Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về đánh giá độ nặng và tiên lượng bệnh nhân chấn thương tại việt nam - Pdf 13

Bộ y tế

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ

Tên đề tài:

Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về đánh
giá độ nặng và tiên lợng bệnh nhân chấn thơng
tại Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Hữu Tú

Cơ quan chủ trì đề tài: Trờng Đại học Y Hà Nội
8939

Năm 2010 Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ 1. Tên đề tài: Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về đánh giá độ
nặng và tiên lợng bệnh nhân chấn thơng tại Việt Nam
2. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Hữu Tú
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Trờng ĐHY Hà Nội
4. Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Y tế
5. Th ký đề tài: Ths. Tạ Ngân Giang (ĐHY Hà Nội)
6. Danh sách những ngời thực hiện chính:
PGS.TS Nguyễn Thái sơn (Bv Saint Paul, Hà Nội), Bs CKII Nguyễn Đức
Chính (Bv Việt Đức), ThS. Lê Hữu Quý (Bv Đa khoa Ninh Bình), TS.
Nguyễn Trờng Giang (Học viện QY 103), ThS. Phạm Quang Minh (ĐHY
Hà Nội), ThS. Nguyễn Toàn Thắng (ĐHY Hà Nội).
7. Thời gian thực hiện: từ tháng 6/2007 đến tháng 12/2008

Những chữ viết tắt

ALNS:
áp lực nội sọ
CTSN: Chấn thơng sọ não

1.1.2. Rối loạn hô hấp do chấn thơng 7
1.1.3. Rối loạn tuần hoàn 9
1.2.
Đánh giá độ nặng chấn thơng trên lâm sàng 15
1.2.1. Bảng điểm chấn thơng (TS-Trauma Score) 16
1.2.2. Bảng điểm chấn thơng sửa đổi (RTS-Revised Trauma Score
)
17
1.2.3. Bảng điểm độ nặng tổn thơng do chấn thơng (Injury Severity Score -
ISS) 18
1.2.4. Tuổi của bệnh nhân 24
1.3. Phơng pháp TRISS 25
1.3.1. Phơng trình hồi quy đa nhân tố 25
1.3.2. Cơ sở của phơng pháp TRISS 26
Chơng 2: Đối tợng và phơng pháp nghiên cứU 28
2.1. Đối tợng nghiên cứu 28
2.1.1. Lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu 28
2.1.2. Loại trừ bệnh nhân khỏi nghiên cứu 28
2.2. Phơng pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2. Định nghĩa các biến số đầu ra 30
2.2.3. Tiến hành nghiên cứu 31
2.3. Phân tích số liệu nghiên cứu 32
chơng 3: kết quả nghiên cứu 36
3.1. Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân chấn thơng 36
3.2. Phơng pháp TRISS: Bảng điểm RTS, ISS, và tuổi khi sử dụng rieng lẻ
trong đánh giá độ nặng và tiên lợng chấn thơng 41
3.3.1. Bảng điểm RTS 41
3.3.2. Bảng điểm ISS 44
3.3.3. Tuổi của bệnh nhân 47

ngay sau tai nạn đợc coi là những vấn đề cốt lõi để làm giảm tỷ lệ tử vong
do chấn thơng.
Việc đánh giá đúng độ nặng của chấn thơng và tiên lợng sớm theo các tiêu
chuẩn quốc tế cho phép đa ra các quyết định xử trí đúng đắn trong cấp cứu.
Đánh giá độ nặng và tiên lợng theo các tiêu chuẩn quốc tế còn là công cụ
tin cậy và cần thiết trong nghiên cứu chấn thơng nói chung, là cơ sở khoa
học khi đánh giá kết quả điều trị của từng bệnh nhân chấn thơng hay của cả
hệ thống điều trị [19-21], [84-88], [111].
Trên thế giới do nhu cầu trong đánh giá và phân loại độ nặng chấn thơng,
năm 1971 hiệp hội an toàn giao thông của Mỹ đã công bố thang điểm chấn
thơng rút gọn (AIS-abbreviated injury scale). Đây là thang điểm đầu tiên
mô tả đầy đủ các tổn thơng và cho phép xác định một điểm số chấn thơng.
Năm 1974 thang điểm này đã đợc Baker sửa đổi thành bảng điểm đánh giá
độ nặng tổn thơng (ISS-injury severity score) và đã đợc sử dụng rộng rãi
trên lâm sàng cho đến ngày nay.
Bên cạnh bảng điểm đánh giá tổn thơng giải phẫu, bảng điểm chấn thơng
sửa đổi (RTS - Revised Trauma Score)-đánh giá độ nặng của tổn thơng sinh
lý cũng đợc sử dụng rộng rãi nh một công cụ cơ bản trong phân loại chấn 2
thơng. Ra đời vào năm 1981 bởi Champion HR và đợc sửa chữa bởi chính
tác giả vào năm 1989, bảng điểm đánh giá độ nặng tổn thơng sinh lý có giá
trị đặc biệt quan trọng để phân loại độ nặng và tiên lợng trong cấp cứu, khi
mà các tổn thơng giải phẫu còn cha đợc chẩn đoán chắc chắn.
Ngày nay bảng điểm chấn thơng sửa đổi (RTS), bảng điểm độ nặng của tổn
thơng (ISS) đợc coi là những tiêu chuẩn tin cậy và dễ sử dụng nhất trên
lâm sàng để đánh giá độ nặng và tiên lợng chấn thơng. Các nghiên cứu
đều xác nhận giá trị phân loại và tiên lợng của các tiêu chuẩn này đối với
tình trạng sống chết, các biến chứng sau chấn thơng, thời gian nằm viện,

