Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, các doanh nghiệp hoạt
động trên thị trường ngày một năng động hơn và sự cạnh tranh ngày càng khó khăn
hơn. Do đó, sản phẩm của các doanh nghiệp cần phải xác định được một vị trí rõ
ràng, khác biệt với các đối thủ cạnh tranh khác nhưng phù hợp với nhu cầu của khách
hàng là hết sức quan trọng.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần sản xuất - xuất nhập khẩu dệt
may Đà Nẵng hay còn gọi là VINATEX Đà Nẵng, bản thân em nhận thấy rằng hoạt
động Marketing cũng như công tác định vị của công ty nói chung chưa được quan
tâm đúng mức. Với mục tiêu phát triển sản phẩm may mặc trên thị trường nội địa,
sản phẩm áo Sơ mi nam trong thời gian qua đã được chú trọng và được xem như là
một sản phẩm chủ lực của công ty. Tuy nhiên kết quả kinh doanh còn khiêm tốn vì
sản phẩm chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chưa có quan điểm định vị sản
phẩm rõ ràng và chưa có các hoạt động Marketing phù hợp với sản phẩm. Trên cơ sở
tìm hiểu Công ty và kết hợp với những kiến thức đã học, em xin được chọn nghiên
cứu đề tài: “Hoàn thiện chính sách Marketing-Mix đối với sản phẩm áo Sơ mi
nam của Công ty CP VINATEX Đà Nẵng”.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng vì kiến thức còn hạn chế và thời gian hạn
hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài. Rất mong
thầy, cô cùng các anh chị ở Công ty tận tình giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn anh chị ở công ty và giáo viên hướng dẫn đã giúp
đỡ em thực hiện đề tài này!
Đà Nẵng, ngày....... tháng....... năm 2009
Sinh viên thực hiện:
Phạm Thị Hồng
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 1
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
tới tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm bảo đảm cho công ty thu được lợi nhuận dự
kiến. (BRITISH IN STITUTE OF MARKETING)
1
1.1.2. Các chức năng của Marketing:
a. Chức năng thích ứng:
Để cho sản phẩm của doanh nghệp luôn phù hợp và thích ứng với nhu cầu của thị
trường, hoạt động Marketing của doanh nghiệp cần phải:
• Cung cấp kịp thời thông tin cần thiết về xu hướng biến đổi của nhu cầu tiêu
dùng sản phẩm trên thị trường, về các loại công nghệ chủ yếu đang sản xuất
và các xu hướng hoàn thiện công nghệ trên thế giới cũng như từng khu vực.
• Trên cơ sở đó định hướng cho lãnh đạo về chiến lược kinh doanh và phương
án sản phẩm.
• Liên kết và phối hợp toàn bộ các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp, từ bộ
phận nghiên cứu thết kế, chế thử, sản xuất, bao bì, đóng gói...cho tới các hoạt
động dịch vụ bảo hành, thanh toán.....Nhằm kích thích tiêu dùng và làm tăng
tính hấp dẫn, thích ứng của sản phẩm trên thị trường so với các đối thủ cạnh
tranh.
• Góp phần làm thay đổi tập quán tiêu dùng và cơ cấu chi tiêu của dân cư theo
hướng ngày càng hợp lý, hiện đại và hiệu quả cao, hoà nhập và thích ứng với
trào lưu tiêu dùng tiên tiến của thế giới.
b. Chức năng phân phối:
Bao gồm toàn bộ các hoạt động Marketing nhằm tổ chức sự vận động tối ưu sản
phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ từ sau khi kết thúc quá trình sản xuất đến khi nó được
giao cho các cửa hàng bán buôn, bán lẻ, đại lý hoặc người tiêu dùng cuối cùng. Cụ
thể:
• Tìm hiểu những người phân phối và lựa chọn những trung gian phân phối có
khả năng nhất theo yêu cầu của doanh nghiệp.
• Hướng dẫn khách hàng về thủ tục ký kết hợp đồng, thủ tục hải quan, chứng từ
• Các hoạt động quảng cáo.
