thực trạng và định hướng sử dụng lao động ở tỉnh bến tre - Pdf 10


Thành phố Hồ Chí Minh – 2011BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TỐNG THỊ THU VÂN
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG Ở TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011 LỜI CẢM ƠN

Được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự hỗ trợ của các bạn bè,
đồng nghiệp và sự động viên của gia đình. Sau ba năm học tập và nghiên cứu đến nay tác
giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình.
Để có được thành công này, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc đến cô TS. Đàm Nguyễn Thùy Dương – Người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Khoa học – Công Nghệ
Sau đại học và Khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, trang bị kiến thức để hoàn thành
luận văn.
Đồng thời, xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bến Tre, trường
THPT Nguyễn Đình Chiểu, các thầy cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tác giả thực hiện công việc học tập và nghiên cứu của mình.
Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng chân thành cảm ơn tới các Cơ Quan, Ban Ngành
như: Sở Lao động thương binh và Xã hội Bến Tre, Cục Thống kê Bến Tre, UBND tỉnh Bến
Tre,… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các tư liệu, số liệu tham khảo quý báu, hữu ích để tác
giả hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả luận văn
0T1.4.3. Sử dụng lao động đã qua đào tạo còn bất hợp lí0T 44
0TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở BẾN
TRE
0T 46
0T2.1. Khái quát về tỉnh Bến Tre0T 46
0T2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới lao động và sử dụng lao động ở tỉnh Bến Tre0T 47
0T2.2.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ0T 47
0T2.2.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên0T 47
0T2.2.3. Các nhân tố kinh tế xã hội0T 54
0T2.3. Nguồn lao động ở Bến Tre0T 61

0T2.3.1. Qui mô nguồn lao động0T 61
0T2.3.1. Sự phân bố lao động0T 63
0T2.3.3. Cơ cấu lao động0T 65
0T2.4. Thực trạng sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh0T 68
0T2.4.1. Thực trạng việc làm0T 68
0T2.4.2. Sử dụng lao động theo đơn vị hành chính0T 69
0T2.4.3. Sử dụng lao động theo thành phần kinh tế0T 70
0T2.4.4.Sử dụng lao động trong khu vực kinh tế0T 71
0T2.5. Nhận xét về thực trạng sử dụng lao động Bến Tre0T 81
0T2.5.1. Lao động – việc làm0T 81
0T2.5.2. Tỉ lệ thất nghiệp0T 82
0T2.5.3. Sự di cư lao động tìm việc làm0T 83
0T2.5.4. Mối quan hệ giữa lao động và phát triển kinh tế xã hội Bến Tre0T 84
0TCHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG,
SỬ DỤNG HỢP LÍ LAO ĐỘNG Ở BẾN TRE
0T 86
0T3.1. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 20200T 86
0T3.1.1.Quan điểm phát triển0T 86
0T3.1.2. Mục tiêu chiến lược0T 88

PTTH: phổ thông trung học
SX: sản xuất
TTLL: thông tin liên lạc

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Nguồn lao động và vấn đề sử dụng lao động rất quan trọng đối với tất cả các quốc gia
trên thế giới. Việt Nam là nước đông dân, nguồn lao động dồi dào tuy nhiên chủ yếu là lao
động thủ công, trình độ tay nghề và khoa học kĩ thuật còn kém so với nhiều nước trên thế
giới. Vì vậy vấn đề sử dụng nguồn lao động như thế nào cho hợp lí và đạt hiệu quả kinh tế
cao là hết sức cấp bách để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Để làm được
điều này cần phải có sự nghiên cứu đánh giá và sử dụng nguồn lao động một cách khoa học,
đối với mỗi tỉnh thành khác nhau thì cần có những giải pháp phù hợp với đặc điểm nguồn
lao động của tỉnh để sử dụng nguồn lao động một cách hợp lí nhất. Đặc biệt đối với những
tỉnh nghèo thì việc nghiên cứu đánh giá nguồn lao động, giải quyết việc làm để nâng cao đời
sống nhân dân, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội
đất nước có một ý nghĩa rất lớn.
Bến Tre là tỉnh nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn lao động khá lớn, số
dân trong độ tuổi lao động tăng theo từng năm, qui mô kinh tế của tỉnh nhỏ bé, chủ yếu là
nông nghiệp. Công nghiệp và dịch vụ phát triển hạn chế. Đó cũng là một trong những lí do
mà Bến Tre có số lượng lao động xuất cư rất nhiều, và gặp rất nhiều khó khăn trong giải
quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Cần có một chiến lược lâu dài để
phát triển nguồn nhân lực Bến Tre trong điều kiện hội nhập kinh tế Bến Tre vào kinh tế cả
nước, khu vực và thế giới, tạo điều kiện và cơ hội tìm kiếm việc làm cho người lao động đòi
hỏi sự quan tâm của toàn thể nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là các cấp lãnh đạo quản lí, các
nhà xã hội học, các nhà kinh tế và các nhà địa lí học,…