chỉ đạo của cấp Bộ là thực sự cần thiết. Các tiêu chuẩn trên rất cần đợc hoàn
thiện, thống nhất trong điều kiện Việt Nam để trở thành một công cụ đánh
giá cơ bản trong thực hành cấp cứu chấn thơng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành
đề tài này nhằm các mục tiêu:
1. Nghiên cứu áp dụng và điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá độ nặng và tiên
lợng hậu quả của chấn thơng theo tiêu chuẩn quốc tế (phơng pháp
TRISS) phù hợp với điều kiện Việt Nam
2. Đánh giá kết quả áp dụng tiêu chuẩn đánh giá độ nặng và tiên lợng
hậu quả của chấn thơng đã đợc điều chỉnh tại một số bệnh viện lớn
của Việt Nam (BV Việt-Đức, BV Saint Paul, Viện QY 103).
4
Chơng I: Tổng quan

1.1. Rối loạn các chức năng sống ở bệnh nhân chấn thơng:
Đặc điểm của sinh bệnh học và lâm sàng
1.1.1. Rối loạn tri giác do chấn thơng
Trên lâm sàng tri giác đợc định nghĩa nh là một tình trạng đáp ứng có hiểu
biết một cách bình thờng với một kích thích bên ngoài hoặc với một nhu
cầu bên trong cơ thể [165]. Có thể phân ra 2 phần của tri giác: Trạng thái
thức (letat deveil) đợc quyết định bởi các cấu trúc nằm sâu trong não là
vùng gian não và thân não và nội dung của tri giác (le contenu de la
conscience) quyết định bởi võ não, nơi diễn ra các hoạt động tinh thần. Tình
trạng tri giác phụ thuộc vào sự phối hợp phức tạp giữa 2 phần này. Vì vậy
một tổn thơng giải phẫu hoặc chức năng của vỏ não hoặc các cấu trúc trong
não sẽ gây ra rối loạn tri giác. Mức độ rối loạn phụ thuộc vào độ nặng của
các tổn thơng này, đặc biệt là tổn thơng ở thân não [165].
Rối loạn tri giác là dấu hiệu lâm sàng thờng gặp nhất ở bệnh nhân chấn

xảy ra rất sớm sau chấn thơng [165].
Cuối cùng rối loạn tri giác sau chấn thơng còn có thể do tình trạng thiếu
oxy não thứ phát sau các rối loạn hô hấp hoặc tuần hoàn. Tình trạng này
thờng gặp trong bệnh cảnh sốc đa chấn thơng có hay không có chấn
thơng sọ não phối hợp. Mức độ rối loạn tri giác phản ánh độ nặng của các
rối loạn hô hấp hoặc tuần hoàn [157]. Đối với não bình thờng, trong giới
hạn huyết áp động mạch trung bình 50 - 150 mmHg khả năng tự điều hoà
dòng máu não vẫn còn hiệu quả. ở dới ranh giới này não mới rơi vào tình
trạng thiếu máu, thiếu oxy. Trong trờng hợp não có tổn thơng do chấn
thơng khả năng tự điều hoà dòng máu não suy giảm nặng hoặc mất (1/2 các
bệnh nhân chấn thơng sọ não nặng). Vì vậy tình trạng t
ới máu não còn phụ 6
thuộc nhiều hơn vào huyết áp hệ thống, nguy cơ thiếu máu não sớm hơn và
nặng hơn [15], [166]. Đối với bệnh nhân chấn thơng sọ não trong bệnh cảnh
sốc đa chấn thơng tụt huyết áp động mạch, thiếu oxy và u thán do rối loạn
tuần hoàn và hô hấp là những nguyên nhân nguy hiểm nhất gây tổn thơng
thứ phát trong sọ [15].
Bảng 1.1: Bảng điểm Glasgow (Glasgow Coma Score, Teasdale, 1974) [137].
Biểu hiện Đáp ứng Điểm
Mở mắt Tự nhiên
Khi gọi
Khi gây đau
Không
4
3
2
1

