Gián án Vấn đề quan tâm về Chương tứ giác - Pdf 81

NHỮNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC
PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
( TRÌNH BÀY TRONG CHƯƠNG II – HÌNH HỌC SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 8_ TẬP I )
I . DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
1 . Quan niệm về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề :
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là hình thức : “ Thầy tổ chức cho
trò học tập trong hoạt động và bằng hoạt động do thầy tạo ra tình huống hấp dẫn
gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra vướng mắc mà họ chưa giải đáp được ngay,
nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến học sinh thấy có khả năng giải quyết
được nếu tích cực suy nghó ”.
- Vấn đề : Vấn đề được biểu thò bởi một hệ thống các mệnh đề, câu hỏi,
yêu cầu hoạt động chưa được giải đáp, chưa có phương pháp và chưa có tính
thuật toán để giải đáp hoặc thực hiện.
- Tình huống có vấn đề : Là tình huống trong đó tồn tại một vấn đề, gợi
nhu cầu nhận thức và gây niềm tin ở khả năng.
2 . Các bước dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề :
- Bước 1 : Phát hiện và thâm nhập vấn đề .
- Bước 2 : Tìm giải pháp .
- Bước 3 : Trình bày giải pháp .
- Bước 4 : Nghiên cứu sâu giải pháp .
3 . Mức độ thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề :
- Giáo viên nêu tình huống, học sinh độc lập phát hiện và giải quyết vấn
đề.
- Giáo viên vấn đáp học sinh nhằm phát hiện và giải quyết vấn đề .
- Giáo viên thuyết trình và giải quyết vấn đề .
4 . Các cách thông dụng tạo ra tình huống gợi vấn đề :
- Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn .
- Lật ngược vấn đề .
- Xem xét tương tự .
- Khái quát hoá .
- Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới .

hình 114hình 113
hình 112

?2
sách giáo khoa lại tạo ra tình huống gợi vấn đề, bằng cách lật ngược vấn
đề với câu hỏi :“Tại sao các đa giác ở hình 112, 113, 114 không phải là đa giác
lồi”. Qua bài này học sinh cũng có thể tính được số đo mỗi góc của ngũ giác đều,
lục giác đều, n giác đều .
b
a
Ở bài 2 : “Diện tích hình chữ nhật” tình huống gợi vấn đề nêu ra ở đầu bài
sách giáo khoa trình bày như sau : “ Công thức tính diện tích hình chữ nhật là cơ
sở để suy ra công thức tính diện tích các đa giác khác” . Trên cơ sở kiến thức học
sinh đã biết công thức tính diện tích hình chữ nhật, giáo viên nêu vấn đề ta có thể
suy ra công thức tính diện tích các đa giác nào?nhưng trước tiên ta cần phải hiểu
“ Diện tích đa giác là gì ?” . Để đi đến khái niệm diện tích đa giác, sách giáo
khoa trình bày dẫn dắt học sinh từ những kiến thức quen thuộc như : Số đo của
một đoạn thẳng, Số đo của góc,dẫn đến khái niệm diện tích đa giác và tính chất
của nó.
Sang phần 2 sách giáo khoa giới thiệu lại công thức tính diện tích hình chữ nhật
mà học sinh đã biết từ tiểu học. Đặt vấn đề : “Từ công thức tính diện tích hình
chữ nhật hãy suy ra công thức tính diện tích hình vuông, tam giác vuông”
Gợi ý : - Hình vuông là một trường hợp riêng của hình chữ nhật .
- Tam giác vuông là nửa hình chữ nhật .
b
a
3,21 cm
2,00 cm

S = a.b S = a


1
S = a.h
2
Ở bài này còn rèn luyện kó năng cắt, ghép hình cho học sinh qua
?
Hãy cắt một
tam giác thành ba mảnh để ghép lại thành một hình chữ nhật .
Gợi ý : Xem hình
a
a
2,00 cm
2,00 cm

h
2
a
h
a
Cách ghép :

h/2Ở bài 4 : “ Diện tích hình thang ” . Trên cơ sở diện tích tam giác vừa học, sách
giáo khoa nêu vấn đề : “ Từ công thức tính diện tích tam giác, có tính được diện
tích hình thang hay không ?” . Gợi ý giải pháp bằng
?1
Hãy chia hình thang
ABCD thành hai tam giác, rối tính diện tích hình thang theo hai đáy và đường

2
Trên cơ sở tính diện tích hình thang, sách giáo khoa đưa ra tình huống gợi vấn đề
bằng
?2
Hãy dựa vào công thức tính diện tích hình thang để tính diện tích hình
bình hành và gợi ý : Hình bình hành là hình thang có hai đáy bằng nhau .
Ở bài 5 : “ Diện tích hình thoi ” khi xây dựng công thức tính diện tích hình
thoi ( S =
1
2
d
1
.d
2

)cũng tương tự như thế và tổng quát lên với việc đi tính diện tích
của một đa giác bất kì ở bài 6 : “ Diện tích đa giác ” vấn đề đặt ra ở đây là : “
Làm thế nào để tính diện tích của một đa giác bất kì ?”
Hình 3
Hình 2
Hình 1
Ta có thể chia đa giác thành các tam giác ( hình 1 ), hoặc tạo ra một tam giác nào
đó có chứa đa giác ( hình 2 ), do đó việc tính diện tích của một đa giác bất kì
thường được quy về việc tính diện tích các tam giác.
Trong một số trường hợp, để việc tính toán thuận lợi ta có thể chia đa giác thành
nhiều tam giác vuông và hình thang vuông ( hình 3 ).
Ở cả ba hình 1, 2 ,3 đều tính diện tích của một ngũ giác, nhưng lại có ba cách
phân chia khác nhau, tuỳ theo hình mà lựa chọn cách chia thích hợp .
Như vậy, xét trên toàn chương tất cả các kiến thức đều được sách giáo khoa trình
bày theo quan điểm dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status