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng và
định hướng sử dụng lao động ở tinh Bến Tre” làm luận văn thạc sĩ.

lao động, việc làm của các cơ quan chức năng như: Trung tâm Nghiên cứu lao động của Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban Dân cư lao động của Viện Chiến lược Phát triển,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với một số cơ quan thuộc Trung tâm Khoa học - Xã hội và
Nhân văn quốc gia, v.v…

Vấn đề lao động và sử dụng lực lượng lao động đã được đề cập đến trong các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học: GS.TS Đặng Thu, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh,
GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, GS.TS Nguyễn Thị Minh Đức…
Trong hội thảo “ Dân số và phát triển nguồn nhân lực” của Trung tâm Nghiên cứu
dân số và nguồn lao động của Bộ Lao Động – Thương binh và xã hội vào tháng 9 năm
1990, các tác giả đều bàn luận xoay quanh vấn đề dân số, lao động, việc làm và một vài khía
cạnh quan hệ của chúng trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế.
Trong thông tin chuyên đề của Trung tâm thông tin thuộc Ủy ban kế hoạch nhà nước,
hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Đinh Văn Bình đã đề cập đến một vài khía cạnh lao động-
việc làm qua bài viết: “ Thị trường lao động và vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam”; tác
giả Trần Thị Tuyết Mai có bài : “ Một số phương hướng giải quyết việc làm và sử dụng hợp
lí nguồn lao động xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 1991-2005”; tác
giả Thế Ba có bài “ Lao động và việc làm ở nông thôn thời kỳ 1991- 1995”; tác giả Lê
Quang với bài “ Lao động và việc làm cho thanh niên”…Các bài viết này mới chỉ đề cập
đến một khía cạnh cụ thể của quan hệ dân số- lao động- việc làm.
Nhiều tác giả đã phân tích khá sâu sắc lao động, việc làm và mối quan hệ giữa dân số
với lao động và việc làm , như bài viết của Lê Trung “ Lao động và việc làm: điều băn
khoăn chưa lời giải”. Nhiều tác giả còn đi sâu và nghiên cứu nguồn lao động ở nhiều khía
cạnh khác nhau như: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề tạo việc làm, phát triển
nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội, như: TS. Trần Thị Tuyết Mai với bài viết “
Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược và quy hoạch phát triển kinh
tế- xã hội Việt Nam đến năm 2010”; Sở Lao Động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ
Chí Minh: “ Báo cáo vai trò khu vực kinh tế phi chính thức trong tạo việc làm, thu nhập,
các vấn đề xã hội”.
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số đề tài được đề cập chuyên sâu về nguồn lao động

nhiên điều này cũng gây sức ép đối với y tế, giáo dục và gây tác động xấu cho môi trường
nếu không được qui hoạch hợp lí.
4.1.3. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Dân cư và nguồn lao động không chỉ phân hóa theo không gian mà còn phát triển
theo thời gian. Nguồn lao động có sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Vì vậy
để lí giải nguồn lao động trong hiện tại và xác định kế hoạch phát triển, sử dụng lao động
trong tương lai, chúng ta cần quán triệt quan điểm lịch sử viễn cảnh.
4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