[123], [150], [151].
Trên lâm sàng bảng điểm Glasgow đã đợc sử dụng rộng rãi để đánh giá rối
loạn tri giác sau chấn thơng (Bảng 1.1) [146], [154]. [160]. Mặc dù cha
phản ánh đợc tình trạng của tất cả các tổn thơng trong não, đặc biệt là ở
gian-thân não mức độ rối loạn tri giác đợc đánh giá theo bảng điểm này có
liên quan chặt chẽ với tình trạng tử vong và di chứng sau chấn thơng [22],
[136], [137].
1.1.2. Rối loạn hô hấp do chấn thơng
Suy hô hấp cấp có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc nằm trong bệnh cảnh sốc đa
chấn thơng cùng với suy tuần hoàn và rối loạn tri giác, đe doạ trực tiếp tính
mạng của bệnh nhân [46], [166]. Độ nặng của suy hô hấp cấp phụ thuộc vào
nhiều yếu tố nh nguyên nhân, vị trí, loại tổn thơng, có hay không tổn
thơng phối hợp và cơ địa của bệnh nhân (Bảng 1.2). Suy hô hấp cấp có thể
đơn giản là hậu quả của tắc nghẽn đờng hô hấp trên do tụt lỡi, đờm rãi hay
máu cục hoặc phức tạp hơn là do chấn thơng ở bộ máy hô hấp hoặc tổn
thơng hệ thần kinh trung ơng. Suy hô hấp cấp còn có thể là hậu quả của
tình trạng suy tuần hoàn trong bệnh cảnh sốc chấn thơng, đau hoặc tăng
nhu cầu chuyển hoá do chấn thơng [75], [158].
Giảm thông khí (tăng hoặc giảm tần số và giảm nặng thể tích lu thông) là
biểu hiện lâm sàng thờng gặp nhất của suy hô hấp cấp do chấn thơng [70],
[158]. Nguyên nhân chủ yếu là do tắc nghẽn đờng thở, tổn thơng ngực-
phổi hoặc tổn thơng thần kinh trung ơng. Giảm hoạt động của hệ thần kinh
trung ơng gây ra giảm tr
ơng lực của lỡi và các cơ của vùng hầu-họng, có
thể gây bít tắc một phần hoặc hoàn toàn đờng hô hấp trên. Khó thở vào sẽ
xảy ra khi chu vi của đờng hô hấp trên bị giảm 70% [158]. Giảm hoạt động
của thần kinh trung ơng cũng đồng nghĩa với việc giảm hoặc mất các phản 8

9
rối loạn trao đổi khí phế nang-mao mạch, phù phổi do thần kinh hoặc nhiễm
trùng nặng [153]. Tần số thở và kiểu thở là những dấu hiệu lâm sàng quan
trọng nhất để chẩn đoán suy hô hấp trong cấp cứu chấn thơng. Dấu hiệu
chắc chắn của suy hô hấp cấp là khi áp lực riêng phần của oxy trong máu
động mạch (PaO
2
) dới 70 mmHg. Tím tái có thể không xuất hiện ở bệnh
nhân chấn thơng có mất máu nhiều, khi Hb < 10 g/l [143], [153], [158].
1.1.3. Rối loạn tuần hoàn

