Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Pdf 78

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HĨA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CƠNG
Mã số: 8 34 04 03

HÀ NỘI, NĂM 2018


Cơng trình được hồn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Minh

Phản biện 1: TS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG

Phản biện 2: TS. NGUYỄN DANH NGÀ

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ, Học viện Hành
chính Quốc gia.

vậy. Các thế lực thù địch luôn luôn ngấm ngầm chống phá chế độ ta nhất là
trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Vì vậy,việc giữ gìn sự tơn nghiêm của pháp
luật trên mọi lĩnh vực cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt là trên lĩnh vực văn
hóa phải được chú trọng. Tình trạng văn hóa phẩm đồi trụy, những ấn phẩm
khơng được lưu hành, tình trạng in, nhân bản băng đĩa lậu, vi phạm bản quyền
tác giả đang diễn ra khá phức tạp. Những trang quảng cáo, rao vặt có nội dung
không lành mạnh, những dịch vụ kinh doanh karaoke, vũ trường, massa,..đặt ra
1


nhiều vấn đề, những trò lừa bịp trên những trang web, chat, email,….chất lượng
các dịch vụ văn hóa kém, cơ sở kinh doanh vì chạy theo lợi nhuận mà quên đi
các giá trị truyền thống, giá trị nhân văn của văn hóa,…hay cách ăn mặt phản
cảm của thế hệ trẻ đến những việc làm, hành động, ứng xử gọi là “văn hóa” của
thế hệ trẻ hơm nay có những sự lệch lạc làm phai mờ bản sắc. Do vậy, vấn đề
quản lý nhà nước về văn hóa như thế nào để các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn
hố đạt chất lượng, đúng định hướng. Đây là những vấn đề đã và đang đặt ra cho
các nhà quản lý nhiều thách thức và yêu cầu cần giải quyết cấp bách để định
hướng, chấn chỉnh lại cho phù hợp với truyền thống tốt đẹp của ơng cha ta, của
văn hóa Việt Nam.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bàn Huyện Hồi
Đức nói riêng do qúa trình đơ thị hóa, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân ngày
càng được nâng cao…đã nhanh chóng phát triển nhiều mơ hình hoạt động dịch
vụ văn hóa như: kinh doanh karaoke, Internet, băng đĩa nhạc, báo chí,…Bên
cạnh những hiệu quả kinh tế từ các hoạt động DVVH đem lại cho xã hội, cũng
đặt ra những vấn đề tiêu cực, cần giải quyết, thậm chí có những loại hình hoạt
động DVVH trở thành điểm nóng gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Vậy làm thế nào để quản lý được các hoạt động của các loại hình DVVH
trên, để vừa đáp ứng được yêu cầu thưởng thức văn hóa của người dân song vẫn
giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, loại trừ những yếu tố độc hại ảnh hưởng

- Tác giả Lê Xuân Kiêu (2011), Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về văn
hóa, suy nghĩ về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa – Trường ĐH Văn hóa Hà Nội. Tác
giả nêu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, về nhiệm vụ xây dựng
nền văn hóa dân tộc, phân tích thực trạng nền văn hóa nước ta hiện nay, nêu 5
quan điểm xây dựng nền văn hóa dân tộc phù hợp với đường lối phát triển văn
hóa mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.
- Các tác giả của Viện văn hóa và phát triển, học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Giao sư Tiến sĩ Trần Văn Bính chủ biên, lý luận văn hóa và
đường lối văn hóa của Đảng, đã đề cập đến vai trị và một số nội dung về công
tác lãnh đạo quản lý văn hóa trong giai đoạn hiện nay.
3


