Nghiên cứu hệ thống phần mềm mã nguồn mở và phát triển ứng dụng bằng phần mềm mã nguồn mở tại bộ công thương - Pdf 13


CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRUNG TÂM TIN HỌC
o0o
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

“NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ VÀ PHÁT
TRIỂN ỨNG DỤNG BẰNG PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ TẠI BỘ
CÔNG THƯƠNG”

Mã số :
Cơ quan chủ trì : Trung tâm Tin học - Cục TMDT & CNTT
Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài : CN. Nguyễn Hữu Thọ


2.7.4. Sự tương thích với các hệ thống nguồn đóng 22
2.7.5. Chưa chú ý nhiều đến tính tiện dụng 23
2.8. Tình hình ứng dụng phần mềm nguồn mở trên thế giới và tại Việt Nam 24
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ 29
1.1. Phần mềm cho hạ tầng và dịch vụ mạng 29
2
1.1.1. Hệ điều hành 29
3.1.2. Web server 32
3.2. Phần mềm cho người dùng văn phòng 32
3.2.1. Bộ soạn thảo văn phòng – Open Office 32
3.2.2. Phần mềm quản lý dự án – Open Workbench 36
3.2.3. Phần mềm nén file – 7 ZIP 37
3.2.4. Phần mềm xử lý đồ họa - The Gimp 39
3.2.5. Trình duyệt Web – Mozila Firefox 41
3.2.6. Phần mềm quản lý thư điện tử cá nhân – Thunderbird 42
3.2.7. Bộ từ điển – StarDict 43
3.3. Phần mềm cho người phát triển ứng dụng 43
3.3.1. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu – MySQL 43
3.3.2. Ngôn ngữ lập trình PHP 46
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG PHẦN MỀM NGUỒN MỞ
TẠI BỘ CÔNG THƯƠNG 48

4.1. Hiện trạng sử dụng phần mềm tại Bộ Công Thương 48
4. 2. Yêu cầu về sử dụng phần mềm bản quyền và ứng dụng phần mềm nguồn mở
tại Bộ Công Thương 51

4.3. Lợi ích và nguyên tắc ứng dụng nguồn mở cho Bộ Công Thương 52
4.4. Phạm vi ứng dụng phần mềm nguồn mở tại Bộ Công Thương 53
4.4.1. Phần mềm nguồn mở ứng dụng trong công tác văn phòng 53
4.4.2. Phần mềm nguồn mở ứng dụng cho phát triển phần mềm 55

định số 6228/QĐ-BCT, ngày 10 tháng 12 năm 2009 về việc đặt hàng thực hiện các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2010 cho Trung tâm Tin học thực hiện nghiên
cứ
u.
1.2. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay, đặc biệt là ứng
dụng hệ thống Công nghệ Thông tin trong công việc quản lý hành chính. Công nghệ
thông tin đã trở thành một công cụ đắc lực, nó giúp giảm chi phí về thời gian và tiền
của, mang lại sự thuận tiện.
Mục tiêu nghiên cứu xuyên suốt của đề tài là làm sao nắm b
ắt được tổng quan
về phần mềm mã nguồn mở, nghiên cứu các phần mềm mã nguồn mở có tính khả
thi trong việc triển khai các ứng dụng phục vụ công tác tin học hóa quản lý hành
chính nhà nước tại Bộ Công Thương. Kết quả phải đạt được là:
- Báo cáo nghiên cứu tổng quan về phần mềm mã nguồn mở.
- Báo cáo đánh giá hiện trạng sử dụng phần mềm nguồ
n mở trong Bộ Công
Thương và đề xuất phạm vi ứng dụng các phần mềm nguồn mở trong Bộ
Công Thương.
- Xây dựng một ứng dụng bằng mã nguồn mở, áp dụng thực tế.
1.3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu.
Đề tài “Nghiên cứu hệ thống phần mềm mã nguồn mở và phát triển ứng
dụng bằng phần mềm mã nguồn mở t
ại Bộ Công Thương’’ với mục đích chính đưa
phần mềm mã nguồn mở vào sử dụng trong cơ quan Bộ phục vụ công tác quản lí
hành chính nhà nước. Do đó, phạm vi nghiên cứu và thực hiện đề tài là trong cơ
quan Bộ Công Thương.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm thực hiện đề tài thu thập nguồn tài
liệu từ các các đơn vị, tổ chức liên quan. Áp dụng các điểm mạnh của phầ
n mềm

Tự do ở đây hiểu theo nghĩa tự do “thay đổi mã nguồn” không hẳn theo nghĩa tự
do về giá cả (hay miễn phí). Đây chính là tiền đề tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của
phần mềm nguồn mở sau này.
Người được coi là khai sinh ra ph
ần mềm mã nguồn mở là Richard Stallman, làm
việc ở phòng thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo của MIT-Mỹ. Ông là người đầu tiên thấy
được sức mạnh của các phần mềm “tự do”. Ý tưởng của ông là:
Không giống như các sản phẩm khác, phần mềm cần giải phóng khỏi những hạn
chế như sao chép hay chỉnh sửa nhằm tạo nên những chương trình máy tính hiệu
năng và tốt hơn.
Công lao chính của ông là tạo ra gi
ấy phép nguồn mở GNU- viết tắt là GPL (năm
1983), chủ yếu nhằm bảo vệ quyền cho phép bất kỳ ai cũng có thể sử dụng, sửa đổi
và phân phối lại mã nguồn của chương trình gốc và các chương trình dẫn xuất.
Từ năm 1984, dự án GNU và Tổ chức Phần mềm Tự do (FSF - Free Software
Foundation) đã thực hiện một loạt chương trình phần mềm nguồn mở. Thông qua
dự án GNU c
ủa FSF, những công cụ lập trình như Emacs, GCC, GNU C++, GNU
Ada, GNU Pascal, G77, F2C v.v. và nhiều phần mềm khác đã đạt được những thành
công nhất định. Chính đề án GNU và giấy phép mã nguồn mở GPL là nền tảng then
chốt cho sự phát triển của thế giới mã nguồn mở sau này.
7
1.2. Khải niệm phần mềm nguồn mở
Một cách ngắn gọn, chương trình phần mềm nguồn mở là những chương trình
mà quy trình cấp phép sẽ cho người dùng quyền tự do chạy chương trình theo bất
kỳ mục đích nào, quyền nghiên cứu và sửa đổi chương trình, quyền sao chép và tái
phát hành phần mềm gốc hoặc phần mềm đã sửa đổi mà không phải trả tiền bản
quyề
n cho những người lập trình trước.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phần mềm nguồn mở, nhưng nổi bật nhất

Như vậy phần mềm tự do là những chương trình mang lại cho người dùng
bốn quyền tự do: tự do sử dụng, tự do nghiên cứu, tự do sửa chữa và tự do
phân phối.
• OSI định nghĩa ra phần mềm nguồn mở không chỉ có nghĩa là truy cập vào
mã nguồn. Các điều khoản phân phối của phần mềm nguồn mở có thể tham
khảo phụ lục.
Ý t
ưởng chủ đạo đằng sau phần mềm nguồn mở rất đơn giản: khi người lập
trình có thể đọc, lưu hành, và sửa đổi mã nguồn của một phần mềm, thì
phần mềm đó ngày càng phát triển. Người lập trình sẽ đọc, điều chỉnh và
sửa các lỗi. Và quá trình này có thể diễn ra với một tốc độ rất nhanh so với
quy trình của việc phát triển phần mề
m theo phương thức truyền thống.
OSI coi trọng giá trị kỹ thuật của việc tạo những phần mềm mạnh, có độ tin
cậy cao, và phù hợp với giới kinh doanh hơn là FSF. OSI ít quan tâm tới
những giá trị đạo đức của phần mềm nguồn mở, và chú ý nhiều hơn vào
những ích lợi thực tiễn của phương pháp xây dựng và quảng bá phần mềm.
Do vậy, khái niệm phần mềm nguồ
n mở không thể chuẩn xác mà chủ yếu muốn
nói đến tính pháp lý của việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở. Hầu hết hần
mềm tuân theo định nghĩa của OSI thì cũng được bao trùm bởi định nghĩa của FSF.
Sự khác nhau chính giữa 2 xu hướng phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở là
giá trị của chúng, cách chúng nhìn vào thế giới. Đối với xu hướng phần mềm nguồn
mở, phần mềm không tự do là một giải pháp không tối ưu trong khi đối với xu
hướng phần mềm tự do, phần mềm không tự do là một vấn đế của xã hội, và giải
quyết nó là chuyển sang phần mềm tự do. Hầu hết các phần mềm nguồn mở cũng
coi là phần mềm tự do và ngược lại. Do đó, trong đề tài này, chúng tôi thống nhất
một tên gọi chung cho những phầ
n mềm trên là “phần mềm nguồn mở”.
Mỗi một phần mềm mã nguồn mở được công bố và gắn với một loại giấy phép

g. Phần mềm có thể bán để thu lợi
nhuận
x x x x x
h. Mã nhị phân có thể được nhân
bản nếu người sử dụng muốn
x x x x x
i. Mã nhị phân có thể phân phối lại
nếu muốn
x x x x x
j. Mã nhị phân có thể được sử dụng
nếu người sử dụng muốn
x x x x x
k. Người sử dụng mới luôn có mã
nguồn gốc
x x
l. Người sử dụng mới có toàn quyền
sửa đổi toàn bộ mã nguồn gốc
x x
10
m. Người sử dụng mới có toàn
quyền phân phối lại mã nguồn
x x
n. Mã nhị phân có thể được phát
hành mà không có mã nguồn
x x x
o. Mã nguồn có thể có nhiều dạng
bản quyền khác nhau
x
p. Mã nguồn có thể được tích hợp
vào trong các sản phẩm nguồn đóng

quyền khai thác thương mại sản phẩm. Tác giả sử dụng luật bản quyền để
bảo đảm các quyền đó không bao giờ bị vi phạm đối với tất cả mọi người,
trên mọi phần m
ềm có sử dụng mã nguồn của mình.
• Có một hiệu ứng xảy ra trong giới của các phần mềm tuân theo giấy phép
GPL thường được gọi là hiệu ứng virus (viral effect). Nó biến tất cả các phần
mềm có dùng mã nguồn GPL cũng biến thành phần mềm GPL. Trên thực tế
điều này có ý nghĩa: bất kỳ tác giả nào sử dụng dù chỉ một phần rất nhỏ mã
nguồn GPL trong chương trình của mình cũ
ng phải công bố chương trình đó
dưới điều kiện GPL. Điều kiện này quy định ví dụ:
o Mọi phần mềm GPL đều phải công bố mã nguồn của mình rộng rãi
công khai và phải tạo điều kiện cho mọi người truy cập được mã
nguồn ấy (thông qua web hoặc qua việc bán CD giá rẻ)
o Giữ nguyên mọi dòng chú thích về nguồn gốc tác giả, bản quyền của
h
ọ cũng như điều kiện được áp dụng đối với phần mềm (trong một file
có tên LICENSE)
o Cấm việc bán mã nguồn nhưng cho phép kinh doanh chương trình
được tạo ra từ mã nguồn ấy hoặc là các dịch vụ hỗ trợ liên quan.
2.4. Cách xây dựng phần mềm nguồn mở
Trong những năm gần đây, sự bùng nổ thông tin do Internet mang lại đã tạo điều
kiện cho sự phát triển c
ủa cộng đồng phần mềm nguồn mở. Các lập trình viên trên
khắp thế giới có thể dễ dàng trao đổi, đánh giá, nhận xét và cùng góp sức xây dựng
các chương trình phần mềm nguồn mở mà không bị những giới hạn bởi khoảng
cách địa lý và các vấn đề liên quan khác. Mô hình xây dựng phần mềm nguồn mở
là một mô hình độc đáo và nó được hiện thực hoá. Mô hình này khác với các
phương thức làm phần mềm truy
ền thống ở những điểm cơ bản sau:

lượng lớn các nhà lập trình trên toàn thế giới.
• Tiếp thu kế thừa: Với việc có sẵn mã nguồn để tiếp tục phát triển các ứng
dụng thì thời gian để hoàn thành một chương trình sẽ giảm đi
đáng kể. Nhiều
dự án phần mềm nguồn mở dựa trên các phần mềm là kết quả của những dự
án khác để cung cấp những chức năng cần thiết.
o Ví dụ, thay vì viết chương trình bảo mật riêng cho mình, dự án máy
chủ Apache đã sử dụng lại chương trình của dự án OpenSSL, do đó
mà tiết kiệm được hàng ngàn giờ viết mã hoá và thử nghiệm. Trong
trường hợ
p mã nguồn của các chương trình nguồn mở khác không thể
tích hợp trực tiếp vào chương trình , thì việc có sẵn các mã nguồn tự
do cung cho phép nhà lập trình nghiên cứu cách thức những dự án
khác giải quyết một vấn đề phát sinh tương tự.
• Quản lý chất luợng tốt hơn: Do có một lực luợng đông đảo những nhà lập
trình giỏi tham gia sử dụng và kiểm tra mã nguồn của các chương trình
nguồ
n mở, các lỗi chương trình sẽ sớm được phát hiện và sửa nhanh hơn.
Các ứng dụng có mã nguồn đóng cũng nhận được các thông báo lỗi từ phía
người dùng, nhưng do người sử dụng không có quyền tiếp cận mã nguồn, họ
13
chỉ có thể báo các triệu chứng lỗi chứ không thể chỉ ra nguồn gốc. Các nhà
lập trình phần mềm nguồn mở đã kết luận rằng khi người sử dụng có quyền
tiếp cận mã nguồn thì họ không những thông báo các trục trặc mà còn chỉ ra
đích xác nguyên do, và trong một số trường hợp, cung cấp luôn giải pháp.
Ðiều này giúp giảm đáng kể thời gian lập trình và kiểm tra chất luợng.
• Gi
ảm chi phí duy trì: Việc duy trì mọi phần mềm đều đòi hỏi một chi phí
bằng hoặc lớn hơn chi phí lập trình ban đầu. Khi một tổ chức tự bỏ tiền ra
duy trì phần mềm, việc này có thể trở nên gánh nặng chi phí cực lớn. Tuy

còn nhiều lý do khác khiến các tổ chức nhà nước và tư nhân ngày càng ứng dụng
14
phần mềm nguồn mở một cách sâu rộng. Các điểm mạnh của phần mềm nguồn mở
bao gồm:
2.6.1. Tổng chi phí sở hữu thấp
Tổng chi phí sở hữu (Total cost of ownership - TCO) là một thước đo quan trọng
trong việc quyết định lựa chọn ản phẩm nào để sử dụng. Chi phí sử dụng phần mềm
không chỉ bao gồm chi phí về việc mua bản quyền sử dụng mà nó còn bao gồm các
chi phí triển khai, hỗ trợ, bảo trì, đào tạo và huấn luyện người dùng.
Theo nhiều nghiên cứu của các tổ chức độc lập khác nhau thì tổng chi phí để s

hữu phần mềm nguồn mở thấp hơn so với tổng chi phí sở hữu phần mềm nguồn
đóng thương mại cùng chức năng. Các phần mềm nguồn mở có nhiều lợi thế về giá
thành trong nhiều hạng mục khác nhau, kết quả là trong nhiều trường hợp chúng sẽ
có tổng chi phí sở hữu thấp nhất:
• Chi phí đầu tư ban đầu thấp. Chi phí ban đầu t
ư ban đầu cho các phần
mềm nguồn mở thấp. Phần mềm nguồn mở không phải là miễn phí, bạn vẫn
phải trả tiền cho các tài liệu, dịch vụ hỗ trợ, đào tạo và quản trị hệ thống.
Trong nhiều trường hợp các phần mềm nguồn mở có thể nhận được bằng
cách download chúng miễn phí. Tuy nhiên, phần lớn những người dùng
thường trả một kho
ản chi phí nhỏ để có được các bản đóng gói các chương
trình, các tài liệu hỗ trợ v.v. phân phối qua các đĩa CD-ROM. Và chi phí để
có được những thứ này thường rất nhỏ so với chi phí khi mua các phần mềm
nguồn đóng thương mại.
• Chi phí nâng cấp, bảo trì thấp hơn: Chi phí nâng cấp, bảo trì các hệ thống
phần mềm nguồn mở thường thấp hơn rất nhiều so với các sản phẩm thươ
ng
mại. Ví dụ như việc nâng cấp một hệ thống Microsoft có chi phí bằng xấp xỉ

ệ thống thương mại. Ngược lại, với hầu hết các bản phân phối của
GNU/Linux, bạn có thể cài đặt tùy thích các bản copy mà không phải trả
thêm tiền và không bị giới hạn hiệu năng được xây dựng bên trong phần
mềm. Điều này có thể cần thêm chi phí hỗ trợ nhưng bạn có thể tùy chọn các
nhà hỗ trợ.
2.6.2. Độ an toàn
Với sự bùng nổ của giới hacker trên Internet như hiện nay thì không có một hệ
điều hành nào được coi là an toàn một cách hoàn hảo. Định lượng để đánh giá độ
an toàn của một hệ thống là rất khó. Độ an toàn của một hệ thống phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau như phương pháp triển khai, thiết kế chương trình và thị
trường mục tiêu. Những yếu tố này có thể tác động rấ
t nhiều đến tính an toàn của
một hệ thống và do đó làm nó dễ hoặc khó bị tấn công. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng hệ điều hành dựa trên phần mềm nguồn mở ưu việt hơn các hệ điều hành
đóng xét về phương diện này. Theo nghiên cứu của Tổ chức đánh giá an ninh Công
nghệ thông tin phi lợi nhuận Honeynet Project cho thấy trung bình ba tháng các hệ
thống Linux mới rơi vào tình trạng b
ị tấn công, trong khi đó một hệ thống chạy
Windows chưa nâng cấp có thể bị đánh sập sau vài tiếng. Cũng theo một nghiên cứu
thực hiện vào tháng 5 năm 2004 được thực hiện bởi Sandvine, có tới 80% lượng
spam xuất phát từ những máy tính chạy Windows bị nhiễm trojan.
Có nhiều nguyên nhân giúp cho các phần mềm nguồn mở có độ an toàn cao, trong đó
có ba lý do sau thường được đưa ra để giải thích vì sao phần mềm nguồn mở
ưu
việt hơn về độ an toàn:
16
• Mã nguồn được phổ biến rộng rãi và công khai: Việc mã nguồn được phổ
biến rộng rãi giúp cho người lập trình và người sử dụng dễ phát hiện và khắc
phục các lỗ hổng an toàn truớc khi chúng bị lợi dụng. Ða phần những lỗi hệ
thống của phần mềm nguồn mở là những lỗi được phát hiện trong quá trình

dụng giao diện
đồ họa.
2.6.3. Tính ổn định và tin cậy
Hệ thống các sản phẩm phần mềm nguồn mở được thiết kế theo quy trình khác
với việc xây dựng các phần mềm nguồn đóng thương mại và có tính ổn đinh và độ
tin cậy cao. Có khá nhiều giai thoại về độ tin cậy của phần mềm nguồn mở hoạt
động năm này qua năm khác mà không cần duy trì bảo duỡng. Tuy nhiên, để khẳng
định tính ổn định và độ tin cậy của các h
ệ thống phần mềm nguồn mở cần phải có
17
những nghiên cứu định lượng. Sau đây là một số nghiên cứu cho đến nay đã thực
hiện được
Theo nghiên cứu của IBM
1
, các hệ thống của GNU/Linux có tính ổn định và
độ tin cậy cao: IBM chạy một chuỗi các ứng dụng cực nặng để kiểm tra trong vòng
từ 30 đến 60 ngày và thấy rằng nhân Linux và các thành phần lõi khác của hệ điều
hành – bao gồm các thư viện, các trình điều khiển thiết bị, các hệ thống file, mạng,
IPC và trình quản lý bộ nhớ đã hoạt động ổn định và hoàn thành tất cả các tác vụ
trong thờ
i gian chạy mà không có lỗi hệ thống nào xảy ra. Hiệu năng của hệ thống
Linux không giảm trong khi chạy chúng trong khoảng thời gian dài. Nhân linux sử
dụng các tài nguyên phần cứng một cách hợp lý (CPU, bộ nhớ, đĩa) trên hệ thống
SMP, hệ thống Linux sử dụng toàn bộ hiệu năng của CPU (hơn 99%) và hiệu suất
sử dụng bộ nhớ rất tốt. Ngoài ra hệ thống Linux còn xử lý các trường hợp quá tải
một cách hợp lý.
Một nghiên cứu
2
được thực hiện bởi Coverity đã chỉ ra rằng Linux kernel
có ít lỗi hơn so với trung bình các hệ thống công nghiệp khác. Converity thực

ty hay chính phủ, sự linh hoạt và quyền tự do chuyển đổi giữa các phần
mềm, hệ điều hành và nhà cung cấp.
• Còn chuẩn đóng thì khiến người sử dụng chỉ có thể lựa chọn các phần mềm
của một công ty duy nhất và làm cho họ ngày càng lệ thuộc vào công ty này,
khi mà toàn bộ dữ liệu đã được lưu theo đị
nh dạng riêng của nhà cung cấp
và chi phí để chuyển chúng sang chuẩn mở sẽ rất tốn kém.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các phần mềm nguồn mở trên thế giới,
các chính phủ, các tổ chức và các công ty thường phát triển các hệ thống thông tin
dựa trên các chuẩn mở, chứ không phải là các chuẩn đóng của từng công ty, từng
tập đoàn, từng nhà cung cấp riêng biệt. Một trong những tổ chức là Free Standards
Group
4
chuyên nghiên cứu về các chuẩn mở và cung cấp các chứng chỉ cho các hệ
thống dựa trên Linux phù hợp với các chuẩn mở.
Một ưu điểm nữa của các phần mềm nguồn mở là chúng hầu như luôn sử dụng
các chuẩn mở. Có hai lý do chính cho việc này:
• Sẵn có mã nguồn: Với mã nguồn được phổ biến công khai, người sử dụng
có thể tái thiết kế và tích hợp lại b
ộ chuẩn của một ứng dụng. Mọi khả năng
tuỳ biến đều thể hiện rõ trong mã nguồn, khiến cho không ai có thể giấu một
chuẩn riêng trong một hệ thống phần mềm nguồn mở. Còn với các phần
mềm đóng thì việc tái thiết kế sẽ khó hơn nhiều và trong một số trường hợp
các mã còn được viết để cố tình đánh lạc hướng ngườ
i dùng.
• Chủ động tương thích chuẩn: Khi đã có những chuẩn được thừa nhận rộng
rãi, ví dụ như HyperText Markup Language (HTML), thì các dự án phần
mềm nguồn mở luôn chủ động bám sát những chuẩn này. Tính tương thích
cao với các chuẩn hiện hành có được là do tập quán phát triển phần mềm
nguồn mở đề cao việc chia sẻ và phối hợp giữa nhiều ứng dụng khác nhau.

công nghiệp phần mềm của Việt Nam nói riêng. Qua đó sẽ hình thành đội ngũ cán
bộ kỹ thuật có năng lực, làm chủ công nghệ và phát huy tính sáng tạo trong ứng
dụng và phát triển phần mềm nguồn mở.
Theo báo cáo của Viện kinh tế tin học quốc tế
, mối quan hệ giữa mức tăng về
đội ngữ lập trình phần mềm nguồn mở và năng lực đổi mới của một nền kinh tế là
tỉ lệ thuận với nhau. Có ba lý do chính nhằm giải thích hiện tuợng này:
• Rào cản gia nhập thị trường thấp: Phần mềm nguồn mở thường được
khuyến khích sửa đổi và lưu hành tự do, rất dễ tìm, và d
ễ học hỏi. Phần
mềm nguồn mở cho phép các nhà lập trình phát huy kiến thức và những
nhân tố hiện có để tiếp tục sáng tạo và phát triển các phần mềm mới, giống
như phương pháp tiến hành nghiên cứu cơ bản.
• Phần mềm nguồn mở là một hệ thống đào tạo rất hiệu quả: Bản chất
mở của phần mềm nguồn m
ở là cho phép người học có thể tìm hiểu và thí
nghiệm với các phần mềm mà hầu như không gây tốn kém trực tiếp cho xã
hội. Tương tự, một sinh viên có thể khai thác những kiến thức vô tận từ
mạng lưới phối hợp phát triển phần mềm kiểu này trên toàn cầu, bao gồm cả
những kho lưu trữ đồ sộ các kiến thức kỹ thuật và phương tiện trao đổi tương
tác.
• Phần mềm nguồn mở là nguồn hình thành nên các chuẩn: Những phần
mềm này thường trở nên những chuẩn tự thân (de facto standard), do được
sử dụng rộng rãi trong một khu vực hay ngành kinh tế nhất định. Khi tham
20
gia vào quá trình xây dựng chuẩn cho một ứng dụng FOSS, địa phương liên
quan sẽ đảm bảo được rằng chuẩn đó phù hợp với các đặc điểm văn hoá và
như cầu thực tế của địa phương.
Phương pháp tiếp cận xây dựng phần mềm nguồn mở không chỉ thúc đẩy
sáng tạo và đổi mới, mà còn tạo điều kiện cho việc phổ biến những k

doanh nghiệp. Một trong những lối thoát cho các doanh nghiệp là chuyển đổi qua
các nền tảng nguồn mở cũng như trong quá trình lựa chọn các công nghệ, nền tảng
phát triển phải chọn những sản phẩm phần mềm không vi phạ
m quyền sở hữu trí tuệ.
Quốc gia nào yếu trong việc thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ kém hấp
dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đối tác nước ngoài khi ký kết các hợp đồng
với các doanh nghiệp đều yêu cầu các doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ quyền sở
21
hữu trí tuệ. Việc gia nhập WTO và khả năng tiếp cận những lợi ích mà tổ chức này
mang lại bị ảnh huởng khá nhiều bởi mức độ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà một
quốc gia đạt được. Ngoài ra, nạn sao chép phần mềm còn gây hại cho sự phát triển
của nền công nghiệp phần mềm nội địa, do các nhà lập trình địa phương giờ đây
không còn
động cơ để xây dựng những phần mềm bản địa.
2.6.7. Vấn đề bản địa hoá
“Bản địa hoá là thích ứng một sản phẩm, làm cho nó phù hợp về mặt ngôn ngữ
và văn hoá với thị trường mục tiêu (quốc gia hoặc địa phương), nơi sản phẩm được
tiêu thụ và sử dụng”.
Bản địa hoá là một trong những lĩnh vực nơi phần mềm nguồn mở tỏ rõ ưu
thế của mình. Người sử dụng phần mềm nguồn mở có th
ể tự do sửa đổi để phần
mềm trở nên thích ứng với những nhu cầu riêng biệt của một khu vực văn hoá đặc
thù, bất kể quy mô kinh tế của khu vực đó. Chỉ cần một nhóm những người có đủ
trình độ kỹ thuật là đã có thể tạo ra một phiên bản nội địa ở mức độ thấp cho bất
kỳ phần mềm nguồ
n mở nào. Việc xây dựng một hệ điều hành được bản địa hoá
hoàn chỉnh, mặc dù không đơn giản, nhưng ít ra cũng là khả thi. Đã có rất nhiều
quốc gia trên thế giới đã bản địa hoá thành công các hệ điều hành nguồn mở để sử
dụng, đặc biệt là các nước ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Nhật Bản,
Trung Quốc… Tại Việt Nam, có nhiều dự án khác nhau

giúp đáp ứng phần nào nhu cầu của th
ị trường cao cấp, nhưng thị trường đành cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hầu như vẫn bị bỏ trống. Những phần mềm cơ bản,
tiện lợi cho người dùng cho đến nay vẫn chưa có nhiều các phiên bản phần mềm
nguồn mở tương đương.
Việc thiếu các phần mềm đặc thù phục vụ cho các doanh nghiệp có nguyên nhân là
do thiếu những người vừa giỏi v
ề kỹ thuật vừa gỏi về chuyên môn nghiệp vụ kinh
doanh. Ða số các phần mềm nguồn mở hiện hành được tạo ra bởi những người có
chuyên môn về mặt kỹ thuật, đưa ra các giải pháp khi gặp bức xúc khi gặp
phải vấn đề nào đó trong quá trình phát triển phần mềm. Những giải pháp như thế
thường mang nặng tính kỹ thuật, mà không phải là những giải pháp phục vụ
cho nghiệp vụ kinh doanh.
2.7.3. Không có cam kết bắt buộc phải hoàn thành một sản phẩm cụ thể
Có những dự án về phần mềm nguồn mở sinh ra và chết đi hoặc biến mất dần vì
không thể tìm được kinh phí đầu tư, không có nhà tài trợ hoặc không đủ lập trình
viên tham gia. Cũng có các trường hợp khi dự án đã tương đối phổ biến, nhưng sự
phát triển tiếp tục của dự án đó có thể bị bỏ dở để tiến hành các dự án khác hoặc dự
án đó
được chuyển giao do một nhóm khác không nắm rõ được nó và ít nhiệt huyết
hơn đảm nhiệm.
2.7.4. Sự tương thích với các hệ thống nguồn đóng
Các phần mềm nguồn mở, nhất là khi cài trên máy để bàn, thường không hoàn
toàn tương thích với phần mềm đóng. Nguyên nhân của vấn đề này là do các phần
mềm nguồn đóng luôn giữ kín mã nguồn và các chuẩn đóng của họ. Với những tổ
chức đã đầu tư nhiều cho việc thiết lập các định dạng lưu trữ dữ liệu và ứng dụng
phần mềm đóng, việc c
ố gắng tích hợp những giải pháp phần mềm nguồn mở có thể
23
sẽ rất tốn kém. Ðến lúc nào đó, khi các công ty đã chuyển từ hệ thống chuẩn đóng

quan nhà nước và doanh nghiệp, ta thấy rằng ưu điểm của phần
mềm nguồn mở là rất lớn, còn những khó khăn hạn chế có thể dần dần được khắc
phục với sự nỗ lực của cộng đồng tin học cũng như của cơ quan quản lý và toàn xã
hội. Vì vậy, trong thời gian tới chúng ta cần nhận thức đúng những thuận lợi và khó
kh
ăn đối với từng vấn đề cụ thể để đề xuất một giải pháp đúng đắn và khả thi. Đây
chính là một nội dung cần phải giải đáp trong quá trình xây dựng và thực hiện kế
hoạch triển khai và khuyến khích dùng phần mềm nguồn mở.
24
2.8. Tình hình ứng dụng phần mềm nguồn mở trên thế giới và tại Việt Nam
Sự phát triển của phần mềm nguồn mở thu hút được sự chú ý và đầu tư của các tổ
chức và cá nhân trên thế giới cũng như là tại Việt Nam. Các thông tin dưới đây
nhằm tạo ra niềm tin cho việc sử dụng và triển khai phần mềm nguồn mở.
Trên thế giới
• Chính phủ Pháp quyế
t định cài đặt phần mềm nguồn mở cho các máy tính để
bàn trực thuộc bộ máy hành chính. Đây là một phần trong dự án ADELE,
nhằm tin học hoá các khâu hành chính từ 2004 cho đến năm 2007.
• Audi là một trong những hãng chế tạo ôtô Đức nổi tiếng thế giới hiện đang
chạy hệ thống mô phỏng tai nạn (130 máy chủ) và hệ thống tính toán khí
động học (80 máy chủ) dùng hệ điều hành Novell SUSE Linux Enterprise
Server.
• Trung tâm dữ
liệu của hãng chế tạo ôtô BMW hiện đang chạy hệ điều hành
Novell SUSE Linux Enterprise, phần mềm ảo hóa nguồn mở Xen trên các
máy chủ x86 có bộ xử lý lõi kép trang bị công nghệ ảo hóa của Intel.
• Peugeot Citroen là hãng chế tạo ôtô lớn thứ hai châu Âu đã quyết định trang
bị 2.500 máy chủ SUSE Linux Enterprise Server và 20.000 máy tính cá nhân
dùng SUSE Linux Enterprise Desktop.
• Một số ngân hàng hàng đầu thế giới như Credit Suisse, Deutsche Bank,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status