• Hoạt động xúc tiến bán hàng.
• Xây dựng mối quan hệ công chúng...
2
2
Marketing căn bản - Nguyễn Thị Như Liêm – NXB Giáo Dục
3
Quản trị Marketing - Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lãn - NXB Giáo Dục 1999
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 4
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
1.2. Định vị và vai trò của định vị trong hoạt động Marketing:
1.2.1. Khái niệm định vị:
Theo Dubois và Nicholson: “Định vị là một chiến lược marketing nhạy cảm nhằm
khắc phục tình trạng “ rối loạn” thị trường; có nghĩa là trong bối cảnh cạnh tranh
phức tạp, hàng hoá ngày càng đa dạng, người tiêu dùng luôn bị “nhiễu thông tin”, rất
khó nhận thấy sự khác biệt của các sản phẩm. Vì vậy định vị là “ tập hợp các hoạt
động nhằm tạo cho sản phẩm và nhãn hiệu sản phẩm một vị trí xác định (so với đối
thủ cạnh tranh) trong tâm trí khách hàng”, “là nỗ lực đêm lại cho sản phẩm một hình
ảnh riêng dễ đi vào nhận thức của khách hàng” hay cụ thể hơn “là điều mà doanh
nghiệp muốn khách hàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với thương hiệu của mình”
Định vị là định vị trí sản phẩm trên thị trường mục tiêu hay là thiết kế sản
phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp sao cho nó có thể chiếm được một chỗ đặc biệt
và có giá trị trong tâm trí của khách hàng mục tiêu.
3
Nhưng cũng là không đúng khi cho rằng định vị không liên quan đến những
thay đổi có liên quan đến sản phẩm mà ngược lại nó có quan hệ khá chặt chẽ. Tuy
vậy, những thay đổi về nhãn hiệu sản phẩm, giá cả và bao bì thì thực sự không làm
thay đổi gì bên trong sản phẩm, chúng chỉ là những thay đổi về hình thức nhằm bảo
trong một thời kỳ nhất định. Người mua sẵn sàng trả thêm tiền để mua một
sản phẩm có độ tin vậy cao hơn
• Khả năng sửa chữa: Là mức độ dễ dàng phục hồi một sản phẩm trục trặc
hoặc hư hỏng.
• Kiểu dáng: Là hình thức và dáng vẻ bên ngoài của sản phẩm mà người mua
cảm nhận được. Có nhiều công ty nổi tiếng về sản phẩm có kiểu dáng đẹp,
tuy nhiên kiểu dáng đẹp không nhất thiết hứa hẹn công dụng tốt.
• Kết cấu: Là tất cả những yếu tố chất lượng được nêu ở trên. Nhiệm vụ của
những người thiết kế sản phẩm là phải dung hoà được tất cả các yếu tố đó.
b. Tạo điểm khác biệt cho dịch vụ:
Những yếu tố tạo điểm khác biệt cho dịch vụ là giao hàng tận nơi, lắp đặt, huấn
luyện khách hàng sử dụng, dịch vụ tư vấn, sữa chữa và một số công việc khác như
bảo hành sản phẩm, ký kết hợp đồng bảo trì với các điều kiện dễ dàng hơn các đối
thủ cạnh tranh hay đặt ra chế độ ưu đãi cho các khách hàng mua hàng thường xuyên.
c. Tạo điểm khác biệt về nhân sự:
Một trong những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là chất lượng phục
vụ của đội ngũ nhân viên. Nhân sự được huấn luyện tốt có những đặc điểm cơ bản
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 6
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
như: năng lực tốt (kĩ năng và kiến thức), nhã nhặn, có uy tín, tin cậy, nhiệt tình và
biết giao tiếp.
d. Tạo điểm khác biệt về hình ảnh:
Ngay cả khi sản phẩm cạnh tranh trông có vẻ giống nhau thì người mua vẫn có
thể có những phản ứng khác nhau đối với hình ảnh của doanh nghiệp hay của nhãn
hiệu. Sự khác biệt về hình ảnh có thể được tạo nên từ những nét đặc trưng mà doanh
nghiệp sử dụng để công chúng nhận ra mình hay nhãn hiệu của mình.