“Hệ sinh thái là một hệ thống động lực tự nhiên, một tổng thể tự nhiên trong phạm vi
một lãnh thổ xác định, lãnh thổ đó bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên (yếu tố vô sinh và
hữu sinh) mà trong đó tất cả các yếu tố tự nhiên đều có một sự đồng nhất tương đối và gắn
kết với nhau bằng các mối quan hệ bên trong, các mối quan hệ đó không chỉ chi phối, quy
định lẫn nhau mà còn phù hợp vói nhau”[2]
“Hệ sinh thái là một tổ chức sống cao nhất của sinh vật, bao gồm quần xã sinh vật
và sinh cảnh của nó”[2]
Hệ sinh thái càng nhỏ thì mức độ đồng nhất của các thành phần, yếu tố càng lớn và
ngược lại.
Còn có thể hiểu hệ sinh thái là tập hợp của quần xã sinh vật với môi trường vật lí mà
nó tồn tại, ở đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để phát triển ổn định theo
thời gian thông qua hoạt động của các chu trình sinh địa hóa và sự biến đổi năng lượng.
Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không
phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đó là quá trình phát triển
kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người,
động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng
thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sình thái mà còn đi vào các nhân tố xã
hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế
hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết
nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững.

vật, hiện tượng tự nhiên, dân cư môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Cuối cùng công trình nghiên cứu được thể hiện kết luận bằng hệ thống bản đồ, biểu
đồ.
4.2.4.Phương pháp hệ thống hóa
Hệ thống hóa là một vấn đề chung và rộng nhất về sự sắp xếp các đối tượng trên cơ
sở các qui luật, nguyên tắc hoặc qui tắc nhất định. Sự phân chia “theo chiều nằm ngang”
các đối tượng đồng nhất chủ yếu theo những dấu hiệu định lượng được gọi là sự phân loại.
Ngược lại, sự phân chia các đối tượng ấy “theo chiều thẳng đứng” được gọi là sự phân dị.
Trên cơ sở phân loại và phân dị các đối tượng người ta phân kiểu các đối tượng này, nghĩa
là tổng hợp các tổng thể hợp thành quan trọng nhất, chủ yếu theo các dấu hiệu định tính. Sự
thống nhất vào một mối quan hệ nào đó các đối tượng giống nhau được gọi là sự phân
nhóm.
Về mặt lí luận và thực tiễn của địa lí kinh tế - xã hội thì hệ thống hóa khoa học có ý
nghĩa to lớn. Bởi vì hệ thống hóa cho phép theo dõi trật tự nhất định trong các hiện tượng

đang nghiên cứu, cho phép đúc kết kiến thức về sự giống nhau và khác nhau của hiện tượng
ấy, đồng thời làm dễ dàng cho quá trình nghiên cứu các địa hệ phức tạp và tạo nên khả năng
phát hiện nhanh chóng hơn các qui luật bên trong của chúng. Mặt khác quá trình hệ thống
hóa đã tuân thủ theo những qui tắc và phân chia logic các khái niệm và những nguyên tắc về
việc phân chia tập hợp các tối ưu như: tính thuần nhất lớn nhất bên trong các nhóm phân
chia và sự khác biệt lớn có thể giữa các nhóm.
4.2.5. Phương pháp thực địa
Là phương pháp truyền thống của địa lí học để tích lũy tài liệu thực tế về sự hình
thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu.
Đây là phương pháp dùng để thu được lượng thông tin đáng tin cậy và xây dựng
ngân hàng tư liệu cho các phương pháp phân tích khác (bản đồ, toán học, cân đối, )
4.2.6. Phương pháp dự báo
Đây là giai đoạn khái quát hóa, hệ thống hóa địa thông tin ở mức cao nhằm xác định
trạng thái tương lai của vấn đề. Thường các dự báo mang tính phức tạp và tính xác xuất
(tính đúng ở một mức độ nhất định).

1.1.1.2. Nguồn lao động
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn lao động là trình độ lành nghề, kiến
thức và năng lượng của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc dưới dạng tiềm
năng để phát triển kinh tế- xã hội trong một cộng đồng [5].
Theo Bộ lao động - Thương binh và Xã hội:Nguồn lao động là toàn bộ những người
đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có
nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ
hưu trước tuổi theo qui định của Bộ Luật lao động) [5],[28]. Trong nguồn lao động người ta
không tính đến lao động trẻ em. Như vậy, nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ
tuổi lao động theo qui định của Bộ Luật lao động gồm: Những người đang làm việc trong
nền kinh tế quốc dân, những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc,
những người tàn tật, mất sức lao động (bị tai nạn trong khi lao động), những người thất
nghiệp và những người thuộc tình trạng khác (đang đi học, nội trợ).

