1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư buồng trứng là bệnh thường gặp đứng hàng thứ năm ở phụ nữ
sau ung thư vú, đại tràng, trực tràng và cổ tử cung. Ở các nước kém phát triển
ung thư buồng trứng xếp hàng thứ bảy hoặc thứ tám [18]. Ở phương Tây,
UTBT là loại ung thư đứng hàng thứ sáu so với các loại UT khác ở phụ nữ
sau UT vú, UT cổ tử cung, UT đại tràng, UT thân tử cung và UT dạ dày.
Tần xuất mắc bệnh và tử vong của UTBT được khảo sát trên 25 năm
qua tại nhiều nước quốc gia phương Tây và châu Á, cho thấy tần suất mắc
bệnh cao nhất ở các nước phương Tây và thấp nhất ở Nhật. Tần suất được ghi
nhận tăng theo số tuổi, loại ung thư này thường xuất hiện ở khoảng tuổi 60.
Ở Mỹ số trường hợp UTBT mới mỗi năm là 14,2/100.000 phụ nữ da
trắng và 9,3/100.000 phụ nữ da đen. Ở Pháp năm 1982, số trường hợp mắc
mới là 10,6/100.000 phụ nữ ở lứa tuổi 35- 64 [20].
Nhưng cho đến nay UTBT vẫn là nguyên nhân gây tử vong phụ khoa
hàng đầu ở Tây bán cầu [53]. Tỷ lệ tử vong ở Châu Âu nói chung là 7-
11/100.000 phụ nữ mỗi năm [91]. Ở Hà Lan gần 1.300 trường hợp UTBT mới
được chẩn đoán và gần 1.000 phụ nữ chết do bệnh này hàng năm [53].
Ở Việt Nam, theo số liệu của bệnh viện K Hà Nội, từ năm 1991-1995
tần suất của UTBT là 3,6/100.000 dân, chiếm 4% tổng số ung thư phụ nữ [8].
Theo nghiên cứu của Trung tâm Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh,
hàng năm UTBT đứng thứ 3 sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Theo
thống kê của Hội Ung thư Thành phố Hồ Chí Minh 1998 thì tỷ lệ UTBT
chiếm 3,8%, đứng thứ tám trong số những ung thư xảy ra ở phụ nữ Việt Nam,
tỷ lệ sống sau 5 năm là 30% [18].
UTBT thường phát hiện muộn, do vậy hiệu quả điều trị còn thấp. Tỷ lệ
sống 5 năm đối với UTBT giai đoạn I và giai đoạn II khoảng 60 - 70%, còn ở
2
Theo H.U.Ulmer và D.K.Hossfeld ung thư buồng trứng loại biểu mô
(thường gặp nhất ở UTBT) có ba đặc tính đáng chú ý:
- Tần suất mắc phải lớn hơn ở những người có số năm rụng trứng nhiều
hơn, việc uống thuốc ngừa thai có làm giảm nguy cơ bị UTBT.
- Bệnh nhân thường được chẩn đoán khi bệnh đã lan tràn, gieo rắc vùng
chậu và ổ bụng.
- UTBT là loại ung thư khó trị khỏi, phẫu thuật giảm tổng khối u dường
như có tác dụng thuận lợi trên sự sống còn của người bệnh [21], [117] .
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân loại khối u buồng trứng thành ba
nhóm chính dựa theo các khía cạnh mô học và di truyền là các khối u biểu
mô, các khối u của mô đệm-sinh dục và các khối u tế bào mầm [89].
4
1.1. CẤU TẠO GIẢI PHẪU BUỒNG TRỨNG
BT có hai bờ: bờ tự do và bờ mạc treo BT.
BT có hai đầu: đầu vòi và đầu tử cung.
BT được treo lơ lửng trong ổ phúc mạc nhờ một hệ thống dây chằng.