Nhóm thứ hai: Đề tài nghiên cứu văn hóa trong mối liên hệ với kinh tế và
quản lý. Có thể kể đến như:
- Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1996), Văn hóa và kinh doanh, NXB KHXH
đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa – kinh doanh, kinh doanh trong lĩnh vực
văn hóa, dịch vụ văn hóa và cả vấn đề hành vi văn hóa trong kinh doanh.
- Quản lý hoạt động văn hóa của tập thể tác giả Phan Văn Tú, Nguyễn Văn
Huy, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên, NXB Văn hóa Thơng tin, HN 1998.
- Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành quản lý văn hóa thông
tin, trường cán bộ quản lý thông tin (1999).
- Trần Mai Ước(2008), Văn hóa đơ thị với việc phát triển thủ đơ Hà Nội
trong thời hội nhập, NXB Văn hóa Thơng tin, Hà Nội. Tác giả phân tích văn hóa
truyền thống của thủ đô Thăng Long – Hà Nội và sự biến đổi của văn hóa đơ thị
trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế của đất nước.
Thêm vào sự so sánh văn hóa đơ thị Việt Nam với văn hóa đơ thị một số nước
Châu Á để làm nổi bật thêm tầm quan trọng của việc phát triển văn hóa thủ đơ
trong giai đoạn hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ bản
sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về DVVH
- Nghiên cứu làm rõ kinh nghiệm thực tiễn ở một số địa phương để rút ra
bài học kinh nghiệm cho huyện Hồi Đức.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về dịch vụ văn hóa ở huyện Hoài
Đức, làm rõ các ưu điểm, hạn chế trong QLNN về DVVH trên địa bàn huyện
Hoài Đức – Thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài này, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động
quản lý nhà nước đối với dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hồi Đức ở một số
loại hình chủ yếu như: hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, quảng cáo,

5


photocopy, internet,…Đây là những hoạt động dịch vụ văn hóa đang tồn tại và
phát triển mạnh mẽ trên địa bàn huyện Hoài Đức.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung quản lý
nhà nước đối với một số loại hình dịch vụ văn hóa.
- Phạm vi về khơng gian: trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian: Hoạt động QLNN về dịch vụ văn hóa trên địa bàn
huyện Hồi Đức từ 2015 – 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Trên
cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng một nền văn

- Trên cơ sở đó, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nâng cao
chất lượng công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại UBND huyện trong thời
gian tới.
- Mong muốn cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà làm công tác
cán bộ hoạch định công tác quản lý văn hóa cấp huyện. Các giải pháp được đưa
ra trong đề tài cũng có thể áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý nhà
nước về văn hóa tại UBND cấp huyện nói chung.
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn
đề lý luận về cơng tac quản lý văn hóa cấp huyện, cung cấp các luận cứ khoa
học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý văn
hóa cấp huyện ở huyện Hồi Đức nói riêng và cấp huyện nói chung. Các kết quả
nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các tổ chức và cá
nhân.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của
luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa.

7


Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn
huyện Hồi Đức, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên
địa bàn huyện Hồi Đức, thành phố Hà Nội.

8





1.1.1.3. Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
* QLNN
Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa
hẹp
Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
con người do tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến
hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà
nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật cả các
cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp).
* QLNN về DVVH
Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với
tồn bộ hoạt động dịch vụ văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước,
thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách, nhằm đảm bảo nền
văn hóa phát triển đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra.
1.1.2. Phân loại DVVH
Dưới tác động của q trình hội nhập nền kinh tế tồn cầu và giao lưu văn
hóa thế giới, đã xuất hiện nhiều loại hình văn hóa ở nước ta: karaoke, vũ trường,
băng đĩa nhạc, cà phê video, internet,… Các loại hình này càng phát triển nhằm
thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần của con người.
Chúng ta có thể làm rõ đặc trưng các hình thức dịch vụ văn hóa đang có trên
địa bàn huyện Hồi Đức như sau:
- Hoạt động Karaoke:
Karaoke là một loại hình giải trí được du nhập vào Việt Nam từ những năm
90 của thế kỷ XX. Karaoke đã phát triển một cách nhanh chóng mạnh mẽ và
rộng lớn. Đó là một dịch vụ mang tính cộng đồng và đáp ứng nhu cầu giải trí
của cá nhân. Tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ văn hóa mang nhiều tai tiếng

quanh một trục ý nghĩa nào đó được diễn đạt bằng hệ thống nghi thức giữ vai trò
trung tâm. Lễ hội là dịp tưởng nhớ, tạ ơn, đánh thức cội nguồn, góp phần giữ
gìn, bảo lưu và phát triển những truyền thống tốt đẹp của quê hương dân tộc. Lễ
11


