Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đồng bào Khmer Nam Bộ có nền văn hóa truyền thống mang đậm màu sắc
bản địa và tôn giáo. Trong suốt quá trình phát triển của cộng đồng các dân tộc ở
đồng bằng sông Cửu Long nền văn hóa Khmer đã giao hoà, gắn kết với các nền
văn hóa khác, góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và
đậm đà bản sắc dân tộc. Trà Vinh là một trong hai tỉnh ở khu vực đồng bằng
sông Cửu Long có đông đồng bào dân tộc Khmer - sau tỉnh Sóc Trăng. Tuy là
vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá
vật thể và phi vật thể của người Khmer nên rất thích hợp để phát triển theo định
hướng du lịch văn hoá. Nhận định từ thực tế như vậy, qua đề cương này, tôi chọn
đề tài “Giá trị văn hoá của người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh
Trà Vinh” nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu với mong muốn trang bị thêm kiến
thức nghề nghiệp tương lai của sinh viên ngành Văn hoá du lịch, song song với
mong muốn đưa bản sắc dân tộc Khmer vào định hướng phát triển du lịch ở tỉnh
Trà Vinh cũng như loại hình du lịch văn hoá cho Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nhiên cứu
Qua nghiên cứu, chúng ta có thể phần nào góp công trong hoạt động duy trì
và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của người Khmer tạo sản phẩm đa dạng
để đưa vào phát triển loại hình du lịch văn hoá và từ đó có thể giới thiệu văn hoá
Khmer đến người dân trong nước cũng như bạn bè quốc tế. Cụ thể trong đề
cương này là khai thác điểm riêng biệt tiềm năng để đưa vào định hướng phát
triển du lịch cho tỉnh Trà Vinh.
1
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
− Nêu được những giá trị văn hoá tiêu biểu của người Khmer ở tỉnh Trà
những giá trị văn hoá của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh, những kết quả và hạn
chế của các giá trị văn hoá Khmer tiêu biểu đã được khai thác du lịch ở tỉnh.
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG, ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
Chương 3 nêu ra những định hướng và những kiến nghị, đề xuất đối với
việc đưa giá trị văn hoá của người Khmer vào phát triển du lịch ở tỉnh Trà Vinh.
3
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ VĂN HOÁ
1.1 Các khái niệm, định nghĩa
1.1.1.Du lịch
−Du lịch:
Theo IUOTO (International Union of Official Travel Organization): Du
lịch là một hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú
thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải làm ăn, sinh sống.
Theo Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch tại Ý (21/08 – 05/09/1963):
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh
tế bắt nguồn từ các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên
của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Theo kinh tế học: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết
hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các
nhu cầu khác.
Mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích
kinh tế, xã hội, văn hóa
Quá trình phát triển diễn ra trong một thời gian lâu dài
Đáp ứng được nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu
của các thế hệ tiếp theo.
− Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có
5
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để
hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn du lịch.
− Khách du lịch (Tourist) là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia
hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 tiếng đồng hồ và
nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như nghỉ dưỡng, tham quan, thăm
viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.
− Khách tham quan (Excursionist), còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày
(Day visitor), là loại du khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới
24 tiếng đồng hồ và không lưu trú qua đêm.
− Du khách quốc tế (International Tourist):
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Chương IV pháp lệnh du lịch, những người
được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Là người nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vài
Việt Nam du lịch.
một đấng siêu nhiên.
1.2 Các quan điểm về văn hoá và bảo tồn giá trị văn hoá
Quan điểm của Đảng về văn hóa
Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX) có chỉ rõ cần tiếp tục thực hiện đầy đủ
5 quan điểm chỉ đạo đã được Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đề ra đó là:
− Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
− Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ (tinh hoa nhân loại), đó chính là lý
tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự
7
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ
hài hòa giữa cá nhân và cộng động, giữa xã hội và tự nhiên.