Ngoài mạc treo BT còn có dây chằng treo BT, dây chằng này đi từ đầu vòi
trứng qua hai lá dây chằng rộng đến thành chậu hông, dây chằng được tạo bởi
thần kinh và mạch máu BT, còn dây chằng riêng BT là dãi mô liên kết đi từ
đầu tử cung đến góc bên TC. Ngoài ra có dây chằng ngắn còn gọi là dây
chằng vòi BT [15].
6
1.2.1. Phần vỏ
Phần ngoài cũng được lót bởi biểu mô mầm là những tế bào vuông đơn,
nhân hình cầu to. Tiếp theo là màng trắng, là một màng liên kết ít sợi và tế
bào liên kết nhưng nhiều chất căn bản, dưới màng trắng là lớp đệm vỏ gồm
mô liên kết có nhiều tế bào sợi. Trong lớp này chứa nhiều nang trứng to nhỏ
không đều.
8
1.4. TẦN SUẤT UNG THƢ BUỒNG TRỨNG
Sự phân bố các loại u BT rất khác nhau tuỳ thuộc vào lứa tuổi, tỷ lệ
60% các u tế bào mầm ở trẻ em, 80% các u biểu mô gặp sau tuổi mãn kinh.
Tỷ lệ các u ác tính cũng gia tăng theo tuổi: 40% các u buồng trứng ác
tính gặp sau tuổi mãn kinh, ít hơn 10% ở trước tuổi 40. Tần suất u ác tính là
4% trước 20 tuổi, 8% giữa 20 và 39 tuổi, 27% giữa 40 và 49 tuổi, và 42% sau
50 tuổi [18], [20]. Các u giáp biên ác thường thấy ở phụ nữ trẻ, 1/2 lành là u
bì, thường gặp vào khoảng 20 và 39 tuổi [31].
10
Ngoài ra còn có các tình trạng giả u như hoàng thể thai kỳ, BT đa nang,
nang hoàng tuyến, lạc nội mạc TC.
1.5. DỊCH TỄ HỌC VÀ YẾU TỐ BỆNH SINH UNG THƢ BUỒNG
TRỨNG
Hình 1.4. Tỷ lệ mới mắc ung thƣ buồng trứng trên toàn cầu [ 89].
BRCA1 và BRCA2, sự khác biệt chủng tộc, cho thấy số bệnh nhân có nguy
cơ UTBT 5 và 10 năm sau khi bị UTV là 4,5% và 12,7% đối với các phụ nữ
đột biến gen BRCA1, 5,3% và 6,8% đối với phụ nữ đột biến BRCA2 [36],
[90]. Gần đây người ta đã xác định được một gen chuyên biệt trên nhiễm sắc
thể 17 gây UTBT và UT vú ở những phụ nữ trẻ và gen PDGFR alpha, gen
PDGFR beta và gen c-kit cũng gây nên UTBT [67], [74], [106], [115], [122].
12
Sự phát hiện của gen SPOC1 trong mẫu UTBT và vị trí của bộ di
truyền của gen này trong vùng liên quan đến sự phát triển UT, kích thích sự
phát triển của chúng có hệ thống trong sự phát triển của UTBT. Nó còn có
ảnh hưởng đến sự còn lại của u và thời gian sống còn lại của bệnh nhân
UTBT. Nó còn có ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân UTBT [52],
[57], [65], [93].
Các nhà chuyên môn đã lo ngại nguy cơ UTBT cao hơn có thể nghiêm
trọng và thậm chí biến chứng nguy hiểm đến tính mạng đối với phụ nữ được
điều trị bằng phương pháp kích thích BT.
Thuốc tránh thai uống liên quan một cách nhất quán với giảm thiểu
nguy cơ UTBT[52], [63], [72], [75], [92], [102].
Theo nghiên cứu của Mills P.K. và cs cho thấy sử dụng hormon thay
thế có liên quan đến nguy cơ tăng UTBT biểu mô, mối liên quan này lớn hơn
ở phụ nữ không bị cắt TC hay thắt vòi trứng [63], [73], [92].