Rối loạn tuần hoàn gặp ở bệnh nhân chấn thơng có thể biểu hiện trên lâm
sàng bằng tụt huyết áp động mạch, tình trạng sốc nặng thậm chí là ngừng
tuần hoàn. Có rất nhiều nguyên nhân của rối loạn tuần hoàn ở bệnh nhân
chấn thơng. Giảm lợng máu tĩnh mạch trở về là bệnh nguyên cơ bản của
rối loạn tuần hoàn do chấn thơng [158]. Đây là hậu quả chủ yếu của tình
trạng giảm khối lợng tuần hoàn chung do mất máu và mất dịch trong hoặc
ngoài cơ thể. Ngoài ra còn có thể do các nguyên nhân chèn ép tim nh tràn
khí màng phổi dới áp lực, tràn máu màng tim cấp, tràn máu nặng màng
phổi, tràn máu hoặc khí trung thất, tăng áp lực quá mức trong ổ bụng hoặc do
các tổn thơng tại thần kinh trung ơng nh chấn thơng tuỷ [158]. Có thể
chia sốc chấn thơng làm 3 nhóm chính trên lâm sàng: sốc mất máu, sốc do
chèn ép tim và sốc tuỷ [126], [140].
1.1.3.1. Sốc mất máu

Sốc chấn thơng là tình trạng mất khả năng của bộ máy tuần hoàn liên quan
với chấn thơng trong việc đảm bảo nhu cầu chuyển hoá của các cơ quan và
tổ chức. Suy tuần hoàn trong sốc gây ra tổn thơng ở mức tế bào từ mức độ
có thể hồi phục đến không hồi phục. Sốc mất máu là loại sốc thờng gặp


xơng và một số tạng bụng [65]. Ngoài ra mạch máu tại các cơ quan quan
trọng (não, tim, thận) còn có khả năng tự điều hòa, lu lợng máu tới các cơ 11
quan này vẫn đợc duy trì khi áp lực tới máu còn trong giới hạn 50 - 150
mmHg.
Ngoài phản ứng giao cảm, một loạt các phản xạ bảo vệ khác cũng đợc khởi
động trong giai đoạn này nh phản xạ áp lực ở quai động mạch chủ
(baroreflexe) làm tăng HAĐM và nhịp tim; phản xạ cảm thụ thể tích nhĩ phải
(volo receptor auriculaires droits) nhằm giữ nớc tại ống thận, làm tăng khối
lợng tuần hoàn [65], [74]; hiện tợng vận chuyển dịch qua lòng mạch nhằm
tái tạo huyết tơng cũng xảy ra nhờ luật Starling và các hormon nh renine-
angiotensine-aldosterone, vasopressine [120].
Hiệu quả của cơ chế bù trừ phụ thuộc chủ yếu vào mức độ và tốc độ mất
máu. Trong thực nghiệm trên súc vật, HA không thay đổi khi làm mất 15%
thể tích máu toàn bộ, HA bắt đầu tụt khi làm mất 15-30% và tụt nặng nếu
làm mất trên 30%, HA bằng 0 khi mất trên 50% và con vật chết khi mất 70%
thể tích máu. Nếu mất máu nặng và ồ ạt cơ chế bù trừ không có khả năng
kéo dài. Thiếu máu ở mức tế bào nhanh chóng xảy ra và sốc chuyển sang
giai đoạn mất bù [10], [107], [108].

Sốc mất bù
Giảm tới máu dẫn đến thiếu oxy tổ chức, toan chuyển hóa và tổn thơng ở
mức tế bào. Tiêu thụ oxy giảm nhanh và mạnh. Khác biệt oxy động-tĩnh
mạch (DavO
2
) tăng cao do chiết xuất oxy tổ chức kém (Smith EE-1964) [65].
Thiếu oxy ở tất cả các cơ quan gây giải phóng các chất hoạt mạch nh
a.lactic, kinin, histamine, serotonine và hoạt chất H, prostaglandine, yếu tố

Lâm sàng: lơ mơ, kích động. Tụt HA, thở nhanh nông, thiểu niệu.
Sốc nặng (mất 40% thể tích máu)
Sinh lý bệnh: giảm tới máu nặng cả ở tim và não
Lâm sàng: hôn mê hoặc kích động, HA tụt nặng, thiếu máu cơ tim, 13
có thể thở chậm hoặc ngừng thở, ngừng tim. Toan chuyển hoá mất
bù, thiếu oxy nặng, rối loạn đông máu.

