Tài liệu Khoa học và nghiên cứu khoa học - Pdf 85

Khoa học và
nghiên cứu khoa học
Mục Lục
Chương 1 : KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. KHOA HỌC
1. Khái niệm
2. Ý nghĩa của khái niệm
3. Quá trình phát triển của khái niệm
4. Đ ộng lực phát triển của khái niệm
5. Vai trò của sự kiện trong tư duy và lí luận
II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Khái niệm
2. Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học
3. Những yêu cầu đối với người nghiên cứu khoa học
III. CÁC LỈNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Nghiên cứu cơ bản
2. Nghiên cứu ứng dụng
3. Nghiên cứu triển khai
4. Nghiên cứu dự báo
MỞ ÐẦU
Ðộng lực để xã hội tiến bộ không ngừng là tri thức và sự phát triển của nó. Sự hiểu
biết thế giới và xã hội loài người ngày càng sâu sắc là do chính con người tạo ra. Kho tàng
tri thức ấy là khoa học. Sự tạo ra ngày càng nhiều tri thức là do sự nghiên cứu khoa học, nó
đã không ngừng nhân kho tàng tri thức của con người lên gấp bội. Ngày nay số lượng người
nắm vững tri thức và biết nhân nó lên hàng ngày đông đảo hơn bao giờ hết.
Nếu nói rằng lực lượng những người làm khoa học, mà cụ thể là những người làm
công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) hầu hết là có trình độ đại học trở lên là không sai. Ở
nước ta, số người này cũng không nhỏ. Chỉ nói từ sau giải phóng Miền Nam (1975), số
người tốt nghiệp Ðại học mỗi năm có đến vài chục vạn người. Sự đóng góp của họ trong
lĩnh vực phát triển khoa học công nghệ ngày một gia tăng theo đà cấp số.
Tuy nhiên, không phải ai có trình độ đại học đều có thể NCKH được. Ngoài trình độ

những nhu cầu tối thiểu của họ trong lĩnh vực NCKH. Với thời lượng hạn hẹp cho phép đối
với học trình này, chúng tôi lựa chọn những nội dung cơ bản nhất cho bài giảng của mình.
Bài giảng sẽ hỗ trợ cho người học những công đoạn nghiên cứu khi đã có đề tài và đặc biệt
là công đoạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình.
Bài giảng PPNCKH này được chia làm 4 phần:
Phần 1: Khoa học và nghiên cứu khoa học (3 tiết).
Phần 2: Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (7 tiết).
Phần 3: Các hình thức nghiên cứu khoa học (6 tiết).
Phần 4: Logic học và nghiên cứu khoa học (4 tiết).
Ðối với sinh viên, chương trình sẽ được nối tiếp theo 10 tiết học về Thư viện, phần này
sẽ do Thư viện đảm trách. Ðối với các đối tượng khác (Cao học và NCS), bài giảng này sẽ
được bố sung thêm nội dung, chủ yếu là trình bày luận văn phù hợp với đối tượng và chuyên
môn từng ngành, và luyện tập PPNC. Vì vậy họ có thể lấy bài giảng này làm tài liệu tham
khảo chính được.
Chương 1: KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Từ khóa: - Khoa học
- NCKH
- Sự kiện
- Sáng tạo
- Lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Tóm tắt nội dung:
Phần này sẽ giới thiệu tóm tắt các khái niệm cơ bản về khoa học và nghiên cứu khoa
học để người học có cái nhìn tổng quan về những công việc và yêu cầu đối với một người
làm công tác nghiên cứu khoa học. Trong khái niệm về khoa học, ý nghĩa và quá trình phát
triển của nó sẽ được đề cập đến để đoạn sau nói đến công việc của nhà nghiên cứu, trong
đó chú trọng đánh giá mối quan hệ giữa sự kiện và tư duy cũng như những điều kiện để có
tư duy sáng tạo.
Yêu cầu sinh viên:
- Nắm một cách khái quát công việc và yêu cầu đối với người làm công tác NCKH.
- Xác định được tầm quan trọng của sự kiện trong mối quan hệ giữa chúng với tư

- Từ không biết đến biết.
- Từ đơn giản đến phức tạp.
- Từ hình thức đến bản chất.
- Từ rời rạc đến hệ thống.
- Từ ít đến nhiều.
- Từ chậm đến nhanh.
1.3.2. Các dấu hiệu về bản chất của sự phát triển:
- Sự đấu tranh (con người với thiên nhiên, con người với con người).
- Sự riêng biệt và thống nhất (sự phân chia và sự nối liền các ngành khoa học).
- Sự tăng tốc.
1.3.3. Nguyên nhân của sự phát triển:
- Nhu cầu của con người (ghi chép, truyền đạt, lao động).
- Nhu cầu của chính khoa học.
- Phát hiện sự kiện (do nghiên cứu, do giao lưu, viễn chinh).
- Sự xuất hiện của ngôn ngữ.