Chất chủ vận GnRH đã chỉ báo về các rối loạn phụ thuộc vào các
hormon nữ giới như lạc nội mạc tử cung và các ung thư phụ khoa nhưng chưa
có bằng chứng thuyết phục cho các tác dụng nguy hại buồng trứng của GnRH
được tìm thấy [121].
Các yếu tố chuyển tiếp Snail và Slug là quan trọng đối với sự di chuyển
các tế bào trong quá trình phát triển và di căn khối u. Các tác giả nhận thấy
vai trò đặc trưng của các yếu tố chuyển tiếp Snail và Slug trong quá trình di
căn UTBT và sự sống còn của tế bào thông qua trung gian của sự chuyển tiếp
UTBT [123].
1.6.2. Triệu chứng thực thể
Thăm khám phụ khoa cẩn thận có thể phát hiện được UTBT ở giai đoạn
sớm. Ở phụ nữ mãn kinh BT bình thường chỉ to tối đa khoảng 1- 2 cm, với
14
kích thước này không thể sờ thấy được khi thăm khám, nhưng những phụ nữ
mãn kinh BT sờ được qua thăm khám cần được lưu ý. Ở những phụ nữ trẻ
những khối u dạng nang 4 - 5 cm cần được xác định bằng những xét nghiệm
bổ sung.
Thăm khám lâm sàng không thể quên việc thăm khám toàn thân, toàn ổ
bụng, tình trạng gan, thăm trực tràng để đánh giá độ xâm lấn, lan tràn, thăm
khám hạch ngoại biên, đánh giá tình trạng thiếu máu.
Soi đại tràng xem có ung thư đại tràng nguyên phát không.
Soi ổ bụng (nếu cần) [50].
Các nghiên cứu công bố giữa 1996 và 2003 cho thấy rằng PET là có ích
đối với phát hiện UTBT còn sót lại, khá nhạy cảm trong phát hiện sự tái phát
của bệnh trong các nghiên cứu CA 125 tăng và siêu âm âm tính [65]. Ngoài
ra, kỹ thuật PET dùng để chẩn đoán UTBT khi không có sự xuất hiện của CA
125 và tỷ lệ di căn hạch của UTBT [66], [84].
1.7. PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN UNG THƢ BUỒNG TRỨNG
Phân loại giai đoạn phẫu thuật được dựa vào sự hiểu biết về hình ảnh
ăn lan của bệnh và phải được thực hiện một cách hệ thống và kỹ lưỡng. Nó
phải bao gồm một sự đánh giá toàn diện của tất cả các bề mặt thành và tạng
trong ổ bụng, của cắt mạc nối và sinh thiết hạch chậu và hạch động mạch chủ.
Nó cũng thường bao gồm việc cắt bỏ các cơ quan sinh dục trong, phân loại
giai đoạn UTBT theo FIGO [18], [20], [55], [71], [90].
1.8. TIÊU CHUẨN DỰ ĐOÁN ĐỘ LÀNH, ÁC CỦA KHỐI U BUỒNG
TRỨNG TRÊN SIÊU ÂM
Nói chung các khối u có giới hạn rõ nét, thành mỏng, ECHO trống, một
Tỷ lệ ung thư cao gặp ở nhóm 3 và 4 theo bảng phân loại của Sassone-
MA.
Vai trò đánh giá qua SÂ trong quá trình phát hiện UTBT biểu mô được
Chương trình phát hiện sớm UTBT Quốc gia nghiên cứu trên 2.610 phụ nữ
tiền mãn kinh và 1.916 phụ nữ sau mãn kinh ở nhóm phụ nữ có nguy cơ cao
UTBT. Cuộc nghiên cứu này cho thấy giá trị hạn chế của SÂ chẩn đoán như
là một phương thức độc lập trong quá trình phát hiện UTBT biểu mô giai
16
đoạn đầu ở phụ nữ không có triệu chứng, nhưng có nguy cơ bị bệnh cao [43],
[58], [71].
