Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y học
SO SÁNH NHÃN ÁP GIỮA NGƯỜI CẬN THỊ & NGƯỜI CHÍNH THỊ
TRONG THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
(TẠI BV. MẮT TP. HỒ CHÍ MINH)
Nguyễn Hữu Thúy Ái*, Lê Minh Tuấn*
TÓM TẮT
Đo nhãn áp tính hành trên 304 bệnh nhân (608 mắt) có tuổi từ 15-35 tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ
Chí Minh. So sánh nhãn áp giữa 2 nhóm Cận thò (388 mắt) và chính thò (220 mắt). Nhãn áp trung bình ở
nhóm chính thò (14.11mmHg
±
1.55) thấp hơn có ý nghóa thống kê so với nhóm cận thò (17.79mmHg
±
2.34). Hệ số tương quan Pearson giữa nhãn áp và độ cận là 0,675. Phương trình hồi qui tuyến tính giữa
nhãn áp và độ cận: B= (-0.566).A +14.927. Giới và tuổi không ảnh hưởng đến nhãn áp.
SUMMARY
INTRAOCULAR PRESSURE COMPARED BETWEEN 220 NON-MYOPIC EYES AND 388
MYOPIC AT THE EYE HOSPITAL OF HO CHI MINH CITY
Nguyen Hưu Thuy Ai, Le Minh Tuan
* Y Học TP. Ho Chi Minh * Vol. 8 * Supplement of No 1 * 2004: 162 – 167
Intraocular pressure (IOP) was measured in 304 Vietnamese (608 eyes), from age 15 to 35 years, in
HCM city. IOP was compared between 220 non-myopic eyes and 388 myopic. The mean IOP of non-myopia
was 14.11 mmHg(SD: 1.55 mmHg). This value was lower than the mean IOP of myopia 17.79 mmHg(SD:
2.34 mmHg). The difference was statistically significant. Pearson’s rank correlation between change in
refraction and change in IOP was 0.675. The regression equation: B= (-0.566).A +14.927 (A: refraction
(A<-12.0
DS
) and B: IOP. In the present study, sex, age wasn’t effected IOP.
ĐẶT VẤN ĐỀ
bằng nhãn áp kế Goldmann, tìm sự khác biệt có ý
nghóa thống kê. Từ đó có kế hoạch kiểm tra đại trà
nhãn áp, thò thần kinh ở người cận thò để phòng ngừa
mù lòa do bệnh Glaucoma góc mở nguyên phát rất dể
bò bỏ qua trên một cơ đòa cận thò.
* Bộ môn Mắt - ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
162
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
ĐỐI TƯNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đo nhãn áp trên 608 mắt của 304 bệnh nhân là
thanh thiếu niên Việt Nam tuổi từ
15-35, đến khám tại khoa Phòng khám Bệnh
viện Mắt TP. Hồ Chí Minh từ tháng 10-2002 đến
tháng 6-2003, không có bệnh lý thực thể gây giảm
thò lực ở mắt,thò trường ước lượng bình thường,chia
thành 2 nhóm:
-Nhóm 1 : bệnh nhân có thò lực không kính
10/10 và không bò viễn thò.
-Nhóm 2 : bệnh nhân được xác đònh cận thò và
được đo khúc xạ tại phòng khúc xạ.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có bệnh lý Glaucoma hoặc nghi ngờ
Glaucoma.
Bệnh nhân có bệnh lý ở mắt gây viêm nhiễm :
viêm kết mạc, viêm giác mạc.
Tiền sử chấn thương mắt, phẫu thuật nội nhãn.
Giới Số mắt Tỉ lệ (%)
Nam 252 41.40
Nữ 356 58.60
Tổng cộng 608 100
Nhận xét : Nữ chiếm tỷ lệ tương đối cao 58,6%.
Bảng 2. Số mắt đo nhãn áp theo nhóm tuổi :
Nhóm tuổi Số mắt Tỷ lệ (%)
15 – 20 186 30.6
21 – 25 224 36.8
26 – 30 110 18.1
31 – 35 88 14.5
Tổng cộng 608 100
Nhận xét : Bệnh nhân đến khám khúc xạ tập trung
chủ yếu từ 15 – 25 tuổi chiếm 67,4%.
Bảng 3. Số mắt đo nhãn áp ở mắt chính thò và cận
thò theo giới :
Nam Nữ Tổng cộng
n % n % n %
Chính thò 92 15.1 128 21.1 220 36.2
Cận thò 160 26.3 228 37.5 388 63.8
Tổng cộng 252 41.4 356 58.6 608 100
Nhận xét : Nữ gặp nhiều hơn nam kể cả cận thò và
chính thò.