1.3. Chiến lược định vị:
1.3.1. Những yếu tố định vị:
vẽ hấp dẫn của nó. Đồng thời, bao bì còn cung cấp các thông tin về sản phẩm
như: nhà sản xuất, nơi sản xuất, thời gian sản xuất, vật dụng chứa đựng, cách
thức sử dụng và thời hạn sử dụng...
• Thông điệp quảng cáo: Nó biểu hiện lơị ích chủ yếu mà nhãn hiệu đó đêm lại.
sau một thời gian thông điệp đó có thể thay đổi nhưng sản phẩm có thể thể
không thay đổi, nhất là khi người tiêu dùng tìm kiếm những lợi ích khác của
sản phẩm hay khi họ hoặc doanh nghiệp phát hiện ra những công dụng mới
của sản phẩm đó. Do đó, doanh nghiệp có thể thay đổi thông điệp quảng cáo
sao cho phù hợp với sản phẩm và người tiêu dùng trong một khoảng thời gian
nhất định.
• Đặc điểm sản phẩm: Đặc điểm sản phẩm cần truyền thông đến khách hàng có
thể là những đặc điểm thông thường của sản phẩm ahy cũng có thể là những
đặc điểm nổi bật, những đặc điểm mới của sản phẩm mà doanh nghiệp hoặc
khách hàng phát hiện ra.
• Nơi bán: Doanh nghiệp cần truyền thông rõ ràng về nơi bán sản phẩm như cửa
hàng, đại lý... để khách hàng dễ dàng trong việc tìm mua sản phẩm.
1.4. Các chính sách Marketing-Mix liên quan đến định vị sản
phẩm:
1.4.1. Khái niệm về Marketing-Mix:
“Marketing-Mix là một tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát và quản
lý được và nó được sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ thị trường
mục tiêu”. (Theo Marketing-NXB Thống kê-1998-Trang 166)
Marketing-mix là một bộ các biến số có thể điều khiển được, chúng được quản lý
để thỏa mãn thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức. Trong
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 8
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Marketing-Mix có rất nhiều công cụ khác nhau, mỗi công cụ là một biến số có thể
điều khiển được và được phân biệt theo 4 yếu tố gọi là 4Ps:
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Còn đối với các tổ chức nhằm vào các thị trường ngách, chiến lược cạnh tranh
Marketing sẽ nhắm vào một phân đoạn cụ thể của khối thị trường. Điều này được mô
tả giống như một chiến lược Marketing-Mix tập trung.
Chống lại hai chiến lược phân đoạn thị trường trên là một chiếc lược cũ hơn,
Mar không phân biệt. Đây là nơi mà một chiến lược Marketing-Mix được phát triển
để phục vụ toàn bộ thị trường. Đó là, điểm khác nhau giữa các phân đoạn thị trường
bị bỏ qua.
Có nhiều cách để phân chia một thị trường ra thành nhiều phân đoạn. Sau đây là
tóm tắt của một vài cách phổ biến nhất:
• Thị trường của người tiêu dùng:
Một yếu tố quan trọng trong việc phân đoạn thị trường người tiêu dùng là trả lời
các câu hỏi 4W: who – khách hàng là ai, what - họ mua những gì, where - họ mua sản
phẩm và dịch vụ ở đâu, và cuối cùng là why - tại sao họ có sự lựa chọn đó.
• Thị trường của Doanh nghiệp:
+ Phân loại theo khu vực địa lý: tức là phân loại theo khu vực thành thị, nông
thôn...
+ Phân loại theo khách hàng: cách phân loại này dựa trên:
- Loại khách hàng công nghiệp, khách hàng tổ chức hay khách hàng cá nhân...
- Phân loại theo trình độ phát triển: chẳng hạn như nền kinh tế mới sẽ khác với
nền kinh tế cũ, hoặc công nghệ cao sẽ có sự phân biệt đối với công nghệ thấp.