hội góp phần cố kết và nâng cao các mối quan hệ trong xã hội, là dịp vui chơi,
giải trí, thu nạp năng lượng cho cuộc sống mới.
1.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
1.2.1. Vai trị của văn hóa
u cầu phải giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc
Do tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế tồn cầu
Do tính chất xã hội hóa hoạt động văn hóa
Do dịch vụ văn hóa cũng mang tính kinh doanh, vì lợi nhuận nên dễ cạnh
tranh khơng lành mạnh.
1.2.2. Vai trị và chức năng của Nhà nước
Vai trò thứ nhất: Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng
mới.
Vai trò thứ hai: Xây dựng mơi trường văn hóa.
Vai trị thứ ba: Phát triển sự nghiệp văn học và nghệ thuật.
Vai trò thứ tư: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.
Vai trò thứ năm: Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - cơng
nghệ.
Vai trị thứ sáu: Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thơng tin đại
chúng.
Vai trị thứ bảy: Bảo tồn và phát huy, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số.
Vai trị thứ tám: Chính sách văn hóa đối với tơn giáo
Vai trị thứ chín: Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa.
Vai trị thứ mười: Củng cố, xây dựng và hồn thiện thể chế văn hố.

Vừa qua, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
đã ra Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Để thực hiện thắng
lợi Nghị quyết, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa đóng vai
trị quan trọng, cấp thiết.

13


Văn hóa có vai trị đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là năng lực
sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của
mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã chứng minh: nhờ
có nền tảng văn hóa, hòa nhập và phát triển, nên nhân dân ta đã phát huy được
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn để thắng “thiên tai,
địch họa”, giữ vững nền độc lập và bản sắc văn hóa. Ngày nay, trong bối cảnh
đất nước đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, cơng bằng, văn minh”, thì vai trị của văn hóa càng được khẳng
định, nhất là trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự
phát triển nhanh, nóng, dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa,
xã hội, v.v.
Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trị
rất quan trọng. Trên phương diện vĩ mơ, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần
định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa
các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác
động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Trên phương diện vi mơ, hoạt
động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp
kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà
nước trên lĩnh vực văn hóa. Những năm qua, quán triệt tinh thần: “Văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất

các hoạt động văn hóa. Nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận đã được thanh
tra, kiểm tra, xử lý kịp thời. Nhờ hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng đi vào
quy củ, cơng tác quản lý văn hóa đã có những chuyển biến tốt. Cơ chế quản lý
văn hóa đã bám sát thực tiễn đời sống văn hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu của
người dân, khuyến khích được sức sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của các chủ thể
văn hóa, tạo điều kiện gia tăng và đa dạng hóa các sinh hoạt văn hóa và loại hình
giải trí. Chính sách xã hội hóa trong văn hóa đã khuyến khích được nhiều nguồn
lực tham gia xây dựng và phát triển văn hóa đất nước, v.v.
Hoạt động quản lý văn hóa thời gian qua đã góp phần đảm bảo định hướng
lớn của Đảng trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
15


đậm đà bản sắc dân tộc”2. Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được bảo tồn
và phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc khơng bị mai một, hịa tan trong q trình
hội nhập và tồn cầu hóa. Nhiều giá trị văn hóa mới, tiến bộ đã được xác lập,
củng cố trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái đẹp của văn hóa nhân
loại. Hoạt động quản lý văn hóa cũng làm cho văn hóa trở thành một tác nhân
kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương. Có thể nói, cơng
tác quản lý nhà nước về văn hóa đã góp phần hiện thực hóa quan điểm của Đảng
“Văn hóa… vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩ sự phát triển kinh tế - xã
hội”3. Từ một lĩnh vực bị xem là chủ yếu mang chức năng giáo dục, tuyên
truyền, văn hóa đã dần trở thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế, mang lại lợi
nhuận, góp phần nâng cao đời sống người dân, ổn định an ninh xã hội. Chủ
trương sáp nhập lĩnh vực văn hóa với thể thao và đặc biệt là với du lịch là đúng
đắn, thể hiện tầm nhìn vĩ mơ về văn hóa trong tiến trình phát triển bền vững đất
nước.
Tuy nhiên, cơng tác quản lý nhà nước về văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế, yếu
kém. Hiện nay, tuy chúng ta đang tiến hành quản lý văn hóa trong cơ chế kinh tế
thị trường, nhưng dấu ấn của cơ chế bao cấp vẫn còn khá sâu đậm, khiến cho