Tại khoa siêu âm Bệnh Viện Phụ Sản Freiburg sử dụng một hệ thống
cho điểm xác định độ đồng nhất, một hệ thống cho điểm cho các cấu trúc bên
trong với độ nhạy 92% và độ đặc hiệu 64% trong những khối u phần phụ ở
phụ nữ trước mãn kinh, độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 71% trong những khối u
của những phụ nữ sau mãn kinh bằng điểm số Shillinger [89].
SÂ Doppler lực 3 chiều được coi là hữu hiệu cho dự đoán UTBT ở các
khối u phần phụ phức tạp. Phương pháp này có thể tốt hơn hình ảnh màu
được tạo bằng SÂ Doppler tim mạch thông thường [12], [34].
1.9. ĐIỂM QUA VÀI NÉT VỀ CHẤT ĐÁNH DẤU SINH HỌC
1.9.1. Đại cƣơng
Chất đánh dấu sinh học là những chất được tìm thấy trong dịch cơ thể,
chủ yếu là máu và nước tiểu, có liên quan đến một số bệnh lý (khi có trị số
cao hơn trị số sinh lý bình thường) [9], [17], [35].
1.9.2. Phân loại
Có bốn nhóm chính:
- Chất sinh u của phôi thai: là những chất bình thường tìm được trong
thời kỳ bào thai, giảm hay mất đi trong khi sinh. Ở người trưởng thành sẽ tái
xuất hiện ở trị số cao hơn bình thường khi mắc bệnh ung thư tiêu hoá, phổi,
BT, thân TC, thai trứng, choriocarcinoma và cho thấy yếu tố tăng trưởng biểu
nhận dạng CA 125 trong UTBT với những phương pháp phân lập cao cấp
bằng cách dùng kháng thể đơn dòng mới, nhận dạng như một phân tử mucin
(phương pháp sắc ký ái lực) [17].
UTBT là một trong số các bệnh lý ung thư đáp ứng với điều trị phẫu
thuật cắt giảm khối u, xạ trị và hoá trị [27]. Việc theo dõi đáp ứng điều trị rất
18
khó khăn do u thường di căn bề mặt phúc mạc và tạo nên những nốt nhỏ
không thể phát hiện được bằng các khảo sát hình ảnh. Phẫu thuật mổ bụng
xếp giai đoạn lại có nhiều nguy cơ do sự hiện diện của u và những dây dính
do phẫu thuật trước đó. CA 125 tăng sớm trong các trường hợp tái phát có thể
giúp ích trong tình huống này [101].
Một nghiên cứu về chẩn đoán sớm UTBT ghi nhận 1 bệnh nhân có tăng
nồng độ CA 125 huyết thanh được 12 tháng trước khi được chẩn đoán lâm
sàng giai đoạn II. Lúc chẩn đoán, 61% bệnh nhân giai đoạn I hoặc II có nồng
độ huyết thanh lớn hơn 35 UI/ml và 50% bệnh nhân có nồng độ lớn hơn 50
UI/ml. Nồng độ CA 125 huyết thanh tăng vào lúc chẩn đoán UTBT báo trước
một tiên lượng xấu [85], [101].
Tuy nhiên, CA 125 không đặc hiệu cho UTBT. Một nghiên cứu gần
đây cho thấy có sự gia tăng đáng kể dấu hiệu sinh học này ở các bệnh nhân bị
tràn dịch màng phổi do UT vú. Cũng có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân di căn phổi
không liên quan màng phổi cũng có tăng CA 125. Sự gia tăng CA 125 cũng
tìm thấy trong huyết thanh bệnh nhân ung thư nội mạc TC, cổ TC, vòi trứng,
tuỵ tạng, dạ dày, gan, đường mật, phổi, vú và đại tràng. Nồng độ CA 125
huyết thanh tăng cũng được tìm thấy trong các tình trạng lành tính bao gồm
có thai, hành kinh, bệnh nội mạc TC, bệnh viêm nhiễm vùng chậu, viêm tuỵ
tạng, viêm gan và suy thận [85].