- Phân loại theo chức năng: chẳng hạn như sản xuất, phân phối, bán lẻ...
- Phân loại theo quy mô doanh nghiệp: có thể dựa vào doanh thu, số lượng lao
động...
- Phân loại theo cách thức sử dụng sản phẩm.
+ Phân loại theo lợi ích: đây là cách phân loại dựa vào nhu cầu của người mua,
chẳng hạn như giá thấp, dịch vụ hậu mãi, chất lượng cao hoặc đặc điểm nổi bật.
+ Phân loại theo các hành vi khác: người mua có thể được phân loại dựa trên
những nhân tố như đặc điểm cá nhân (nhận thức của họ về việc phân loại sản phẩm,
tạo lập vị trí của sản phẩm của mình theo các cách sau:
• Định vị theo thuộc tính của sản phẩm: Doanh nghiệp tạo sự khác biệt của sản
phẩm trong tâm trí khách hàng về giá cả hay đặc điểm kỹ thuật so với sản
phẩm của caácđối thủ cạnh tranh cùng loại trên thị trường.
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 11
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
• Định vị theo lợi ích của sản phẩm: Để định vị theo lợi ích của sản phẩm thì
sản phẩm của doanh nghiệp phải có lợi ích đăc biệt đối với người tiêu dùng.
• Định vị theo công dụng của sản phẩm: Mỗi sản phẩm được sản xuất ra đều có
nhưữn công dụng khác nhau nhằm phục vụ cho nhu cầu của khách hàng.
b. Định vị theo tầng lớp người sử dụng:
Tầng lớp người sử dụng có thể được chia thành các nhóm sau:
Nhóm những người thuộc tầp lớp thượng lưu: những người thuộc tầng lớp
này thường là những người thành đạt trong xã hội, có công việc tốt, thu nhập
cao, mức sống cao nên họ thường có thói quen mua các sản phẩm có uy tín
cao, chất lượng và giá cả cao cho phù hợp với tầng lớp của họ. Vì thế họ
thường là rất trung thành với các nhãn hiệu cao cấp có khả năng làm tăng vẻ
sang trọng của người sử dụng..
Nhóm những người thuộc tầng lớp trung lưu: những người thuộc nhóm này
thường là có công việc ổn định và mức sống cũng khá cao. Nhu cầu lựa
chọn sản phẩm của họ thường rất đa dạng. Các doanh nghiệp định vị theo
tầng lớp này cần chú trọng nhiều đến sự đa dạng trong cách lựa chọn của
khách hàng để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp.
Nhóm những người thuộc tầng lớp bình dân: nhóm này bao gồm những
người là lao động phổ thông, những người có thu nhập thấp hay học sinh,
sinh viên, hưu trí, nội trợ.... Họ khá chú trọng đến tính tiện dụng của sản
phẩm cũng như giá bán của sản phẩm. Những sản phẩm phục vụ cho nhóm
đối tượng này cần định vị ở mức giá trung bình.
+ Dễ phát âm, dễ nghe, dễ nhớ.
+ Ngắn gọn, gợi cảm và độc đáo.
+ Có thể dịch dễ dàng sang tiếng nước ngoài để xuất khẩu.
+ Trung thực về nguồn gốc và có thể đăng ký pháp luật bảo hộ.
+ Hợp với trật tự công cộng và phong tục tập quán.
+ Không chung chung hoặc nhái lại rập khuôn sản phẩm khác.
• Những quyết định về bao bì:
Bao bì là cái bao phủ vật chất hoặc là cái đựng sản phẩm. Là cái trung gian giữa
sản phẩm và người tiêu dùng. Vai trò đầu tiên của bao bì là chứa đựng và bảo về giá
trị sử dụng của sản phẩm. Ngày nay bao bì trở thành công cụ Marketing quan trọng,
thực hiện nhiều chức năng như: thu hút khách hàng, tạo niềm tin và ấn tượng cho
khách hàng, làcơ sở lựa chọn của khách hàng, là người bán hàng im lặng, là một vũ
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 13
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
khí cạnh tranh sắc bén với các sản phẩm khác, tạo nên nhiều cơ hội cải tiến và đổi
mới sản phẩm doanh nghiệp.
