KHAI THÁC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ THCS
Trần Thị Luân
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong sách giáo khoa lịch sử hiện nay ki?n thức lịch sử không chỉ tập trung
ở kênh chữ mà còn cả ở kênh hình. Như v?y kênh hình trong d?y học lịch sử
hiện nay không chỉ được sử dụng giới hạn ở việc minh hoạ cho nội dung bài học
mà là một trong những nguồn cung cấp kiến thức lịch sử quan trong cho học
sinh.
Trong dạy học lịch sử, khai thác và sử dụng kênh hình là biện pháp quan
trong tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, gây hứng thú học tập
hơn cho học sinh. Đối với giáo viên khai thác sử dụng kênh hình trong sách giáo
khoa, không chỉ làm cho bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn mà còn góp phần
quan trong trong việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh;
phát triển ở học sinh kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ; giáo
dục tư tưởng cảm xúc, cảm nghĩ ở học sinh. Đối với học sinh thông qua “làm
việc” với bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ các em sẽ hiểu sâu sắc hơn bản chất của sự
kiện lịch sử, nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội, nhớ kỹ, hiểu sâu
những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hỉnh ảnh được giữ lại đặc biệt vững
chắc trong trí nhớ là hình ảnh thu nhận bằng trực quan.
Mặc dù việc khai thác sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là biện pháp
quan trong để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nhưng hiện nay vấn đề này
vẫn chưa được quan tâm một cách đầy đủ. Nguyên nhân của tình trạng này có
nhiều, song chủ yếu là:
- Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của sách giáo khoa và coi đây là
nguồn cung cấp kiến thức lịch sử duy nhất trong dạy – học lịch sử mà
không thấy rằng kênh hình không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng
cung cấp một lượng thông tin đáng kể, mà còn là phương tiện trực quan
có giá trị giúp bài học lịch sử trở nên sinh động hấp, dẫn hơn, gây hứng
thú học tập hơn cho học sinh.
NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
A- NỘI DUNG:
I. Cơ sở lí luận, khoa học của đề tài:
Đặc trưng nổi bật của việc nhận thức lịch sử là học sinh không thể tri giác
trực tiếp được những sự kiện lịch sử đã xẩy ra trong quá khứ, cũng không thể
dung lại lịch sử trong phòng thí nghiệm. lịch sử là những gì đã xẩy ra trong quá
khứ, là hiện thực trong quá khứ tồn tại khách quan nên không thể phán đoán,
suy luận để biết về lịch sử. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
trong dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những gì đã diễn ra trong quá khứ một
cách chính xác nhưng không kém phần hấp dẫn và sinh động.
Trong phương pháp dạy học lịch sử, nội dung của một sự kiện lịch sử được
học sinh nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh của quá khứ bằng những
hoạt động của tri giác và cảm giác. Trong sách giáo khoa lịch sử cũ kênh hình
hầu như không được chú trọng nếu có cũng chỉ để minh hoạ cho nội dung kênh
chữ. Vì vậy khi giảng dạy lịch sử người giáo viên chủ yếu sử dụng lời nói để tái
tạo lại các sự kiện, hiện tượng lịch sử nên giờ học thường trở nên nhàm chán và
khô cứng. Hiện nay sách giáo khoa đã rất chú trọng đến kênh hình, thể hiện số
lượng kênh hình tăng lên đáng kể so với trước, hơn nữa kênh hình trong sách
giáo khoa hiện hành không chỉ giới hạn ở việc minh hoạ cho nội dung bài học
mà nó thường chứa đựng những kiến thức lịch sử quan trọng đòi hỏi học sinh
phải nắm được thông qua “làm việc” với kênh hình. Vì vậy khi giảng dạy lịch
sử đòi hỏi người giáo viên không chỉ sử dụng lời nói mà còn sử dụng những
hình ảnh trực quan của quá khứ để tái tạo lại lịch sử nên giờ học trở nên sinh
động và hấp dẫn hơn đối với học sinh.
II. Chọn đối tượng phục vụ cho quy trình nghiên cứu xây dung đề
tài.
Đối tượng phục vụ cho quy trình nghiên cứu xây dung đề tài là toàn bộ học
sinh khối 8 trường THCS Tân Phong: Tổng số 95 học sinh.
Trong đó: Lớp 8A 32 học sinh.
Trường THCS Tân Phong
viên lược thuật một cách ngắn gọn nội dung.