1.1.1.3. Dân số hoạt động kinh tế
Nguồn lao động được qui định bởi qui mô dân số, cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới
tính và sự phân bố theo lãnh thổ. trong thực tế, không phải mọi người trong độ tuổi lao động
đều tham gia hoạt động kinh tế và ngược lại, không phải cứ ai ngoài độ tuổi lao động thì
không tham gia hoạt động kinh tế. Chỉ riêng những người trong độ tuổi lao động chưa phản
ánh đầy đủ về cung lao động, còn phải đo lường và phân tích thêm mức độ tham gia hoạt
động kinh tế của họ. Vì thế theo khuyến nghị của Liên hiệp quốc, nguồn lao động được chia
thành hai khối: dân số hoạt động kinh tế (hay còn gọi là lực lượng lao động hoặc dân số làm
việc) và dân số không hoạt động kinh tế.
Dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người đang làm việc và cả những người
không có việc làm (thất nghiệp) nhưng đang tích cực tìm việc làm trong một ngành nào đó
của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định [5].
Theo định nghĩa trên còn có thể phân biệt dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao
động – bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc không có việc
làm nhưng có nhu cầu làm việc.

xuất xã hội, đó là tiềm lực kinh tế, là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước, bên cạnh các nguồn lực vật chất chỉ
đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế, nguồn lao động giữ vai trò then chốt trong
việc nâng cao năng suất lao động, khả năng kinh doanh, tạo điều kiện tìm việc làm và tạo
điều kiện cho đổi mới và tiến bộ. Các nghiên cứu về phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng, lực
lượng lao động trình độ cao là một trong những nhân tố cơ bản có tính quyết định trong việc
phát triển kinh tế quốc gia, nhất là trong thời đại tiến bộ khoa học kĩ thuật.
Đánh giá chất lượng nguồn lao động dựa trên một số tiêu chí sau:
+ Trình độ học vấn: thước đo quan trọng của chất lượng nguồn lao động. Đây là cơ
sở chủ yếu để nâng cao năng lực và kĩ năng làm việc của người lao động. Xu hướng ở trên
thế giới hiện nay là tăng tỉ lệ số người có trình độ văn hóa cao, trình độ học vấn được coi là
1 trong 3 chỉ số đánh giá phát triển con người (HDI). Những chuyển biến tích cực về trình
độ học vấn sẽ tạo nhiều thuận lợi mang tính nội lực cho việc đẩy mạnh các hoạt động đào
tạo nghề, giải quyết việc làm, tạo thêm nhiều việc làm mới cho lực lượng lao động và là tiền
đề quan trọng cho sự phát triển nguồn lao động. Hiện nay, trên 30 quốc gia có tỉ lệ người
biết chữ từ 15 tuổi trở lên đạt 100%, có khoảng 30 quốc gia (trong đó có Việt Nam) tỉ lệ
người không biết chữ ở độ tuổi 15 tuổi trở lên chỉ có 5%, nhưng cũng còn tới 25 quốc gia có
trên 50% số người trong độ tuổi lao động bị mù chữ.

+ Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của lực lượng lao động: chỉ tiêu này được xem
xét bằng tỉ lệ lao động đã qua đào tạo các cấp (công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp,
cao đẳng - đại học trở lên) trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân.
Theo kinh nghiệm của thế giới, tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của tiến bộ khoa học
kĩ thuật, cần có cơ cấu chất lượng lao động theo các trình độ thích hợp tương ứng. Theo F.M
Harbison, trong một chu kỳ dài, tốc độ tăng nhu cầu lao động có kĩ thuật đã qua đào tạo
thường gấp 2 - 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP). Còn theo kinh nghiệm của các nước
phát triển, tỉ lệ hợp lí giữa công nhân kĩ thuật và trung học chuyên nghiệp so với đại học và
cao đẳng là 7/3.
Nếu cơ cấu lao động đã qua đào tạo mà bất hợp lí sẽ gây hậu quả xấu. Nền kinh tế
hiện đại thiếu trầm trọng công nhân lành nghề và lao động kĩ thuật, trong khi đó hàng vạn