Một vài nghiên cứu đã cho thấy vai trò của cytokine như là một nhóm
phát hiện khối u mới đối với UTBT [61].
1.10. MÔ BỆNH HỌC CÁC KHỐI U BUỒNG TRỨNG
thiện sự sống hoàn toàn đối với phụ nữ bị UTBT giai đoạn cuối đã được cắt
bỏ [100].
20
Mục đích của phẫu thuật là nhằm không để lại những nhân di căn có
đường kính lớn hơn 1 cm kèm theo lấy chậu và hạch cạnh động mạch chủ
bụng.
Trong một số trường hợp bệnh lan rộng cần sinh thiết những nhân di
căn ở bề mặt gan, vòm hoành, phúc mạc túi cùng.
Phẫu thuật bảo tồn đối với các bệnh nhân UTBT biểu mô có thể được
áp dụng cân nhắc đối với các bệnh nhân trẻ bị bệnh ở giai đoạn Ia G1.
Phương thức này không nên được thực hiện để điều trị các bệnh nhân UT ở
giai đoạn FIGO >Ia [95], [119].
Phẫu thuật sớm là tốt nhất để điều trị trong các u BT giáp biên, và phẫu
thuật mổ bụng có kết quả tốt hơn là phẫu thuật nội soi [47].
Phẫu thuật ”ở khoảng nghỉ thứ phát” với mục tiêu giảm khối tối ưu
(k.u. t. d. <2, <1, <0,5 cm) sau 3 chu kỳ hoá trị có nền Platin [89].
Phẫu thuật mổ bụng “nhìn lần hai” để có bằng chứng về tình trạng đáp
ứng và nếu cần thiết sẽ cắt bỏ u đại thể, sau đó là hoá trị hàng nhì. Phẫu thuật
cắt bỏ nhằm giảm nhẹ bệnh tái phát được thực hiện ở một thời điểm xa hoá trị
lần đầu [89], [102].
1.11.2. Điều trị hoá chất
Sử dụng hoá chất trong UTBT trở thành một biện pháp bổ trợ quan
trọng và phổ biến nhất. Có rất nhiều phác đồ để lựa chọn điều trị UTBT tuỳ
thuộc vào kinh tế, thể trạng bệnh nhân và thể giải phẫu bệnh, là UT biểu mô
tuyến, UT tế bào mầm hay UT các thành khác của BT. Các phác đồ thường
dùng:
- Ung thư biểu mô tuyến:
DC: Doxorubicin 40mg/m2 (TM) ngày 1.
Cyclophosphamid 500mg/m2 (TM) ngày 1.
22
Nhiều cuộc nghiên cứu điều trị UTBT tái phát bằng Gemcitabin, hầu
hết bệnh nhân này đã kháng Platinum và hay trước khi được điều trị
Paclitaxel, cho thấy là các tỷ lệ phản ứng toàn bộ là 14%- 22% và thời gian
phản ứng trung bình là 4,0-10,9 tháng. 1/3 số bệnh nhân tham gia khác đã có
tình trạng bệnh ổn định [49], [53], [110].