Khi lựa chọn bao bì cần chú ý các yêu cầu:
+ Phải bảo về được các thuộc tính của sản phẩm như: mùi vị, độ ẩm, hình dáng,
nhiệt độ.
+ Phải thích ứng với tập quán tiêu thụ sản phẩm.
+ Cần hấp dẫn và đẹp mắt để tạo lòng tin và hứng thú sử dụng.
+ Phải làm được nhiệm vụ thông tin về sản phẩm và hướng dẫn bảo quản, sử
dụng sản phẩm.
+ Phải thích ứng với tiêu chuẩn, luật lệ và quyết định của thị trường mục tiêu chủ
yếu.
• Phát thảo kiểu dáng sản phẩm:
Kiểu dáng là những phát hoạ và những hình thức bên ngoài của sản phẩm tác
động lên chức năng, trọng lượng, màu sắc và cấu tạo... của sản phẩm.
mức giá cơ ở trong những điều kiện nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh trên
thị trường.
Giá cả có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp vì:
• Giá cả ảnh hưởng to lớn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ, ảnh hưởng mạnh
mẽ đến doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp.
• Là cơ sở giúp doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng, xác định cơ cấu chủng loại tối
ưu và khả năng, trình độ thâm nhập thị trường.
• Là tiêu chuẩn quan trọng giúp khách hàng đánh giá và lựa chọn sản phẩm.
• Giá cả biểu hiện tập trung các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bán
và người mua, về vị trí và vai trò của doanh nghiệp trên thị trường cũng như
sự tác động hướng dẫn và kích thích tiêu dùng trong hoạt động kinh tế - văn
hoá - xã hội của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
b. Các mục tiêu cơ bản của chính sách giá:
• Tồn tại: Trong những điều kiện cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu khách
hàng thay đổi đột ngột, tình hình thị trường nhiều khó khăn... các
doanh nghiệp thường đặt sự tồn tại lên thành mục tiêu chính yếu nhất.
Để thực hiện mục tiêu tồn tại, doanh nghiệp thường có xu hướng đặt giá thấp để
bảo đảm duy trì lượng cầu, tăng sản lượng và ổn định nhiệm vụ sản xuất.
• Tối đa hoá lợi nhuận hiện tại: Doanh nghiệp cần ước lượng mức cầu và chi
phí theo những mức giá khác nhau để chọn được mức giá cho phép tối đa hoá
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 15
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
doanh thu hoặc cực tiểu hoá chi phí để đạt được mức lợi nhuận cao nhất có thể
được.
• Tăng khối lượng sản xuất để lãnh đạo thị trường hoặc gia tăng thị phần đáp
ứng: Với mục tiêu này doanh nghiệp thường có xu hướng định giá càng thấp
càng tốt để đưa khối lượng sản phẩm bán lên cao nhất và thâm nhập thị trường
+ Thực hiện cải tiến đồng bộ mẫu mã hàng hoá, khắc phục sự hạn chế về mặt
hàng, kĩ thuật và tài chính của từng nhà sản xuất riêng lẻ.
+ Trong hoạt động Marketing, chính sách phân phối của doanh nghiệp giữ vai trò
quan trọng, nó là chìa khoá để để thiết lập Marketing chiến lược và Marketing hỗn
hợp. tạo nên sự nhất quán, đồng bộ và hiệu quả giữa chính sách sản phẩm, chính sách
giá và chính sách truyền thông - cổ động...
• Chức năng của phân phối:
+ Điều tra và nghiên cứu : Nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho việc
hoạch định chiến lược, chính sách và mở rộng sự trao đổi.
+ Cổ động : Triển khai và phổ biến những tin tức có sức thuyết phục về những
sản phẩm cần bán.