Bảng 4. Số mắt chính thò và cận thò được đo nhãn áp
phân theo nhóm tuổi :
Chính thò Cận thò Tổng cộng
Nhóm tuổi
n % n % n %
15 – 20 28 4.6 158 26 186 30.6
21 – 25 82 13.5 142 23.4 224 36.8
Nhóm chính
thò (220 mắt)
Nhóm cận thò
(388 mắt)
Trung bình cộng: X
14.11 mmHg 17.79 mmHg
Độ lệch chuẩn: SD 1.55 mmHg 2.34 mmHg
Sai số chuẩn: SEM 0.1047 0.12
Khoảng tin cậy 95 % 13.91 – 14.32
mmHg
17.56 – 18.02
mmHg
2.3
3.2
7.3
23.6
20.0
21.4
19.5
2.7
0%
5%
10%
15%
20%
25%
10 11 12 13 14 15 16 17
Biểu đồ 1: phân phối tần suất ở mắt chính thò
Nhận xét : Nhãn áp ở mắt chính thò tập trung
tuổi
n
⎯X
(mmHg)
SD
(mmHg)
n
⎯X
(mmHg)
SD
(mmHg)
15 – 20 28 13.82 1.39 158 17.75 2.43
21 – 25 82 14.38 1.55 142 17.53 2.28
26 – 30 64 14.14 1.57 46 18.46 1.57
31 – 35 46 13.80 1.58 42 18.09 2.74
Nhận xét : - Ở nhóm chính thò : giá trò trung
bình nhãn áp không dao động nhiều ở các nhóm tuổi.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ áp dụng ở tuổi từ
15–35 và nhận thấy nhãn áp trung bình tương tự
nhau có ý nghóa thống kê.
-Ở nhóm cận thò : giá trò trung bình nhãn áp có
tăng ở tuổi trên 25. Tuy nhiên nhãn áp còn phụ thuộc
vào độ cận nên ta cần phải phân tích thêm ở phần
bàn luận.
Bảng 8: Kết quả nhãn áp theo độ cận so sánh nhóm
chính thò :
Độ cận n
⎯X
(mmHg)
SD
17.00 →
21.00
Nhận xét :
Bảng trên cho thấy nhãn áp trung bình của
nhóm cận thò cao hơn nhóm chính thò và cận càng
cao thì nhãn áp trung bình càng cao. Tuy nhiên khi
cận rất nặng (độ cận từ –12.0
DS
trở lên) thì nhãn áp
cao nhưng không còn tăng tỷ lệ thuận theo độ cận.
Điều này có ý nghóa thống kê hay không, ta sẽ phân
tích ở phần bàn luận.
BÀN LUẬN
Về mối tương quan giữa nhãn áp và độ
cận
Hệ số tương quan Pearson giữa nhãn áp và độ
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
164
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
cận là 0,675: tương quan khá (độ tin cậy 95%, kiểm T,
p < 0.000).
Phương trình hồi qui tuyến tính :
B = (-0,566).A + 14.927 (với A < -12.0
DS
)
giúp xác đònh sự tương quan giữa nhãn áp và độ
cận. Độ cận càng cao thì nhãn áp càng cao. Nhưng
khi độ cận quá cao (độ cận ≥ -12.0
H
A
.
Như vậy nhãn áp trung bình giữa các nhóm tuổi
trong mẫu phân tích (từ 15 đến 35 tuổi) là như nhau.
Yếu tố tuổi không ảnh hưởng đến nhãn áp trong mẫu
nghiên cứu này.
Mục đích của nghiên cứu này là so sánh nhãn áp
giữa người chính thò và người cận thò nên chúng tôi
chọn nhóm từ 15 – 35 tuổi để tin chắc rằng tuổi
không là yếu tố gây nhiễu.
Đối với trẻ em tuổi < 15, thường mắt chứa phát
triển đầy đủ và nhãn áp thường cao hơn do mắt trong
tình trạng viễn thò.
Về nhãn áp trung bình giữa hai giới và
hai mắt
Cũng tiến hành kiểm đònh giả thuyết, dùng
phép kiểm t-student,chúng tôi nhận thấy không có
sự khác nhau có ýnghóa về nhãn áp trung bình
giữa 2 giới cũng như nhãn áp trung bình giữa 2
mắt.Theo tác giả NTim-Amponsah-CT:Nhãn áp ở
nữ cao hơn ở nam.Điều này do chúng tôi chỉ
nghiên cứu trong mẫu có tuổi từ 15 – 35, đây là lứa
tuổi trẻ ít chòu tác động của nội tiết tố cũng như
bệnh lý toàn thân. Nhãn áp trung bình giữa 2 mắt
tương đương nhau, nhưng không nhất đònh giống
nhau hoàn toàn, nhãn áp giữa hai mắt có thể
chênh lệch nhau và sự chênh lệch này không quá
4mmHg khi đo bằng NAK Goldmann.
Về nhãn áp trung bình giữa nhómk
thấp hơn nhãn áp thật sự của mắt.
Trong NAK Goldmann, lượng thủy dòch xê dòch
trong lúc đo chỉ có 0,56mm
3
, không đáng kể, nhãn áp
đo được gần với nhãn áp thật sự của mắt
(3)
.