ngừng của thị trường lao động và sự phát triển kinh tế - xã hội. Thất nghiệp là biểu hiện của
sự không cân bằng của thị trường lao động khi nhu cầu việc làm nhiều hơn chỗ làm việc. Ở
những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam do tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động
cao nên vấn đề thất nghiệp vẫn đang là thách thức lớn. Nó không chỉ gây ra những hậu quả
tiêu cực cho cá nhân mà còn cho sự phát triển nền kinh tế. Nói một cách đơn giản, một
người được coi là thất nghiệp nếu người đó trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
nhưng không có việc làm và đang cố gắng tìm việc [4]. Trong những qui định điều tra thực
trạng lao động và việc làm được áp dụng từ năm 1996 do Bộ Lao động -Thương binh và Xã
hội tiến hành, xác định người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số
hoạt động kinh tế trong thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Ở
đây giới hạn độ tuổi của người thất nghiệp được qui định cả những người trên độ tuổi lao
động. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, khi trong xã hội còn
có một tỉ lệ người trên độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và đi liền
với nó là một tỉ lệ không nhỏ người đang rơi vào tình trạng không có việc làm.
Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng khái niệm thất nghiệp để làm công cụ nghiên cứu
nguồn lao động như sau: Người thất nghiệp là những người trong lực lượng lao động không
có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm [11].
Sự phát triển thị trường lao động ở nhiều nước đã chỉ ra các dạng thất nghiệp khác
nhau:
- Thất nghiệp tự nguyện (tự nhiên) là tình trạng thất nghiệp của người lao động do
không tích cực tìm kiếm việc làm ở mức lương hiện hành. Thất nghiệp tự nhiên là dạng thất

nghiệp chấp nhận được của nền kinh tế, tức là với mức thất nghiệp này nền kinh tế vẫn giữ
được sự phát triển bình thường.
- Thất nghiệp dài hạn là tình trạng thất nghiệp có thời gian kéo dài từ 1 năm trở lên.
- Thất nghiệp chu kì là tình trạng thất nghiệp xảy ra trong giai đoạn đình trệ của chu
kì đầu sản xuất kinh doanh.
- Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi mất đồng bộ giữa cơ cấu lao
động và cơ hội làm việc do sự thay đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng và công nghệ. Loại thất
nghiệp này mang đặc điểm của thất nghiệp dài hạn.

kinh tế.
Trong những năm qua cơ cấu lao động Việt Nam đã có những chuyển dịch chủ yếu
sau đây: Số người mù chữ trong dân số và lao động ngày càng giảm. Nếu so với lực lượng
lao động, số lao động mù chữ trong lực lượng lao động ngày càng giảm. Năm 1996, có
5,7% số người chưa biết chữ. Nhờ các biện pháp tích cực và các hình thức học tập xoá mù
chữ phù hợp nên đến năm 2004, số mù chữ chỉ chiếm 4,44% lực lượng lao động ; đến năm
2009 đã giảm xuống còn 3,04%. Số không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học cũng giảm,
từ 18,32% năm 2004 xuống còn 6% năm 2009. Tuy nhiên, số người mù chữ trong lực lượng
lao động năm 2009 không đều giữa các vùng lãnh thổ. Trong 8 vùng lãnh thổ, tỉ lệ lao động
mù chữ cao nhất là Tây Bắc (10%), tiếp đến là Tây Nguyên (9,1%), thấp nhất là vùng đồng
bằng sông Hồng (0,6%) và Bắc Trung bộ (1,9%). Số người không có trình độ chuyên môn
kỹ thuật ngày càng giảm, số người qua đào tạo ngày càng tăng. Nhờ phát triển mạnh mẽ hệ
thống giáo dục đào tạo ở mọi miền vùng, khu vực và trong cơ sở sản xuất kinh doanh nên số
người không có trình độ chuyên môn, kĩ thuật (những người không được đào tạo sơ cấp,
trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên) trong số người hoạt động kinh tế thường xuyên từ 15
tuổi trở lên ngày càng giảm. Năm 1999 là 91,9%, năm 2005 giảm xuống còn 75,21% và
năm 2009 còn 74,7%. Số lao động qua đào tạo ngày càng tăng. Cụ thể, tỉ lệ này đã tăng từ
24,79% năm 2005 lên 25,3% năm 2009. Trong đó, riêng năm 2009, số người có chứng chỉ
nghề sơ cấp, có bằng CNKT hoặc tương đương CNKT là 15,22%, tốt nghiệp trung học công
nghiệp là 4,70%, tốt nghiệp CĐ, ĐH và trên ĐH là 5,8%. Tuy nhiên, về mặt chất lượng đào
tạo cũng còn nhiều vấn đề và chưa đạt mục tiêu đưa tỉ lệ lao động qua đào tạo là 30% như
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX đã nêu. Trong 8 vùng lãnh thổ, có sự chênh lệch đáng kể giữa
các vùng. Năm 2009 vùng có tỉ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo cao nhất là Đông Nam
bộ (37,4%), tiếp đến là đồng bằng sông Hồng (34,4%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (13,5%).
Dân số và lao động ở thành thị ngày càng tăng. Năm 1986, dân số cả nước là 61.109.000