+ Tiếp xúc : Thiết lập mối quan hệ với khách hàng.
+ Cân đối : Xác định và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trên các mặt sản
xuất, tập hợp, bao gói, vận chuyển....
+ Thương thảo : Thoả thuận về giá cả và các vấn đề liên quan với khách hàng.
+ Phân phối vật phẩm : Cung ứng, chuyên chở, dự trữ và tồn kho hàng hóa.
+ Tài trợ : Huy động và phân chia chi phí, tiền bạc để thanh toán tài chính cho
toàn hệ thống.
+ Chia sẽ rủi ro : Cùng chấp nhận rủi ro liên quan đến việc điều hành phân phối.
b. Hệ thống trung gian và kênh phân phối:
Hệ thống trung gian phân phối :
• Trung gian bán lẻ : Nhà bán lẻ hoặc cửa hiệu bán lẻ là những cơ sở kinh
doanh có doanh số chủ yếu từ những hoạt động bán lẻ (hoạt động có liên quan
đến việc bán hàng hoá, dịch vụ trực tiếp đến người tiêu thụ cuối cùng để họ sử
dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích kinh doanh).
• Trung gian bán sỉ : Người bán sỉ chủ yếu mua hàng hoá từ các nhà sản xuất
và hầu hết là bán cho người bán lẻ, cho các cơ sở công nghiệp và những nhà
bán sỉ khác.
Trung gian bán sỉ bao gồm : các nhà môi giới, đại lý ; chi nhánh , văn phòng
của nhà sản xuất và bán lẻ, các nhà bán sỉ tạp loại...
chúng trong cộng đồng xã hội.
• Bán hàng : Là sự giới thiệu bằng miệng trực tiếp qua các cuộc đối thoại với
khách hàng tương lai nhằm mục đích đẩy mạnh việc mua hàng và sử dụng
hàng.
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 18
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
PHẦN II:
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CHÍNH
SÁCH MARKETING-MIX ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ÁO SƠ MI NAM
TẠI CÔNG TY CP VINATEX ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Tổng quan về công ty:
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Trước tình hình ngành dệt may Việt Nam ngày càng phát triển, ngày
01/07/1992, Công ty Liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu Việt nam được thành lập tại
Đà Nẵng.
Với cơ sở ban đầu là một xưởng thêu tự động, một xưởng may bao gồm 350 công
nhân và một cửa hàng cung ứng thiết bị phụ tùng ngành may, chi nhánh không ngừng
phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng qui mô và đến ngày ngày 25/09/1995 theo
quyết định của số 100/ QĐ/ TCLD của hội đồng quản trị tổng công ty Dệt may Việt
Nam đã tiến hành sát nhập với chi nhánh Textimex Đà Nẵng và lấy tên là Chi nhánh
Tổng công ty Dệt may Việt Nam tại Đà Nẵng.
Sau đó, với quyết định số 299 QĐ/TCB do Bộ Công nghiệp ban hành vào ngày
28/01/2001, Công ty Liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu may Đà Nẵng đã xác nhập
với Công ty dệt may Thuỷ sản Đà Nẵng và lấy tên là Công ty Dệt may Đà Nẵng hay
còn gọi là VINATEX Đà Nẵng.
Trước đây,Công ty VINATEX Đà Nẵng là một doanh nghiệp Nhà nước đặt
dưới sự quản lý toàn diện của Tổng công ty dệt may Việt Nam, chịu sự quản lý của
Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm may mặc.
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 20
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Cơ sở II tại 88 Thanh Sơn ĐN có diện tích mặt bằng là 6.332 m
2
với 8.374 m
2
nhà xưởng.
Cơ sơ III là nhà máy may Phù Mỹ - Bình Định với 500 công nhân và 8 chuyền
may đạt doanh thu khoảng 1,1 tỷ đồng/ tháng.
Tính đến tháng 03/2005, Công ty có khoảng 2500 công nhân và 1600 máy móc,
thiết bị. Về tổ chức, biên chế bộ máy, Công ty có 4 phòng nghiệp vụ, 2 phân xưởng,
5 xí nghiệp xản xuất và 2 trung tâm kinh doanh, thương mại.