4. Ðộng lực phát triển của KH: TOP
1/ Thực tiễn con người và tự nhiên:
- Lao động sản xuất để phát triển cuộc sống.
- Tìm hiểu tự nhiên để cùng sống với tự nhiên.
2/ Thực tiễn xã hội và sự phát triển của lịch sử:
- Các quan hệ trong xã hội.
- Phương thức sản xuất thay đổi.
3/ Thực tiễn quan hệ giữa con người và con người:
- Giáo dục.
- Tâm lí.
- Y tế.
- Chiến tranh.
4/ Thực tiễn sự phát triển của khoa học:
- Sự kích thích của khoa học đối với các nhà khoa học. (đôi khi khoa học đi trước

sự kiện đang được nghiên cứu, người ta có thể nhìn thấy trước những quả tiếp theo. Hệ
thống lí luận ấy là sản phẩm của tư duy của con người, là khoa học.
Tuy nhiên, KH cũng nghiên cứu những sự kiện ngẫu nhiên vì ngẫu nhiên cũng là một
trong những hình thức hoặc yếu tố của sự biểu hiện cái có qui luật.
Kết luận: Sự kiện không có tư duy lí luận thì sẽ không có khoa học, hoặc xem nhẹ tư
duy lí luận thì sẽ làm con người mất khả năng đi sâu vào bản chất của tự nhiên và xã hội.
Ngược lại, coi thường hoặc không cần sự kiện thì tư duy lí luận sẽ trở thành duy ý chí.

II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:
1. Khái niệm: TOP
Kho tàng tri thức của loài người ngày một nhiều là do các thế hệ con người nối tiếp
nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên
cứu khoa học là gì ?
Nghiên cứu là một công việc mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào
đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho người khác rõ. Ví dụ: nghiên cứu một bài toán,
nghiên cứu một câu nói để hiểu nó, nghiên cứu bảng giờ tàu để tìm chuyến đi thích hợp cho
mình.
Nghiên cứu có hai dấu hiệu:
- Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm)
- Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người.
Học tập ở nhà trường là quá trình thu lượm tri thức mà loài người đã có. Tuy những
vấn đề học tập luôn là mới mẻ với bản thân người học song việc tự học tìm tòi, xem xét là
rất ít. Học sinh cần sự chỉ bảo của người thầy. Trong quá trình học tập, học sinh có thể
nghiên cứu những vấn đề nho nhỏ có tính chất tập sự làm việc tự lực. Cũng chính vì vậy mà
ngày nay, trong công cuộc cải tiến PPDH, người ta hay nhắc đến cụm từ dạy học khám phá.
Ngoài ý nghĩa về việc phát triển tư duy cho học sinh một cách tích cực, còn có ý nghĩa khác,
người thầy phải tập cho học sinh có tác phong nghiên cứu ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà
trường, trong từng bài giảng. Bậc học càng cao, sự tự lực càng nhiều. Ở bậc đại học, sinh
viên có thể tự làm những vấn đề lớn hơn, những nhiệm vụ học tập mà thầy giáo cho. Cũng
có thể gọi là nghiên cứu.

cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa thành kết luận. Nếu dữ
liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết quả từ các đại lượng tính được. Tư
duy khoa học bắt từ đây.
4) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu:
(Việc trình bày đề tài NCKH sẽ là công việc cuối cùng và sẽ được trình bày ở
phần 3).
3. Những yêu cầu đối với người NCKH: TOP
Ai là người có thể NCKH ? Ðó là những người:
1) Có trình độ chuyên môn:
Không thể nói rằng NCKH là công việc của những người có học thức song những
người chưa đủ trình độ học vấn tối thiểu thì không thể NCKH được. Nếu vì lí do nào đó mà
những người nay cần NCKH thì chắc chắn họ phải đọc thêm, học hỏi thêm về chuyên môn.
Nếu không thì những gì họ tìm thấy (là mới, là đúng) thì cũng chỉ dừng lại ở kinh nghiệm.
Những kinh nghiệm quí báu ấy cần được kiểm tra, xác định phạm vi ứng dụng... của người
có chuyên môn. Ðôi khi người NCKH không những cần kiến thức của lĩnh vực mình mà còn
cần kiến thức trong những lĩnh vực gần gũi hoặc có liên quan.
Ngoài ra, người làm công tác NCKH cần có kĩ năng sử dụng máy móc, thiết bị kĩ
thuật để công việc được tiến triển nhanh hơn, kết quả chính xác hơn.
2) Có phương pháp làm việc khoa học:
Ðó là:
- Khả năng và phương pháp tư duy.
- Khả năng phát hiện vấn đề và nhìn nhận vấn để bắt đầu nghiên cứu.
- Khả năng thu và xử lí, số liệu: thu số liệu bằng phương tiện gì, cách thu số liệu,
cách phân tích, lọc lựa số liệu....
- Khả năng vạch kế hoạch làm việc thật khoa học, tiết kiệm thời gian và kinh tế.
- Khả năng trình bày vấn đề khoa học: có kĩ thuật, rõ, dễ hiểu.
3) Có các đức tính của một nhà khoa học chân chính:
- Say mê khoa học.
- Nhạy bén với sự kiện xảy ra.
- Cẩn thận khi làm việc.

b) Nghiên cứu chất siêu dẫn:
- Nhà vật lí tìm ra chất siêu dẫn (NCCB).
- Các nhà vật lí và kĩ thuật cố gắng đưa chất siêu dẫn vào thực tế kĩ thuật và đời
sống. Trước tiên, cần tạo ra mẫu siêu dẫn trong PTN phù hợp với thực tiễn (nâng nhiệt độ
chất siêu dẫn lên). Tuy nhiên, hiện nay các kết quả nghiên cứu ứng dụng vẫn còn nằm trong
PTN và đang được các nhà khoa học cải tiến thêm để có thể đưa vào sản xuất và sử dụng đại
trà.
- NC triển khai: chưa !
4. Nghiên cứu dự báo: TOP
Càng ngày càng xuất hiện nhiều những nhà khoa học nghiên cứu, phán đoán những
vấn đề trong tương lai thuộc nhiều lĩnh vực: xã hội, môi trường, dân số, kiến trúc... Những
nghiên cứu của họ đều xuất phát từ những sự kiện hiện tại, sự tiến triển có logic, có hệ thống
trong lịch sử, những tính toán và suy luận khoa học, Những công trình của họ có ý nghĩa rất
quan trọng cho xã hội loài người, giúp cho con người có cái nhìn rộng hơn, xa hơn, định
hướng cho sự phát triển của xã hội, của ngành mình... cũng như tránh khỏi những hiểm họa
có thể có do chính con người gây ra. Những công trình nghiên cứu dự báo cũng rất có ý
nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục, không chỉ riêng ở một quốc gia nào. Bởi trong sự phát
triển chung của xã hội cũng như sự đòi hỏi của chính xã hội đối với giáo dục, hiện nay có rất
nhiều các công trình nghiên cứu dự báo về nội dung, hình thức tổ chức giáo dục, phương
tiện và phương pháp giáo dục trong tương lai.
Chương II: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Khoa học giáo dục
2. Các hướng nghiên cứu của khoa học giáo dục
3. Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục
4. Các quan điểm cơ bản về phương pháp luận NCKHGD
II. PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT
1. Khái niệm
2. Chức năng của PPQSSP