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử mấy ngàn năm đấu
tranh dựng nước giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân -
gia đình - làng xã - Tổ quốc; Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa
tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế ứng xử,
tính giản dị trong lối sống...
− Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.
Giảm nguồn rác thải và đảm bảo việc xử lý rác thải do du lịch thải ra
một cách an toàn
Sử dụng công nghệ xử lí rác thải, tái chế rác thải
Có trách nhiệm phục hồi những tổn thất nảy sinh từ các dự án du lịch
Trách tổn thất thông qua công tác tiền hoạch định đúng đắn và theo dõi,
giám sát liên tục
− Duy trì tính đa dạng :
Trân trọng giữ gìn tính đa dạng của thiên nhiên và nhân văn
Đảm bảo nhịp độ quy mô và loại hình phát triển để bảo vệ tính đa dạng
của văn hóa bản địa
Ngăn ngừa sự phá hủy đa dạng sinh thái tự nhiên bằng cách tôn trọng
sức chứa của mỗi vùng, áp dụng công thức sức chứa và nguyên tắc
phòng ngừa trước
Giám sát tác động của du lịch đối với hệ sinh thái đặc biệt đối với các
du lịch
Hợp nhất những cân nhắc về môi trường và tất cả các quyết định kinh tế
Hoạt động du lịch trong giới hạn cho phép của sức chứa và hạ tầng cơ sở
sẵn có của địa phương
Thực hiện sự đa dạng kinh tế bằng cáh phát triển cơ sở hạ tầng du lịch,
mang lợi ích đến cho nhiều thành phần hơn
Đảm bảo các loại hình và quy mô hoạt động du lịch phù hợp với điều
kiện của địa phương
Tránh khai thác quá mức các điểm du lịch
10
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Hổ trợ tạo thu nhập cho địa phương và các doanh nghiệp nhỏ, đồng thời
trích một tỉ lệ thỏa đáng từ thu nhập du lịch cho nền kinh tế địa phương,
nơi diễn ra các hoạt động du lịch
− Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động
du lịch : khi cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển du lịch
thì họ trở thành đối tác cực, có vị trí đặc biệt trong khu vực và vùng.
Tham khảo ý kiến và thông báo rộng rãi cho cư dân địa phương về
những biến động, thay đổi trong phát triển du lịch
11
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Tham khảo và thông báo cho họ về các lợi ích do du lịch mang lại
Giới thiệu các giải pháp từ khi lập sơ đồ quy hoạch để xin ý kiến đóng
góp của quần chúng
Tổ chức hội thảo để tham khảo ý kiến
Thông báo và tham khảo ý kiến đầy đủ với chính quyền địa phương và
cơ quan chính phủ trước và trong quá trình tiến hành các dự án du lịch
− Đào tạo nhân viên :
Đưa các vấn đề về môi trường, văn hóa, xã hội vào chương trình đào tạo
Nâng cao vị trí của cán bộ địa phương các cấp
Đề cao ý thức tự hào trong công việc và sự chăm lo đến cộng đồng địa
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Cung cấp thông tin cho du khách về việc tôn trọng các di sản văn hóa và
thiên nhiên của địa phương
Khuyên bảo những cách cư xử đúng đắn như : ăn mặc, tập quán tôn
giáo, thức ăn, đồ uống, đi lại lịch sử và chính trị
− Tiến hành nghiên cứu :
Khuyến khích và hỗ trợ việc nghiên cứu đánh giá trước khi thực hiện dự
án và các biện pháp giám sát đánh giá tác động kinh tế, xã hội, môi
trường
Phổ biến các kết quả nghiên cứu và điều tra đến các cơ quan trung ương,
đội ngũ nhân viên du lịch và công chúng
Quan điểm:
Phát triển du lịch bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở
thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc
gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Vì vậy,
quan diểm phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức
quản lý triển khai đánh giá các hoạt động du lịch và trong việc nghiên cứu
tiến hành quy hoạch du lịch.
