CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN DỰ ÁN - Pdf 76

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN DỰ ÁN
1.1. Khái quát về dự án
1.1.1. Khái niệm dự án
Dự án là một mảng kinh tế tương đối mới mẻ với Việt Nam, hiện nay chúng ta có
nhiều cách định nghĩa dự án, tùy theo mục đích mà nhấn mạnh vào một khía cạnh nào
đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án là cách hiểu “tĩnh” và cách
hiểu “động”. Theo cách hiểu “tĩnh”, dự án là hình tượng về một tình huống (một trạng
thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu “động” có thể định nghĩa dự án như sau:
Một cách chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ
cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch
tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy, theo định nghĩa này thì: Dự án không chỉ là một ý định phác thỏa mà
có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà
tạo nên một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: “Dự án là những nỗ
lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn), nghĩa
là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định, đó là khi mục tiêu
của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ; Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản
phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so bới những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác đã
thực hiện.
1.1.2. Đặc điểm dự án
Từ những định nghĩa khác nhau về dự án, chúng ta có thể thấy một số đặc trưng
cơ bản của dự án:
Dự án có mục đích, kết quả xác định.
Tất cả các dự án đều phải có mục đích xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa
nhà, một dây chuyền sản xuất, một nỗ lực trong cải thiện đời sống sinh hoạt của nhóm
dân cư,… Mỗi dự án lại bao gồm tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Và từng
nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp những kết quả riêng cụ thể
ấy hình thành nên kết quả chung của tổng thể dự án. Hiểu một cách khác, dự án là một
hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực

quản lý của dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.
Tính bất định và rủi ro cao.
Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện
trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng bên cạnh đó, thời gian đầu tư và vận hành kéo
dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
1.1.3. Phân loại dự án
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều loại dự án khác nhau về mục đích, tính chất, quy
mô, đặc điểm và mức độ phức tạp. Vì vậy cũng có rất nhiều cách phân loại dự án như
theo mức độ sử dụng, theo mục đích, theo quy mô...
Theo nguồn vốn đầu tư, dự án có thể được phân chia thành các loại như sau:
• Dự án sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước.
• Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh hoặc vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước.
• Dự án sử dụng nguồn vốn do vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc
tế cho đầu tư phát triển (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA) được quy
định trong Điều 21 Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn như Nghị định
17/CP/2001 về Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
• Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
• Dự án sử dụng vốn khác bao gồm vốn tư nhân hoặc hỗn hợp nhiều nguồn vốn.
Theo quy mô của dự án, ngoài các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông
qua chủ trương và cho phép đầu tư, những dự án còn lại phân thành ba nhóm A, B, C
(Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 do chính phủ ban hành)
• Dự án nhóm A: các dự án thuộc thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư của Thủ tướng
Chính phủ, bao gồm các dự án như: xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, các
dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các nghành điện, dầu khí, luyện kim,
xi măng, hóa chất, cảng biển, sân bay, khu văn hóa, du lịch,…, các dự án vận tải biển,
hàng không, bảo hiểm, tài chính,…, dự án khai thác tài nguyên quý hiếm, các dự án
thuộc lĩnh vực quốc phòng an ninh…
• Dự án nhóm B: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định cấp giấy phép của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư bao gồm các dự án không thuộc quy định trên, trừ những dự án quy định

lập, nghiên cứu dự án, lập hồ sơ, trình duyệt dự án, chi phí quản lý ban đầu đối với dự
án, chi phí về cơ sở hạ tầng ban đầu,… Vốn lưu động bao gồm các chi phí phát sinh
trong suốt đời dự án như: chi phí lương chuyên gia, chi phí lương cho cán bộ nhân viên,
chi phí đi lại, chi phí văn phòng phẩm,…
Vốn được giải ngân trong suốt quá trình thực hiện dự án theo tiến độ phù hợp
với nhu cầu của dự án, cho các mục đích cụ thể đã được lập kế hoạch. Quy trình giải
ngân có thể được thực hiện theo hai phương pháp:
• Ban quản lý dự án định kỳ lập kế hoạch về chương trình hoạt động của dự án, những
bản kế hoạch này cũng chính là dự toán về chi phí mà dự án cần thực hiện. Thông qua
bản dự toán ngân sách do ban quản lý dự án lập, chủ đầu tư sẽ phê duyệt và quyết định
sự hợp lý của từng chi phí sau đó tiến hành giải ngân cho dự án theo thời gian và tiến
độ phù hợp.
• Việc giải ngân cho dự án đã được quy định rõ ràng trong hợp đồng giữa ban quản lý dự
án và chủ đầu tư, do đó định kỳ, chủ đầu tư tiến hành giải ngân theo tỉ lệ % nhu cầu đã
thỏa thuận trong hợp đồng của dự án.
Hầu hết các dự án đều được giải ngân qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng của chủ
đầu tư dự án và ban quản lý dự án, có thể thông qua ngân hàng trung gian.
1.1.4.2. Chủ đầu tư dự án.
Chủ đầu tư dự án có thể là người sở hữu vốn hoặc người được giao quản lý và sử
dụng vốn để thực hiện dự án. Các dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước, chủ đầu tư
do người phê chuẩn quyết định đầu tư tiến cử và quyết định trước khi lập dự án đầu tư
theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng,
chủ đầu tư là người vay vốn đầu tư. Đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư hỗn hợp, chủ
đầu tư là người có tỷ lệ vốn góp lớn nhất hoặc do các thành viên góp vốn thỏa thuận cử
ra. Đối với các dự án đầu tư khác, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc người đại diện
theo quy định của pháp luật.
1.1.4.3. Trình tự tiến hành dự án
Cho đến nay, vẫn chưa có một sự thống nhất về các quy trình của một dự án cụ
thể gồm những bước gì và được phân chia như thế nào. Tuy nhiên đối với đa số các dự
án phát triển, quy trình dự án thường bao gồm các bước khảo sát (xác định), thẩm định,