kiểm sốt xu thế thương mại hóa văn hóa thái quá trong kinh doanh sản phẩm,
dịch vụ văn hóa và sự phục hồi, bùng phát hiện tượng mê tín dị đoan, các hủ tục
còn chưa hiệu quả, v.v.
1.3. Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
1.3.1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật đối với hoạt động
dịch vụ văn hóa, bao gồm chính chính sách phát triển, chính sách hỗ trợ và tạo
điều kiện, chính sách quản lý
1.3.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dịch vụ văn hóa
1.3.3. Huy động nguồn lực, kinh phí cho các hoạt động dịch vụ văn hóa
1.3.4. Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý nhà nước về dich vụ văn hóa.
1.3.5. Tổ chức thanh kiểm tra và xử lý VPHC trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về dịch vụ văn hóa
1.4. Các yếu tố tác động tới hoạt động QLNN về DVVH
1.4.1. Quan điểm chính trị
17


1.4.2. Pháp luật, chính sách
1.4.3. Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức
1.4.4. Công nghệ thông tin
1.4.5. Ý thức trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ
1.5. Kinh nghiệm QLNN về DVVH của một số địa phương
1.5.1. Kinh nghiệm của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
1.5.2. Kinh nghiệm của khu phố cổ Hội An
1.5.3. Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng
1.5.4. Bài học kinh nghiệm cho huyện Hoài Đức
*Tiểu kết chương 1

18


19


2.3. Hiện trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện
Hồi Đức
Tổ chức triển khai thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa
Xây dựng, triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch quản lý dịch vụ văn hóa
Tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
Huy động nguồn lực
Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính đối với kinh doanh các loại
hình dịch vụ văn hóa
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa
bàn huyện Hồi Đức
2.4.1. Những ưu điểm
2.4.2. Hạn chế
2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế
* Tiểu kết chương 2

20


CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN
HĨA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Quan điểm, định hướng
3.1.1. Quan điểm của Đảng về quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
3.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng phát triển văn hóa, con người
1- Xây dựng con người Việt Nam phát triển tồn diện
2- Xây dựng mơi trường văn hóa lành mạnh

cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhà cung
cấp. Các sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần và tư tưởng khi được phổ
biến sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của con người và làm hình
thành nhân cách con người. Vì thế mà các hoạt động văn hóa có giá trị giáo dục
đặc biệt đối với xã hội. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng
hóa phát triển hiện nay, sản phẩm văn hóa cũng trở thành hàng hóa, được trao
đổi mua bán trên thị trường và là đối tượng của kinh doanh dịch vụ. Chính yếu
tố là hàng hóa này, một mặt làm cho sản phẩm văn hóa dễ phổ biến và phổ biến
nhanh vào đời sống nhân dân ở cơ sở, mặt khác do có yếu tố hàng hóa nên dễ bị
các nhà kinh doanh, dịch vụ khơng chân chính thực hiện thương mại hóa các sản
phẩm văn hóa.
Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ở cơ sở là sự tác động có
tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước. Trong nhiều năm qua, Đảng
và Nhà nước ta đã chú ý đặc biệt đến công tác này. Cụ thể là đã phát động phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, Nhà nước đã thực
hiện quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa thơng qua pháp luật, những
chính sách văn hóa cơ sở và thực hiện kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật.
Huyện Hồi Đức là một huyện ven đơ, trong tương lai sẽ là một trong
những huyện phát triển nhất Thủ đơ Hà Nội. Qúa trình đơ thị hóa diễn ra mạnh,
dân số cơ học tăng cao, do vậy hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ngày càng
22


phát triển. Bên cạnh những mặt tích cực mà các DVVH mang lại như bộ mặt đô
thị ngày càng đẹp hơn, đáp ứng nhu cầu hưởng thị văn hóa của người dân trong
huyện nói riêng và các vùng lân cận nói chung thì hoạt động DVVH trên địa bàn
huyện cũng mang lại khơng ít những tiêu cực cho người dân nơi đây. Chính vì
vậy, để hoạt động DVVH đi vào nề nếp cần phải có sự chung
Tay góp sức của các cấp các ngành, đặc biệt cần đẩy mạnh tuyên truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status