1.1.3.2. Sốc tuỷ
Sốc tuỷ hay sốc do thần kinh xảy ra ngay hoặc khoảng 60 phút sau chấn
thơng tuỷ, do chèn ép, đụng dập chảy máu hoặc đứt tuỷ sống. Tổn thơng
tuỷ càng nặng, nơi tổn thơng càng ở cao thì sốc càng nặng (Bach YR-1993).
Tổn thơng tuỷ làm mất hoạt tính của hệ thần kinh giao cảm và các phản xạ
bù trừ của tuần hoàn mà vùng tuỷ này chi phối. Tổn thơng tuỷ ở trên đốt
sống ngực 6 (D6) có nguy cơ gây sốc tuỷ [15], [43].
Tụt huyết áp chủ yếu do liệt mạch hay do mất trơng lực giao cảm gây ứ trệ
tuần hoàn tại động mạch, mao mạch và tĩnh mạch (thiếu khối lợng tuần
hoàn tơng đối), giảm máu về tim và giảm lu lợng tim. Mạch chậm là dấu
hiệu đặc trng trong sốc tuỷ, có thể < 50 nhịp/phút, thậm chí ngừng tim đặc
biệt khi kích thích vùng hầu họng hoặc bệnh nhân có thêm thiếu oxy, thiếu
khối lợng tuần hoàn nặng và tụt nhiệt độ. Ngừng tim có thể xảy ra sớm ở
15% bệnh nhân có tổn thơng hoàn toàn tuỷ cổ [26]. Tổn thơng thần kinh
giao cảm cũng làm giảm đáng kể khả năng co bóp của cơ tim do tình trạng
cờng phó giao cảm. Tụt huyết áp trong sốc tuỷ còn có sự đóng góp của tình
trạng mất máu từ ổ gãy của cột sống, có thể lên tới 500-2000 ml trong chấn
thơng tuỷ vùng thắt lng [26].
Rối loạn hô hấp
Chấn thơng tuỷ trên đốt sống cổ 4 gây liệt hoàn toàn các cơ hô hấp trong đó

đợc dùng trong nghiên cứu hồi cứu, hơn nữa không xác định đợc vị trí và
bản chất của tổn thơng. Năm 1966 tổ chức y tế thế giới công bố danh sách
mã số bao gồm định nghĩa và vị trí của các tổn thơng do chấn thơng. Năm
1968, trờng đại học Cornell công bố danh mục trong đó đã mô tả chi tiết 15
hơn tổn thơng và phân loại độ nặng chấn thơng với các mức: Trung bình,
nặng, rất nặng, nguy kịch hoặc chết ngời [134]. Năm 1971 hiệp hội an toàn
giao thông của Mỹ đã công bố thang điểm chấn thơng rút gọn (AIS-
abbreviated injury scale). Đây là thang điểm mô tả đầy đủ các tổn thơng và
cho phép xác định một điểm số chấn thơng vì thế đã đợc sử dụng trong
đánh giá và tiên lợng chấn thơng [134]. Thang điểm này sau này đã đợc
Baker sửa đổi thành bảng điểm đánh giá độ nặng tổn thơng (ISS-injury
severity score) và đã đợc sử dụng rộng rãi trên lâm sàng [19], [20], [101-
106].

Ngày nay các chỉ số đánh giá độ nặng chấn thơng đợc chia làm hai nhóm
chính: Chỉ số phân loại và tiên lợng. Chỉ số phân loại chủ yếu đợc dùng
trong cấp cứu ban đầu: Phân loại nơi tai nạn (Field categorization), chỉ số
chấn thơng (Trauma index), chỉ số chấn thơng sửa đổi (Modified trauma
index), chỉ số độ nặng thơng-tật (Illness-injury severity index), chỉ số phân
loại (Triage index), bảng điểm phân loại (Triage score), và bảng điểm chấn
thơng (Trauma score) [16], [27], [59], [69], [128], [129], [134], [154].
Nhóm chỉ số tiên lợng dựa trên việc đánh giá chi tiết các tổn thơng. Đại
diện cho nhóm chỉ số này là bảng điểm ISS, phơng pháp TRISS [17-21],
[28], [33], [138].
1.2.1. Bảng điểm chấn thơng (TS-Trauma Score)
Bảng điểm chấn thơng đợc mô tả lần đầu tiên bởi H. R. Champion vào
năm 1981 [40]. Đây là bảng điểm đánh giá các rối loạn sinh lý do chấn

1 - 49 mmHg :
0 :
4 điểm
3
2
1
0

Tổng cộng : 1 - 16 điểm
Điểm càng thấp
tiên lợng càng nặng

TS có thể có 15 - 20% âm tính giả (FNR) hoặc dơng tính giả (FPR). Âm
tính giả chủ yếu do tình trạng sinh lý đợc bù trừ một cách đầy đủ, đặc biệt ở
các bệnh nhân trẻ hoặc do đánh giá độ nặng thực hiện ngay sau chấn thơng,
lúc này các rối loạn sinh lý có thể cha kịp xuất hiện. Ngợc lại, dơng tính
giả xảy ra khi rối loạn sinh lý liên quan đến các yếu tố khác hơn là do thiếu 17
khối lợng tuần hoàn, phù não hoặc thiếu oxy, tuổi bệnh nhân [28], [40],
[144].
1.2.2. Bảng điểm chấn thơng sửa đổi (RTS-Revised Trauma Score)
Do độ sâu của nhịp thở và tình trạng tới máu mao mạch là các dấu hiệu
mang nhiều tính chủ quan, khó đánh giá đặt biệt trong cấp cứu vào ban đêm
[37] chính Champion đề nghị nhằm khắc phục các nhợc điểm này (Bảng
1.7). RTS đã thay thế TS trong phân loại và đánh giá độ nặng chấn thơng
trong những năm gần đây nhờ sự đơn giản hơn nhng chính xác hơn [28].
Bảng 1.5: Bảng điểm chấn thơng sửa đổi [37].
Tần số thở HA tâm thu Điểm Glasgow Điểm chung

6 27 0.630
5 22 0.455 18
4 36 0.333
3 9 0.333
2 7 0.286
1 4 0.250
0 134 0.037

1.2.3. Bảng điểm độ nặng tổn thơng chấn thơng (Injury Severity Score)

Bảng điểm tổn thơng do chấn thơng (ISS) đánh giá các tổn thơng giải
phẫu do chấn thơng đợc Baker và cộng sự xây dựng dựa trên thang điểm
AIS (Abbreviated Injury Scale) của Hiệp hội Y học Mỹ về an toàn giao
thông. Qua nhiều năm sử dụng, ISS đã đợc sửa đổi, hoàn thiện nhiều lần:
ISS 80, ISS 85, ISS 98, ISS 2005 [13], [19], [20], [62], [146], [154].
Việc đánh giá bằng thang điểm này chỉ có thể chính xác khi tổn thơng giải
phẫu đợc xác định. Tổn thơng giải phẫu đợc xác định dựa trên cả lâm
sàng, XQ, siêu âm hay CT Scanner, chẩn đoán trong mổ, thậm chí kết quả
mổ tử thi. Vì vậy ISS ít có giá trị trong phân loại độ nặng ở giai đoạn đầu nh
TS. Ngợc lại ISS rất có giá trị đối với việc tiên lợng lâu dài, các biến
chứng trong quá trình điều trị [19], [28].
Theo AIS 1998&2005, tổn thơng giải phẫu đợc chia làm 6 vùng:
Sọ não và cổ,
Hàm mặt,
Ngực,
Bụng,
Các chi,

đội, C1-2, đụng dập tuỷ có dấu hiệu TK thoáng qua. Tổn
thơng ĐM cảnh gốc, mất máu < 20%. Rách, thủng khí quản.

4
Nặng, đe doạ
tính mạng
CTSN có mất tri giác 6-24h, vỡ xơng sọ phức tạp, rách màng
cứng, lún sọ lớn và sâu > 2cm. Máu tụ NMC, DMC dày 0.6-
1cm, dập não, MT trong não 1-4cm (> 30ml), CM não thất,
rách xoang TM, đụng dập tuỷ liệt tuỷ không hoàn toàn. Tổn
thơng ĐM cảnh gốc mất máu > 20% hoặc kèm theo tổn
thơng TK. Đứt rời khí quản

5
Nghiêm trọng,
nguy cơ tử vong
cao
Tổn thơng não nặng, hôn mê > 24 giờ, tổn thơng thân não,
máu tụ NMC, DMC dày > 1cm (> 50 ml). Chấn thơng tuỷ
dới C3 liệt tuỷ hoàn toàn. Đứt rời, phá huỷ nặng cấu trúc hầu
họng

6
Không có khả
năng sống sót
Chấn thơng đè nát, phá huỷ nặng não và các thành phần
trong hộp sọ. Chấn thơng dập nát tuỷ tại C3 hoặc cao hơn,
liệt tuỷ hoàn toàn
CTSN có mất tri giác: Không làm theo lệnh và không mở mắt khi kích thích đau và lời
nói không thích hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status