người, trong đó ở thành thị là 11.817.000 người, chiếm 19,3% và ở nông thôn là 49.292.000
người chiếm 80,7%. Đến năm 1999, dân số cả nước đã tăng lên 76.327.000 người, trong đó
thành thị chiếm 23,5%. Năm 2009, dân số cả nước đã tăng lên 85,7 triệu người, trong đó ở
thành thị là 22,4 triệu người, chiếm 29,6%. Xét về cơ cấu của lực lượng lao động theo vùng

41%
38,1%
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Năm 2009
38,85%
20,9%
40,2%

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu, sự phát triển và phân bố nguồn lao động
1.1.4.1. Vị trí địa lí của lãnh thổ
* Vị trí địa lí tự nhiên là yếu tố chi phối các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ, có ảnh
hưởng tới sự cư trú và sản xuất của con người. Sự ảnh hưởng đó có thể thấy thông qua các
yếu tố địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản…
* Vị trí địa lí kinh tế có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của lãnh
thổ, ảnh hưởng đến sự phân bố và cơ cấu dân cư, lao động. Một lãnh thổ có vị trí thuận lợi
cho giao lưu kinh tế cùng với đường lối phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, lợi thế về vị trí
địa lí sẽ được tận dụng để phát triển, hình thành đội ngũ lao động có trình độ cao, lao động
công nghiệp dịch vụ chiếm ưu thế. Bến Tre trước đây bị cách trở về giao thông nên kinh tế
kém phát triển. Hiện nay tỉnh đang được đầu tư phát triển về giao thông nhất là khi cầu
Rạch Miễu và cầu Hàm Luông được xây dựng đã nối liền Bến Tre với các tỉnh thành khác
trong nước tạo điều kiện thuận lợi để thu hút sự đầu tư của nước ngoài, tạo ra nhu cầu lớn về
lao động công nghiệp và dịch vụ, góp phần làm thay đổi cơ cấu lao động theo nghề nghiệp
và theo trình độ chuyên môn kĩ thuật của tỉnh.
1.1.4.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
* Địa hình ảnh hưởng đến việc cư trú, đi lại của con người, chi phối phương thức
canh tác cũng như năng suất của đất đai. Dân cư và lao động thường tập trung đông ở những
vùng có địa hình bằng phẳng như các đồng bằng, bồn địa và thung lũng miền núi để thuận
tiện cho sản xuất và sinh hoạt. càng lên cao dân cư càng thưa thớt.
Vùng địa hình cao thường là nơi khai thác kinh tế, liên quan đến sự di cư của lao
động nam nhiều hơn lao động nữ, trong cơ cấu lao động theo giới, nam nhiều hơn nữ.