tính. Thật ra, các phương pháp này không dành riêng cho ngành sư phạm mà có thể được
dùng cho tất cả các ngành khoa học xã hội. Nếu vận dụng chúng, xét các ví dụ với nội dung
xã hội nói chung thì đó là các phương pháp nghiên cứu định tính các ngành khoa học xã
hội. Các phương pháp được giới thiệu ở đây sẽ là: phương pháp quan sát, phương pháp
điều tra (hay thăm dò), phương pháp tổng kết kinh nghiệm và phương pháp thực nghiệm sư
phạm. Gọi là các phương pháp nghiên cứu định tính bởi vì chúng dựa vào các thông tin thu
thập được để suy luận, rút ra những kết luận là cơ sở cho những đề tài tiếp theo hoặc những
kết luận trên bình diện hẹp của vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là
không nói đến toán học. Các thông tin bằng số hoặc được mã hóa bằng số, đặc biệt là các
thông tin của phương pháp thực nghiệm sẽ phải được biểu diễn bằng các đại lượng thống
kê đơn giản, bằng đồ thị, biểu bảng... Vì vậy, ở cuối phần này sẽ được trình bày sơ lược vài
vấn đề toán học thống kê đơn giản. Việc tính toán thống kê ở những đề tài với qui mô lớn và
phức tạp sẽ được giới thiệu ở các giáo trình toán học thống kê, thống kê xã hội học (phương
pháp nghiên cứu khoa học định lượng).
Yêu cầu đối với sinh viên:
Sinh viên cần nắm các yêu cầu của các phương pháp nghiên cứu, luyện tập nhiều
để có những kĩ năng tối thiểu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học được đề cập tới trong
bài giảng.
I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG:
1. Khoa học giáo dục: TOP
Phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục cũng như việc tổ chức dạy học đã có
cách đây hàng ngàn năm. Song những công việc đó, trong một thời gian dài, chỉ dừng lại ở
tài năng và kinh nghiệm cá nhân, không thành một vấn đề khoa học cần được nghiên cứu
một cách nghiêm túc. Không rõ Nhà trường được xuất hiện trên thế giới từ lúc nào song có
lẽ khi đó mới bắt đầu các nhà sư phạm nghiên cứu về công việc của nhà trường. Lí do là:
- Nhà trường phải đáp ứng yêu cầu của giai cấp thống trị là tạo ra mẫu người phù
hợp nhất phục vụ cho giai cấp ấy.
- Nhà trường phải luôn phát triển bởi sự phát triển của xã hội (về tư tưởng), bởi sự
phát triển của khoa học (về nội dung dạy học), bởi sự phát triển của kĩ thuật (về cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học).

nghĩa rộng: Các mối liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc xây dựng toàn
diện một nhà trường (kể cả trong dạy học) song không đi sâu vào phương pháp dạy học.
Ðối với người giáo viên, việc nghiên cứu giáo dục học sinh cá biệt (kém, giỏi) và tổ
chức phong trào của lớp chủ nhiệm là hai mảng đề tài thường gặp và cần thiết nhất. Cơ sở
cho các công trình nghiên cứu này là tâm lí học, các nguyên lí giáo dục, các quan niệm vềì
con người trong xã hội.
Hướng 3: Nghiên cứu quá trình dạy học.
Hướng đề tài này có nội dung rất phong phú. Quá trình dạy học là quá trình
chính yếu của mọi nhà trường. Các nội dung nghiên cứu sẽ là:
- Nghiên cứu nội dung dạy học.
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học.
- Nghiên cứu sử dụng, cải tiến, chế tạo dụng cụ dạy học.
- Nghiên cứu đào tạo học sinh giỏi cũng như nâng kết quả học tập của học sinh
kém.
- Nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học.
...
Hướng 4: Nghiên cứu quản lí giáo dục.
Hướng đề tài này cũng bao gồm các công việc nghiên cứu mang tầm vĩ mô.
Quản lí giáo dục không tốt sẽ không đem đến kết quả theo ý muốn đối với bất cứ nền giáo
dục nào. Nội dung nghiên cứu không những nhằm vào các trường học mà còn vượt ra ngoài
chúng, nghĩa là nhằm vào các cơ quan quản lí giáo dục cũng như cán bộ quản lí giáo dục các
cấp.
Theo sự phân chia trên, các nhà nghiên cứu giáo dục dễ dàng định cho công việc
nghiên cứu cũng như trao đổi thông tin với nhau. Tuy nhiên, mọi sự phân chia trong khoa
học, đặc biệt là khoa học giáo dục đều mang tính tương đối, dù cho cơ sở để phân chia là
giống nhau. Có nghĩa là, có những đề tài liên kết hai hoặc nhiều hướng nghiên cứu với nhau,
đặc biệt là các chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc gia.
Ví dụ: Khi nghiên cứu tìm hệ thống giáo dục phù hợp cho một quốc gia thì không thể
tách rời việc nghiên cứu về cơ sở vật chất ở các trường học, nội dung sách giáo khoa cũng
như không thể không nói đến đội ngũ quản lí giáo dục....


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status