các câu hỏi: Dự án có khả thi về mặt kỹ thuật, có hợp lý và bền vững về mặt tài chính,
mang lại lợi ích cao cho cộng đồng thuộc khu vực dự án và đối với quốc gia nói chung,
có đảm bảo các mục tiêu xã hội của dự án, hay có bền vững về mặt môi trường hay
không.
• Thẩm định về thị trường (nếu là dự án mang tính dịch vụ, sản xuất hàng hoá);
• Thẩm định về mặt kỹ thuật (chủng loại trang thiết bị cần thiết, giá cả, nguồn cung cấp,
công nhân kỹ thuật);
• Thẩm định về nhân lực và thể chế (nhu cầu về nhân lực trong việc thực hiện dự án,
nguồn nhân lực tại chỗ; hệ thống hành chính liên quan đến dự án; tổ chức thực hiện dự
án đã phù hợp chưa);
• Thẩm định về quản lý (trả lời câu hỏi những người có trách nhiệm có đủ khả năng thực
hiện và vận hành dự án hay không);
• Thẩm định về tài chính (dự kiến chi phí, thu nhập);
• Thẩm định về kinh tế (vai trò của dự án trong phát triển kinh tế ở vùng dự án, khả năng
ảnh hưởng tới các vung xung quanh và nền kinh tế quốc dân);
• Thẩm định về xã hội (vai trò của dự án trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội của
Nhà nước, người hưởng lợi hoặch thiệt hại khi có dự án, phân tích các nhóm người có
liên quan).
►Đàm phán thông qua:
Sau khi dự án đã được thẩm định bước tiếp theo là thông qua dự án. Thực chất,
việc đàm phán về dự án có thể diễn ra ngay từ ban đầu và thường xuyên. Dự án có được
thông qua hay không cũng phụ thuộc một phần vào công tác thuyết minh và giải trình
của cơ quan chủ dự án.
►Thực hiện dự án
Dự án sẽ đi vào thực hiện sau khi được thông qua. Thực hiện dự án là khi các hoạt
động của dự án được tiến hành, ngân sách của dự án được chuyển, và hệ thống vận
hành của dự án đi vào hoạt động. Ưu tiên cao nhất của bước này là thực hiện các hoạt
động của dự án theo kế hoạch và trong phạm vi ngân sách đã quy định. Tuy nhiên,
trong quá trình triển khai thực hiện dự án thường xảy ra những khó khăn vướng mắc,
những vấn đề phát sinh thường đòi hỏi thường xuyên có những thông tin phản hồi về

1.2.1. Vai trò của kiểm toán dự án
Kiểm toán dự án giữ vị trí quan trọng, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công
tác quản tài chính của nhà đầu tư dự án, cụ thể:
• Kết quả kiểm toán dự án đưa ra ý kiến đánh giá công tác quản lý, điều hành thu, chi
ngân sách; công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, …gắn với trách
nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong quản lý kinh tế, tài chính, là nguồn thông tin quan
trọng phục vụ cho chủ đầu tư giám sát hoạt động dự án.
• Kết quả kiểm toán dự án còn xác định rõ trách nhiệm cá nhân trong việc quản lý kinh
tế, tài chính không đúng quy định của pháp luật gây lãng phí, thất thoát, tiêu cực... kiến
nghị với các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý theo quy định của Nhà nước.
• Kết quả kiểm toán dự án cung cấp thông tin giúp chủ đầu tư giám sát việc quản lý và sử
dụng các nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ...
• Kết quả kiểm toán dự án xác định số thu, chi cả về tổng số và chi tiết đến từng khoản
mục, đây là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách
ngân sách năm trước làm cơ sở cho chủ đầu tư dự án phân bổ dự toán ngân sách dự án
năm kế hoạch.
• Kết quả kiểm toán dự án đưa ra các ý kiến đánh giá, nhận xét về việc tuân thủ luật, các
cơ chế chính sách trong quản lý kinh tế, tài chính; thu, chi ngân sách, kiến nghị với nhà
đầu tư sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, quy định, chính sách.
• Kết quả kiểm toán dự án xác nhận tính trung thực, hợp pháp của báo cáo quyết toán dự
giúp chủ đầu tư phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách dự án hàng năm.
1.2.2. Mục tiêu của kiểm toán dự án
Theo chuẩn mực số 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn
thành”, mục tiêu kiểm toán là xác định tính đúng đắn, trung thực của các Báo cáo
quyết toán vốn đầu tư, bao gồm: Đánh giá việc tuân thủ luật pháp, các chính sách,
chế độ của Nhà nước, tình hình quản lý và sử dụng vốn tại các đơn vị được kiểm
toán; Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, tính hiệu quả, sự tác động, ảnh hưởng
của Dự án đối với địa phương, xã hội.
Mục tiêu của kiểm toán dự án cũng bao hàm trong mục tiêu kiểm toán nói chung
là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận tính trung thực,

• Tình hình thanh toán và công nợ của dự án.
• Bảng đối chiếu số liệu cấp vốn, cho vay, thanh toán vốn đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status