- Giáo viên gợi ý học sinh quan sát, khai thác nội dung bằng những câu
hỏi gợi ý để học sinh nắm được nội dung lịch sử trên lược đồ. Cuối
Trường THCS Tân Phong
KHAI THÁC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ THCS
Trần Thị Luân
cùng giáo viên lược thuật một cách ngắn gọn để học sinh hiểu nội dung
lịch sử trên lược đồ.
Ví dụ:
Khi khai thác sử dụng H57. Lược đồ nước Nga Xô Viết chống thù trong
giặc ngoài (1918-1920) để dạy phần 2 “Chống thù trong giặc ngoài” của bài 15:
Cách mạng tháng mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng
(1917-1921), (sách giáo khoa lịch sử 8 trang 80,81).
+ Trước hết giáo viên giới thiệu tên lược đồ “nước Nga Xô Viết chống
thù trong giặc ngoài (1918-1920)”, giải thích cho học sinh các kí hiệu trên lược
đồ: kí hiệu ngọn lửa màu đen là lực lương quân nổi loạn; kí hiệu mũi tên màu
đen là lực lượng quân của các nước đế quốc can thiệp; mũi tên màu xanh là
hướng tấn công của Hồng quân Xô Viết; vùng lấm chấm trên lược đồ là vùng
cách mạng kiểm soát năm 1919.
+ giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và dựa vào các kí hiệu trên lược
đồ để khai thác nội dung bằng những câu hỏi như:
Lực lượng các nước đế quốc tấn công nước Nga Xô Viết từ những hướng
nào?
Trong nước Nga có những lực lượng nổi loạn nào? Tại sao chúng lại cấu
kết với nhau?
Trước hoàn cảnh khó khăn, chính quyền Xô Viết đã có những biện pháp
gì?
Kết quả và ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài?
+ sau khi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bằng việc trả lời những
câu hỏi nêu trên, để giúp học sinh thấy được toàn cảnh cuộc đấu tranh giáo viên
giáo viên cần giới thiệu cho học sinh tên sơ đồ, sau đó hướng dẫn học sinh khai
thác sơ đồ bằng những câu hỏi gợi ý để học sinh tư duy và tìm hiểu nội dung.
Cuối cùng giáo viên sử dụng sơ đồ chốt lại nội dung cơ bản.
Ví dụ:
Khi khai thác H.30: Sơ đồ bộ máy hội đồng công xã (sách giáo khoa lịch
sử 8 trang 37) để dạy mục II, Tổ chức bộ máy và chính sách của công xã Pa-ri,
Bài 5: Công xã Pa-ri 1871.
+Trước hết giáo viên cho học sinh quan sát sơ đồ H.30, đọc tên sơ đồ: Bộ
máy hội đồng công xã Pa-ri.
+ Giáo viên cho hoc sinh đọc sách giáo khoa, sau đó yêu cầu học sinh
dựa vào sơ đồ H.30 trình bày về bộ máy nhà nước công xã Pa-ri.
+ Giáo viên sử dụng sơ đồ để giải thích cho học sinh hiểu về cách thức tổ
chức hoạt động của công xã Pa-ri sau đó so sánh khái quát nhà nước của công
xã Pa-ri với nhà nước của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản, để học sinh
hiểu bản chất nhà nước Công xã Pa-ri:
Trường THCS Tân Phong
KHAI THÁC SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ THCS
Trần Thị Luân
Sau khi cuộc khởi nghĩa ngày 18-3-1871 thành công. Ngày 26-3-1871,
nhân dân Pa-ri tiến hành bầu cử Hội đồng công xã theo nguyên tắc phổ thông
đầu phiếu và đã chọn ra được 86 đại biểu, phần lớn là công nhân và tri thức, đại
diện cho nhân dân lao động Pa-ri.Bộ máy nhà nước theo hình thức nghị viện tư
sản được thay thế bằng Hội đồng công xã- một hình thức quốc hội vô sản, một
tổ chức chính trị kiểu mới.
- Khung tròn: Hội đồng công xã là cơ quan cao nhất của nhà nước mới,
được thành lập qua bầu cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu, gồm đại
biểu của công nhân, tri thức dân chủ như: viên chức, nhà giáo, thầy
thuốc, nhà báo tiến bộ…tiêu biểu cho các tầng lớp nhân dân lao động
của thành phố Pa-ri. Trong công xã, công nhân nắm vị trí lãnh đạo.
Công xã tập trung trong tay cả quyền lập pháp và quyền hành pháp,