Xí nghiệp may I:
+ Số chuyền sản xuất: 06 chuyền (50 Công nhân / chuyền)
+ Số lượng công nhân :350 công nhân
+ Tổng diện tích :974,25 m
2
+ Thiết bị hiện có :415 thiết bị
+ Chuyên sản xuất áo JACKET, áo POLO SHIRT, quần tây
+ Thị trường xuất khẩu: USA, Đài Loan, EU
Xí nghiệp may II:
+ Số chuyền sản xuất: 06 chuyền ( 45 công nhân/chuyền)
+ Số lượng công nhân : 330 công nhân
+ Tổng diện tích :846 m
2
+ Thiết bị hiện có :405 thiết bị
+ Chuyên sản xuất các sản phẩm bộ áo liền quần, áo bảo hộ lao động
+ Thị trường xuất khẩu: USA, Đài Loan, EU
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty:
a. Chức năng của công ty:
Tổ chức sản xuất các sản phẩm may mặc.
Thực hiện thương mại xuất nhập khẩu các sản phẩm may mặc và các
nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất hàng may mặc.
Tổ chức thương mại các sản phẩm may mặc ở thị trường trong nước.
b. Nhiệm vụ của công ty:
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất – kinh doanh, kế hoạch
xuất nhập khẩu trực tiếp, kế hoạch tiêu thụ nội địa và các kế hoạch có liên quan
bao gồm kế hoạch trung hạn, kế hoạch dài hạn và kế hoạch hằng năm để đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh tại công ty.
Tuân thủ các chính sách xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại do nhà nước
quy định.
Tuân thủ các chính sách hoạt động, chính sách thuế cũng như các quy định
khác của Nhà nước.
Có trách nhiệm bảo hoàn vốn, khai thác và sử dụng các nguồn vốn có hiệu
quả.
Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động,
phòng chống cháy nổ.
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 22
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
c. Quyền hạn của công ty:
•Trước đây khi chưa sáp nhập vào công ty Thanh Sơn thì công ty mới chỉ là chi
nhánh hạch toán phụ thuộc vào tổng công ty dệt may Việt Nam .
•Từ khi sáp nhập và trở thành công ty dệt may Vinatex Đà Nẵng ,thì công ty đã
tự tìm đối tác kinh doanh cho mình .Đội ngũ nhân viên cũng đã có những cố gắng
Các sản phẩm chủ lực :
- Các mặt hàng may mặc, áo sơ mi, áo polo, áo jacket, quần dài nam, quần
short...
- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thảm len, thêu đan ...
2.1.4. Triết lý kinh doanh của công ty:
Công ty Công ty Cổ phần sản xuất - xuất nhập khẩu dệt may Đà Nẵng
(VINATEX Đà Nẵng) hoạt động với triết lý kinh doanh:
• Con người là yếu tố quan trọng nhất.
• Môi trường làm việc mà ở đó tiềm năng của mỗi người được đánh thức
một cách cao độ.
• Chất lượng và uy tín là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ khâu thiết kế đến khâu
dịch vụ khách hàng.
• Mọi người đều chiến thắng không chỉ khách hàng, công ty mà còn có tất cả
nhân viên.
Với những triết lý kinh doanh đó, Công ty VINATEX Đà Nẵng đã đưa ra
khẩu hiệu hoạt động (slogan) : “VINATEX Đà Nẵng hướng tới sự hoàn mỹ - khát
vọng - ý chí - tinh thần”. Là doanh nghiệp có bản sắc nhân văn nhân bản, là điểm
đến và lưu lại của mọi khách hàng.
2.1.5. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chức năng các bộ phận
của công ty:
Hình 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
SVTH: Phạm Thị Hồng Trang 24
Lớp :B13QTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Tấn Tuyến
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Giám đốc: Là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của toàn công ty, theo dõi công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, công
tác tài chính và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng,