Cải cách tiền lương chính là đầu tư tốt cho con người và xã hội
Trịnh Quang Khải
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Số lượng người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước ở nước ta là rất lớn và đối
tượng cũng rất đa dạng, bao gồm:
- Cán bộ công chức được tuyển dụng, được bổ nhiệm và được dân bầu thuộc các
cơ quan hành chính quản lý Nhà nước, các cơ quan Đảng, đoàn thể (khoảng 38
vạn người), các cơ quan sự nghiệp- Giáo dục, y tế, khoa học. . . (khoảng 100 vạn
người).
- Cán bộ lãnh đạo, công chức chuyên môn nghiệp vụ và nhân viên thuộc các doanh
nghiệp Nhà nước.
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên, hạ sỹ quan, chiến sỹ thuộc
lực lượng vũ trang ( quân đội, lực lượng cơ yếu, công an)
- Cán bộ hưu trí mất sức ( 1.635.000 người trước năm 1995)
- Người có công với cách mạng (4,1 triệu người)
- Cán bộ xã phường, cán bộ y tế xã phường, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
(64 vạn người).
Cải cách tiền lương là cả vấn đề kinh tế- chính trị- xã hội. Nó đụng chạm đến đời
sống số đông quần chúng thuộc mọi tầng lớp, nó tác động đến mọi cấp mọi ngành,
nó ảnh hưởng đến tâm tư từng cán bộ, đảng viên. Vì vậy đòi hỏi Đảng và Nhà
nước phải tổng kết thực tiễn để xây dựng một đề án cải cách tiền lương khoa học,
đáp ứng được lòng mong đợi của mọi tầng lớp nhân dân.
Thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách tiền lương, đã
quan tâm cải cách tiền lương nhằm nâng cao mức sống của người lao động. Từ
năm 1957 đến 1993, Nhà nước đã 3 lần cải cách tiền lương. Riêng từ năm 1993
đến nay đã 4 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu. Có thể nói đề án tiền lương năm
1993 là bước tiến quan trọng về nhận thức đối với tiền lương trong điều kiện cơ
chế thị trường. Nó đã góp phần xứng đáng vào sự thành công to lớn của nước nhà
trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, sau gần 10 năm
vận hành, đề án tiền lương năm 1993 không còn phù hợp với tình hình của đất
nước, khi mà nền kinh tế phát triển hơn, thu nhập quốc dân tăng nhanh, nhu cầu
chức theo hướng tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương; điều chỉnh tiền lương tương ứng
với nhịp độ tăng thu nhập trong xã hội; hệ thống thang bậc lương đảm bảo tương
quan hợp lý, khuyến khích người có tài, người làm việc giỏi”. Trước hết phải quán
triệt quan điểm coi nguồn lực con người là yếu tố căn bản đảm bảo sự phát triển
nhanh và bền vững của đất nước. Chi phí cho tiền lương chính là chi phí cho việc
bồi đắp và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người. Trả lương chính là đầu tư cho
con người, đầu tư cho sự phát triển của xã hội.
Cải cách tiền lương phải được đặt trong tổng thể của quá trình cải cách hành
chính, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, bảo đảm sự hài hoà với quá
trình cải cách kinh tế, với những bước đi thích hợp, không gây xáo động về kinh
tế- xã hội; đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Từ những định hướng nêu trên, chúng ta cần nghiên cứu giải quyết một số vấn đề
được đề xuất sau đây:
- Tạo thêm nguồn chi trả lương khác ngoài nguồn chi từ ngân sách Nhà nước như
giao khoán quỹ lương cho doanh nghiệp, tự trang trải một phần hoặc toàn bộ tiền
lương đối với các đơn vị sự nghiệp có thu.
- Xác định được mức lương tối thiểu chung cho toàn quốc, đảm bảo tiền lương
thực sự là nguồn thu nhập chính yếu của người lao động.
- ápdụng hệ số điều chỉnh khu vực (từ 0 – 1,5 lần) và hệ số điều chỉnh vùng (từ 0 –
0.5 lần)
- Cho phép khu vực doanh nghiệp Nhà nước tự chọn mức lương tối thiểu, không
khống chế mức lương tối đa với 2 điều kiện: Tốc độ tăng tiền lương bình quân
phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động và lợi nhuận bình quân năm sau
không nhỏ hơn lợi nhuận bình quân năm trước liền kề.
- Bỏ đối tượng hưởng lương do dân cử và bầu cử, có quy định riêng cho đối tượng
này, vì trách nhiệm của họ lớn và thời gian làm việc dài.
- Khi tính bội số lương ngạch không áp dụng điều kiện lao động mà thay vào đó là
hệ số điều chỉnh ngành. Như vậy 19 thang bảng lương thành 1 bảng lương.Ví dụ
hiện nay công chức tốt nghiệp đại học khi được xếp vào bậc 1 các ngạch lại có hệ
số lương rất khác nhau: Kỹ sư 1,78 ; Nghiên cứu viên 1,86 ; Thanh tra viên 2,01.