dạy và học LS ở nước ta hiện nay góp
phần xây dựng chương trình SGK mới sau năm 2015 [48].
Trong kỉ yếu Hội nghị “Tổng kết, đánh giá chương trình, sách giáo khoa
giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016),
tác giả Phạm Hồng Tung và nhóm nghiên cứu đã báo cáo về chương trình mơn
Lịch sử trong CT GDPT hiện hành. Trong đó, trên cơ sở đánh giá những ưu tiên,
hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành, nhóm tác giả đã đề xuất
định hướng xây dựng chương trình mơn LS trong thời kì mới [8].
Trong cuốn kỉ yếu Hội thảo Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trong bối
cảnh hiện nay, NXB Lý luận chính trị (2016) tác giả Nguyễn Đình Vỳ trong bài
viết “Đổi mới việc biên soạn chương trình và SGK LS mới theo định hướng phát
triển NL của HS trong quá trình hội nhập quốc tế” đề xuất dự kiến chương trình
và SGK LS mới sẽ biên soạn theo hướng không lặp lại về nội dung ở cấp ba như
hiện nay mà CT LS cấp THPT sẽ được thiết kế theo chủ đề và trong mỗi chủ đề
lại có chủ đề nhỏ. Trong các chủ đề này có thể có một phần “đồng tâm” để khái
quát lại những nét cơ bản nhất về LS thế giới, LS khu vực và LSDT, mà trọng
tâm là các vấn đề về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, quan hệ quốc tế… Như
vậy, có thể thấy DH theo chủ đề là một trong những định hướng được các nhà
nghiên cứu, các nhà sử học đưa ra tại hội thảo và đây sẽ là một trong những
hướng đi đúng đắn, phù hợp với thực tế việc dạy và học LS ở nước ta hiện nay
[51].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
Tác giả Nguyễn Thị Bích trong bài viết “Tổ chức hiệu quả việc DH chủ
Các tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ sở để tác giả khẳng
định định hướng chỉ đạo của Bộ về việc đổi mới PPDH LS và là tài liệu tham
khảo hữu hiệu trong việc triển khai nghiên cứu đề tài luận văn về tổ chức DH
theo chủ đề mơn LS.
Cuốn “Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học”
của Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên) - Đỗ Hương Trà Nxb Đại học Sư phạm Hà
Nội ngày 13/10/2017, đề cập đến các phương pháp và kĩ thuật dạy học như: sơ
đồ tư duy, kĩ thuật khăn trải bàn, học theo họp đồng, theo dự án... nhằm phát huy
tối đa khả năng, hình thành năng lực của người học. Học sinh được học thông
qua thực hành và trải nghiệm, tăng cường tính tự học. Học sinh được học trong
những giờ học thực sự có ý nghĩa thay cho thụ động lắng nghe, ghi chép, truyền
thụ một chiều, mang tính áp đặt như trước đây. Dạy và học tích cực, hướng tới
tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh, tạo điều kiện phân hóa trình độ,
đáp ứng các phong cách học, phát huy khả năng tối đa của người học. Qua đó
hình thành các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, tìm kiếm, thu thập, xử lí
thơng tin, giải qut vấn đề... Đồng thời khuyến khích giáo viên tìm tòi, sáng tạo,
linh hoạt trong áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với đối tượng
học sinh và bối cảnh địa phương [19].
Vấn đề tổ chức DH môn LS được các chuyên gia, các nhà giáo dục lịch sử
đề cập một cách tồn diện trong các cơng trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí
khoa học giáo dục, tạp chí giáo dục và xã hội, tạp chí thiết bị giáo dục… Các bài
viết trên các tạp chí khoa học chủ yếu đề cập đến các hoạt động tổ chức DH môn
LS theo định hướng tiếp cận năng lực. Mặc dù chưa đề cập trực tiếp đến tổ chức
DH chủ đề môn LS nhưng đây là những gợi ý căn bản cho học viên trong quá
trình nghiên cứu, phân tích chương trình giáo dục phổ thơng mơn LS để xác định
chủ đề và đề xuất biện pháp tổ chức DH chủ đề.
Những tài liệu học viên tiếp cận được là nguồn quý báu gợi cho học viên
xây dựng chương trình lớp 11.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Về địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Các trường THPT trên địa bàn thị xã
Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Dựa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng về sử học và giáo dục LS.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, khái
quát hóa vấn đề dạy học theo chủ đề LS từ các nguồn tài liệu lý luận dạy học nói
chung, lý luận dạy học bộ mơn lịch sử nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, phát phiều điều tra cho giáo
viên và học sinh, quan sát, dự giờ, phỏng vấn sâu để tìm hiểu, đánh giá thực trạng
dạy học theo chủ đề trong dạy học Lịch sử ở địa bàn thực hiện.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm tại trường
THPT trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để chứng minh tính khả thi
của các biện pháp đã đề xuất.
5. Giả thiết khoa học
Khi tiến hành tổ chức dạy học chủ đề LS theo đề xuất của luận văn sẽ góp
phần hình thành và phát triển năng lực, tạo hứng thú học tập cho HS, nâng cao
hiệu quả DHLS ở trường THPT.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Làm phong phú lý luận dạy học bộ môn LS việc tổ chức dạy học theo chủ
đề.