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện cần vận dụng lý luận cũng như
thực tiễn phát triển du lịch bền vững ở trong nước và trên thế giới để soi
2.1.2.Hành chính:
Hiện nay Trà Vinh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã
Trà Vinh và 7 huyện với 94 xã, phường và thị trấn. Bảy huyện là:
• Càng Long
• Châu Thành
• Cầu Kè
• Tiểu Cần
• Cầu Ngang
• Trà Cú
• Duyên Hải
2.1.3.Dân cư:
Dân số:
• 1971: 411.190
• 2000: 973.065
• Điều tra dân dố 01/04/2009: 1.000.933 người
15
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Trên địa bàn Trà Vinh có 29 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh
(69%) và người Khmer (29%).
Dân số Trà Vinh chiếm 5,99% Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra
dân số năm 2000), trong đó hơn 87% sống ở khu nông thôn. Mật độ dân số
414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.
Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, trên địa bàn
Trà Vinh có trên 290,9 nghìn người Khmer, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh
và chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước.
Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền
văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ
thống chùa rất đặc thù.
2.1.4.Khí hậu
- số liệu 2003, chia ra như sau:
• Đất ở: 3.151,36 ha
• Đất nông nghiệp: 180.004,31 ha
• Đất lâm nghiệp: 6.080,20 ha
• Đất chuyên dùng: 9.936,22 ha
• Đất chưa sử dụng: 22.242,94 ha
2.1.6.Địa hình
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa
hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với
mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục
17
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng
này càng cao và rộng lớn.
Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt,
địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao,
xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là
vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng
trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị
ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng.
2.1.7.Giao thông
Như hầu hết các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giao thông đường thuỷ
rất thông dụng và thuận lợi. Tuy nhiên trước đây đường bộ chủ yếu dựa
theo trục lộ nối với Vĩnh Long và gần như là độc đạo. Hiện nay với sự phát
triển hạ tầng giao thông đường bộ mạnh mẽ của tỉnh cùng với Bến Tre và
Tiền Giang hình thành tuyến đường bộ thứ hai để đi Thành phố Hồ Chí
Minh qua các phà nối sông Cổ Chiên có thể rút ngắn rất nhiều cự ly (chỉ còn
khoảng 120 km thay vì gần 200 km nếu đi ngã Vĩnh Long).
Sau sự huỷ diệt của chiến tranh, ngày nay các con đường và cầu cống
Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh
Vĩnh Bình theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống ngày 22 tháng 10 năm
1956.
Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt
Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam
19
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi
này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.
Tháng 2/1976 Trà Vinh hợp nhất với Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long và
cho đến ngày 26-12-1991 mới tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có
diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người, gồm thị xã Trà Vinh và 7
huyện như hiện nay.
2.1.11.Văn hóa
Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc
biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có
chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm
mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Lễ hội nghinh
ông (lễ cúng biển), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có
giá trị văn hoá khác.
Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến
trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên
khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om.Theo thống kê trên địa bàn
Trà Vinh có tới 140 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người
Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại.
Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê
rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên
chùa rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con
21
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
Các tuyến du lịch sông nước, các cù lao… đều rất có triển vọng: tham
quan những cảnh đẹp của làng quê miền Tây dọc hai bờ sông, tham quan
những vườn cây ăn trái đưa du khách tiếp xúc với những sinh hoạt văn hoá
đặc trưng, giàu bản sắc của dân cư miền Tây nói chung, Trà Vinh nói riêng.
Rừng là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị cao, nhất là du lịch sinh
thái.
Ngoài ra, du khách có thể đến du lịch Trà Vinh theo loại hình du lịch văn
hoá lịch sử thăm viếng Đền thờ Bác Hồ, các ngôi chùa mang đậm tính mỹ
thuật điêu khắc của sắc thái văn hoá Khmer cũng như tham gia vào các lễ
hội riêng thật đặc sắc của đồng bào Khmer nơi đây.