nghiệp khai khoáng đòi hỏi sức khỏe tốt và ở mức độ nhất định cần tới trình độ văn hóa,
chuyên môn kĩ thuật nên vùng công nghiệp khai khoáng thường có kết cấu lao động nam
nhiều hơn nữ và tỉ lệ lao động có chuyên môn kĩ thuật cao
* Sinh vật là nhân tố quan trọng tạo nên sự cân bằng sinh thái. Rừng có vai trò điều
hòa khí hậu, duy trì mực nước ngầm, hạn chế lũ lụt, giảm bớt hạn hán, làm trong sạch môi
trường sống.
Hiện tượng thiên tai lũ lụt ở Việt Nam ngày càng nhiều, đây là hậu quả của sự tàn
phá rừng đầu nguồn, của tập quán du canh du cư ở đồng bào dân tộc thiểu số, của sự khai
hoang bừa bãi không khoa học. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống và các hoạt
động sản xuất.
Cây xanh đã giúp con người giảm bớt sự ô nhiễm không khí do sự phát triển công
nghiệp, đô thị và các phương tiện giao thông. Sự săn bắt triệt để các sinh vật tự nhiên trên

đồng ruộng làm cho cân bằng sinh thái bị phá vỡ, sâu bệnh phát triển phá hoại cây trồng vật
nuôi. Cần phải duy trì các sinh vật tự nhiên, bảo vệ rừng đầu nguồn để giữ cân bằng sinh
thái.
1.1.4.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội
* Dân số với nguồn lao động
Dân số quyết định tới qui mô và chất lượng nguồn lao động.
- Gia tăng tự nhiên và qui mô nguồn lao động
Nguồn lao động là một bộ phận quan trọng của dân số. Sự gia tăng dân số quyết định
mức gia tăng lao động trong tương lai (sau 15 đến 25 năm). Những nước có mức gia tăng
dân số cao cũng có mức gia tăng nguồn lao động cao. Nguồn lao động phát triển nhanh về
số lượng nhưng yếu về sức khỏe và thể lực, kém về trình độ văn hóa, chuyên môn kĩ thuật
làm cho năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân đầu người càng thấp, kinh tế chậm
phát triển, nhiều lao động không có việc làm.
Những nước có gia tăng dân số thấp và ổn định thì mức gia tăng lao động cũng thấp
và ổn định, tỉ lệ lao động trong dân số cao, tổng sản phẩm xã hội lớn, thu nhập bình quân
đầu người cao, tạo thuận lợi cho sự tích lũy vốn đầu tư mở rộng sản xuất và đào tạo đội ngũ
lao động có trình độ cao.

động có trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp thấp, khiến họ phải di chuyển tới những
nơi có cơ hội kiếm được việc làm. Đồng thời, khi qui mô lực lượng lao động lớn, việc tạo ra
nhiều việc làm sẽ gây khó khăn cho áp dụng tiến bộ công nghệ kĩ thuật. Điều đó khiến cho
bộ phận lực lượng lao động có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao sẽ tìm mọi cách di
chuyển đến những nơi tiến bộ công nghệ cao phù hợp với năng lực của họ.
- Cơ cấu dân số và cơ cấu lực lượng lao động
* Cơ cấu dân số trẻ: Dân số dưới độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao đã dẫn đến việc chi
phí cho tiêu dùng, cho các dịch vụ giáo dục, y tế cao; khả năng đầu tư cho đào tạo và đào
tạo lại lao động, cho chuyển giao công nghệ, cho phát triển sản xuất thấp. Cơ cấu lực lượng
lao động sẽ được thể hiện như sau:
Theo trình độ nghề nghiệp, cơ cấu lực lượng lao động bao gồm: lao động được đào
tạo nghề chiếm tỉ lệ thấp và lao động không được đào tạo nghề chiếm tỉ lệ cao.
Theo khu vực sản xuất, cơ cấu lực lượng lao động bao gồm: lực lượng lao động ở
khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao và lực lượng lao động ở khu vực công nghiệp
và dịch vụ chiếm tỉ lệ thấp. Với cơ cấu dân số trẻ, nền kinh tế thường phải tập trung vào khu
vực sản xuất nông nghiệp để đảm bảo lương thực cho dân số đông và ít có điều kiện đầu tư

Trích đoạn Sự phát triển kinh tế Thị trường tiêu thụ Môi trường và điều kiện làm việc. Qui mô nguồn lao động Sự phân bố lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status