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM BẬC THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm
Chủ đề
Chủ đề (theme) là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên,
đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học...Theo Từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học, chủ đề là vấn đề chủ yếu được quán triệt trong nội dung một
tác phẩm văn học nghệ thuật, theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định [50,
tr174]. Trong văn bản chương trình giáo dục, chủ đề là những vấn đề học tập lớn,
được lựa chọn làm cơ sở, tiêu chuẩn cho việc phát triển chương trình. Chương
trình giáo dục được thiết kế theo các mạch nội dung với hệ thống các chủ đề từ
lớn tới nhỏ. Qua đó, học viên xác định trong dạy học, chủ đề là một đơn vị nội
dung kiến thức tương đối trọn vẹn mà khi học xong người học có thể vận dụng
kiến thức đã học được để giải quyết một vấn đề thực tiễn hoặc giải quyết một
vấn đề trong bối cảnh mới và giá trị của chủ đề phụ thuộc vào mức độ phạm vi
mà chủ đề đề cập tới.
Dạy học theo chủ đề
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích trong bài viết “Tổ chức hiệu quả việc dạy
học chủ đề lịch sử ở trường THPT” cho rằng “Dạy học theo chủ đề thực chất
là cách tiếp cận dạy học theo hướng liên ngành có sự kết hợp giữa mơ hình dạy
học truyền thống và hiện đại”. Trong đó, “nội dung học tập có tính tổng qt,
liên quan đến nhiều lĩnh vực, tích hợp những vấn đề gắn liền với thực tiễn”[15,
tr 272].
Tác giả Đỗ Hương Trà cho rằng DH theo chủ để được hiểu là mô hình DH
mà nội dung được xây dựng thành các chủ đề có ý nghĩa thực tiễn và thể hiện
mối quan hệ liên mơn, liên lĩnh vực (chủ đề tích hợp) để HS có thể phát triển các
ý tưởng một cách tồn diện [45].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
lí thuyết tập hợp) [25; tr.385]. Tích hợp ngang - “dựa trên cơ sở liên kết các đối
tượng học tập trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các
lĩnh vực khoa học khác nhau” [25; tr. 386]. Ví dụ tích hợp các kiến thức tiếng
Việt, sử học, Địa lí học, giáo dục cơng dân, kinh tế học, văn hóa nghệ thuật của
Việt Nam xung quanh chủ đề “Đất nước tơi”; hoặc tích hợp các kĩ năng nhận
thức, cảm xúc, vận động và ứng xử trong khi tiến hành DH về vấn đề ô nhiễm
môi trường). Tích hợp giảng dạy là sự tiến hành q trình DH theo hướng liên
kết, lồng ghép những tri thức khoa học, những quy luật chung, gần gũi nhau
nhằm đạt yêu cầu trang bị cho người học có cách nhìn bao quát đối với nhiều
lĩnh vực khoa học có chung đối tượng nghiên cứu, đồng thời nắm được phương
pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng. Tích hợp học tập là hành động
liên kết học tập cùng một lần những kiến thức khác nhau và những kĩ năng khác
nhau về cùng một chủ đề giáo dục. Tích hợp kiến thức: Là hành động liên kết,
nối liền các tri thức khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất.
Ví dụ: Tích hợp kiến thức sử học và sự hình thành nhân cách, hoặc tích hợp kiến
thức tốn học và các khoa học tự nhiên xung quanh vấn đề bảo tồn năng lượng.
Tích hợp kĩ năng: Là hành động liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc
cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể. Ví dụ: Tích
hợp các kĩ năng lĩnh hội, vận dụng, phân tích tổng hợp một kiến thức nào đó.
Theo Dương Tiến Sỹ: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống
các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống
nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong
các mơn học đó” [38; tr.27]. Như vậy, tích hợp trong DH có thể coi như “hành
động liên kết các đối tượng học tập, giảng dạy trong cùng một kế hoạch hoạt động
để bảo đảm tính tống nhất, trọn vẹn, hài hòa của hệ thống dạy học nhằm đạt tới
phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết.
Tích hợp mơn học có những mức độ khác nhau từ đơn giản cho tới phức
tạp. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về mức độ tích
hợp trong DH, nhưng tựu chung lại DH tích hợp có 4 mức độ. Chủ đề tích hợp
nội mơn: Ưu tiên các nội dung khái quát cốt lõi của môn học. Quan điểm này
nhằm duy trì các mơn học riêng rẽ. Chủ đề tích hợp đa mơn (liên hệ/lồng ghép):
Đưa các nội dung gắn với thực tiễn, với các môn học khác vào tiến trình nội dung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
http://lrc.tnu.edu.vn
của một môn học. Giáo viên là người xác định mối quan hệ giữa kiến thức chuyên
môn với nội dung các môn học khác và thực hiện lồng ghép các kiến thức đó ở
các thời điểm thích hợp. Chủ đề tích hợp liên mơn: Đề xuất những tình huống
chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học. Hoạt
động học tập diễn ra xung quanh các vấn đề, người học cần vận dụng kiến thức
của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Chủ đề tích hợp xun mơn (Hịa
trộn): Đây là mức độ cao nhất trong DH tích hợp. Ở mức độ này, tiến trình DH
mang tính chất “khơng môn học”. Tức là kiến thức không thuộc về một môn mà
là nhiều môn học khác nhau. Các nội dung đã dạy sẽ không cần dạy ở các môn
riêng rẽ.
Hiện nay trên thế giới, chương trình DH tích hợp có các mơ hình phổ biến
nhất là mơ hình đa mơn (Interdiscipdinary model), mơ hình dựa trên chuỗi vấn
đề (Problem-based model) và mơ hình dựa trên chủ đề (Theme-based model).
Mơ hình đa mơn: Mơ hình này xây dựng chương trình DH theo những kiến thức,
kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau. Ví dụ, để giảng dạy chương trình tích
hợp tại một trường trung học ở Mĩ, thường có 4 giáo viên phụ trách 110 HS.
Những mơn học chính gồm Ngơn ngữ, Tốn, Khoa học, Xã hội. Mơ hình này rất
thích hợp cho bậc trung học phổ thơng. Ưu điểm của mơ hình này này giáo viên