*Tuyến giao thông cho Khách du lịch:
Đường bộ: Tỉnh có 2.111,639 km đường bộ, quốc lộ chiếm 10,2%; tỉnh
lộ 21,5%; huyện lộ 68,3%. Tỉnh đã và đang đầu tư phát triển mạng lưới
đường bộ, đáp ứng nhu cầu đi lại và du lịch. Từ tỉnh lỵ Trà Vinh đi đường
bộ đến thành phố Hồ Chí Minh 200km, đến thành phố Cần Thơ 100km, đến
khu du lịch Biển Ba Động 60km.
Đường thủy: Hệ thống bao gồm các trục dọc và trục ngang. Trục dọc
gồm tuyến sông Cổ Chiên và Bassac. Kênh Trà Ngoa và Ba tháng Hai trục
ngang có tuyến: Kênh Nguyễn văn Pho, sông Cần Chông, sông Bến Cát nối
từ sông Hậu sang sông Tiền. Đó là những tuyến lưu thông hàng hoá đường
thủy chính của Trà Vinh. Từ cửa biển Định An đi đến Côn Đảo mất từ 5 - 7
giờ chạy tàu, đi Cần Thơ mất khoảng 3 giờ chạy tàu.
Với tiềm năng du lịch hiện có của tỉnh Trà Vinh, nếu được khai thác và
đầu tư, du lịch Trà vinh sẽ là nơi thu hút và đón tiếp rất tốt cho khách du
lịch trong ngòai nước đến Trà Vinh.
22
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và biết thâm canh lúa
nước từ lâu đời. Đồng bào biết chọn giống lúa, biết làm thủy lợi và lợi dụng
thủy triều để thau chua, xổ phèn cải tạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa
hấu. Bộ công cụ nông nghiệp của họ khá hoàn thiện và hiệu quả, có những
dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lý sinh thái Nam Bộ như cái
phảng thay cho cái chày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù
nèo (Pok) dùng để cơ vỏ, cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa và cây nọc
cấy (Sơ chal) chính là chiếc gậy chọc lỗ thời xưa, tạo ra lỗ để cấm cây lúa ở
những chân ruộng nước nhưng đất cứng
Ngoài ra người Khmer còn làm nghề đánh cá, chăn nuôi trâu bò cày cấy,
nuôi lợn, gà, vịt đàn, dệt, đan lát, làm đường ăn từ cây thốt nốt và làm gốm
để phát triển kinh tế toàn diện. Cày hai trâu là một đặc trưng kỹ thuật nông
nghiệp của người dân Khmer. Bên cạnh đó, kỹ thuật làm gốm của họ cũng
khá đặc trưng và đơn giản, gồm có công cụ chính là hòn kê (K’leng) và bàn
dập (Chơ). Họ chưa dùng bàn xoay, sử dụng gốm mộc, không màu với độ
nung thấp và không có lò nung cố định. Sản phẩm gồm chủ yếu là đồ dùng
gia đình, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt,
người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Nếu trước đây khi nào người ta cần trao đổi mua bán với người Khmer
thì phải mang đến tận nơi họ sinh sống. Nhưng hiện nay, phần lớn người
Khmer đã tự mang hàng hóa của mình ra chợ bán. Và từ đây, chợ búa của
người Khmer đã mọc lên rất nhiều. Đặc điểm chợ cũng khá đặc biệt. Hầu
hết người Khmer ngồi dưới đất buôn bán cho nên không phải là điều ngạc
24
Giá trị văn hoá củ người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
2009
nhiên hay suy nghĩ nhiều khi người ta nghe nhắc đến những tên gọi chợ tự
gọi dân xã như chợ “Chồm hổm”, chợ “Nhỏ” ở huyện Châu Thành, thị xã
Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh chẳng hạn. Và một đặc điểm nữa là chợ của họ mở
ra vào mọi lúc, khác với chợ người Việt buổi họp buổi tan và giá sản phẩm