Ở người cận thò, độ cứng cũng mạc giảm làm cho
nhãn áp tại thời điểm đo thấp hơn nhãn áp thật sự
của mắt. Điều đó giải thích tại sao : bệnh glaucoma
phát triển trên mắt cận thò rất dễ bò bỏ qua vì sự mềm
giãn cũng mạc làm cho nhãn áp dường như không
cao đến khi mắt mù vẫn tưởng nguyên nhân chỉ do
cận thò
(5)
.
Ở người cận thò rất nặng, hắc mạc teo toàn thể,
cũng mạc giãn mềm làm cho nhãn áp lúc đo càng
thấp hơn nhãn áp thật sự của mắt và thấp hơn nhãn
áp ở mắt có độ cận thấp hơn.
So sánh với tác giả khác
Nhãn áp ở nhóm chính thò :
Tác giả ⎯X (mmHg) SD (mmHg)
Ourgaud 14,54 2,227
David J.Palmer 15,5 2,6
Hornova – J 16 2,0
Nguyễn Hữu Thúy Ái 14,11 1,55
So với các kết quả của các tác giả trên thì kết quả
nhãn áp của chúng tôi có hơi thấp hơn, có lẽ do mẫu
Qua nghiên cứu nhãn áp đo bằng nhãn áp kế
Goldmann ở 220 mắt chính thò và 388 mắt cận thò
trong thanh thiếu niên Việt Nam tuổi từ 15 đến 35
tuổi, chúng tôi có các kết luận sau :
1). Giá trò bình thường của nhãn áp ở mắt chính
thò trong thanh thiếu niên Việt Nam là ⎯X ± 2SD =
14,11 ± 2(1,55) = 11,01 – 17,21mmHg (làm tròn số :
11 – 18mmHg)
2). Giá trò bình thường của nhãn áp ở mắt cận thò
trong thanh thiếu niên Việt Nam là :
⎯X ± 2SD = 17,79 ± 2.(2,34) = 13,11 –
22,47mmHg (làm tròn số : 13 – 23mmHg).
3). Trong độ tuổi từ 15 đến 35 tuổi thì yếu tố tuổi
không ảnh hưởng đến kết quả nhãn áp.
4). Nhãn áp trung bình giữa 2 giới nam và nữ
trong mẫu nghiên cứu này là như nhau.
5). Nhãn áp trung bình giữa hai mắt như nhau có
ý nghóa thống kê, nhưng không giống nhau hoàn
toàn và chênh lệch nhãn áp 2 mắt không quá
4mmHg.
6). Nhãn áp trung bình của mắt cận thò cao hơn
nhãn áp trung bình của mắt chính thò và độ cận càng
cao thì nhãn áp càng cao. Tuy nhiên, khi độ cận quá
cao (độ cận ≥ -12.0
DS
) thì giữa nhãn áp và độ cận
không còn tương quan thuận.
7). Hệ số tương quan Pearson giữa nhãn áp và độ
cận là 0,675. Đạt loại tương quan khá chặt.
8). Phương trình hồi qui tuyến tính giữa nhãn áp
1993, 7-23.
21. ARAIE-M, ARAI-M, KOSEKI-N, SUZUKI-Y, Influence
of myopic refraction on visual field defects in normal
tension and primary open-angle glaucoma, Japan-J-
Ophthalmol 1995; 39(1): 60-4.
7. NGÔ NHƯ HÒA, Thống kê trong nghiên cứu Y học,
1982.
8. NGUYỄN THANH LIÊM, Cách tiến hành công trình
nghiên cứu khoa học, NXB Y Học 2000.
22.
JENSEN-H, Myopia progression in young school
children and IOP, Doc-Ophthalmol 1992; 82(3): 249-55.
9. VÕ VĂN HUY, VÕ THỊ LAN, HOÀNG TRỌNG, Ứng
dụng SPSS FOR WINDOWS để xử lý và phân tích dữ
kiện nghiên cứu, NXB khoa học và kỹ thuật, 1997.
23. HUANG-L, ZHOU-W, The relationship of structure in
vivo of low tension glaucoma and myopia, Yen-Ko-
Hsueh-Pao 1990, Dec; 6(3-4) : 58-9, 94.
10. HOÀNG THỊ LŨY, Khảo sát tình hình bệnh Glaucoma
1991 – 1997 tại Trung tâm Mắt TP.HCM từ tháng
11/1995 - 10/1996, 4 – 31.
24. PARSSINEN-O, IOP in school myopia, Acta-
Ophthalmol- Copenh, 1990 Oct; 68(5): 559-63.
25. TOKORO-T, FUNATA-M, AKAZAWA-Y, Influence of
IOP on axial elongation, J-Ocul-Pharmacol 1990 Winter;
6(4): 285-91.
11. MITCHELL-P, HOURIHAN-F, The relationship
between glaucoma and myopia:The Blue Mountains Eye
Study; Ophthalmology, 1999 Oct; 106(10): 2010-5.
26. A – NESTEROV, A – BUNIN, L – KATSNELSON,
myopia children with elevated IOP, Cesk-Slov-
Ophthalmol, 1999 Sep;55(5): 312-5.
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
167