Nghiên cứu quá nhạy cảm với Carboplatin sau khi điều trị hàng tuần
bằng Paclitaxel liều lượng thấp (60 mg/m2) của các bệnh nhân UTBT tái phát
được trị liệu bằng đa chất Platinum. Liều lượng của Carboplatin được thử
nghiệm trước đây là từ 2.582 mg- 9.589 mg đã cho thấy thích hợp ở tất cả
bệnh nhân. Tuy nhiên có bệnh nhân đã thể hiện phản ứng quá nhạy cảm với
Carboplatin liên quan với liều lượng các chất Platinum đã được thử nghiệm
trước đây và Carboplatin không nên được dùng để điều trị các bệnh nhân đã
được điều trị bằng đa chất Platinum, trong các trường hợp nhạy cảm với
Platinum [114].
Theo các nghiên cứu đã được công bố cho đến nay, trị liệu hoá chất bổ
sung sau đó cắt giảm khối u có thể cải thiện tiên lượng bệnh và chất lượng
sống. Đồng thời, trị liệu hoá chất bổ sung giúp hiểu biết về độ nhạy cảm hoá
chất của khối u trước khi phẫu thuật, từ đó cho phép các nhà phẫu thuật chọn
lựa giải pháp điều trị thích hợp [81], [103].
Theo nhóm tác giả Kuhn W. và cs nghiên cứu bệnh nhân UTBT ở giai
đoạn muộn IIIc, bụng báng nhiều (>500 ml) được hoá trị 3 chu kỳ với
Platinum/Taxane, sau đó phẫu thuật giảm u và thêm 3 chu kỳ điều trị
Platinum/Taxane. Cùng thời gian đó, bệnh nhân UTBT giai đoạn IIIc được
điều trị cắt giảm u và sau đó điều trị 6 chu kỳ kết hợp Platinum-Taxane. Kết
quả tỷ lệ u được cắt ở nhóm bệnh nhân đươc điều trị hoá chất trước là cao hơn
ở nhóm điều trị cổ điển, thời gian sống trung bình là 42 tháng so với 23 tháng
[114].
mạnh và giảm khối u cho bệnh nhân 65- 84%. Trong số bệnh nhân này,
AS2o3 cho sự sống 10 năm là 28%, tác dụng phụ gây suy tuỷ và AS2O3 làm
giảm sự phát triển của tế bào UTBT [41].
Adenovirut của gen mda-7 (Ad- mda7) trong các tế bào UTBT cho
thấy Ad- mda7 đã hạn chế sự phát triển tế bào và kích thích hoạt hoá sự chết
tế bào được lập chương trình đặc hiệu với các tế bào khối u nhưng không đối
với các tế bào bình thường [60].
1.11.2.1. Nguyên tắc điều trị hoá chất
- Không có chống chỉ định điều trị hoá chất.
- Dùng phối hợp các thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau.
- Không phối hợp nhiều thuốc có cùng độc tính trên một cơ quan.
- Dùng liều cao, từng đợt ngắn, ngắt quãng có hiệu quả hơn liều thấp
kéo dài.
- Không dùng loại hoá chất mà bản thân nó ít hiệu quả khi dùng đơn
độc [14].
1.11.2.2. Điều trị các tác dụng phụ của hoá chất
- Suy tuỷ: chất ức chế Proteasome Bortezomib đã chứng tỏ hoạt động
trong các khối u kháng hoá trị liệu và được dùng để điều trị suy tuỷ, góp phần
quan trọng của việc điều trị UTBT [21], [33].
- Độc hại thần kinh: Amifostine chỉ thể hiện hoạt động nhỏ nhưng quan
trọng trong việc giảm thiểu độc hại thần kinh mà không ngăn chặn độc hại tuỷ
xương khi điều trị Paclitaxel + Carboplatin [45].
- Chăm sóc răng miệng: chăm sóc răng nhẹ nhàng bằng kem đánh răng
dịu và bàn chải mềm, súc miệng 5 phút trước bữa ăn bằng dung dịch
Dexpanthenol, súc miệng 5 phút sau bữa ăn bằng dung dịch sát khuẩn. Nếu
cần bôi Lidocain trước bữa ăn, tránh thức ăn cay và nóng, cẩn thận với các
25
loại cây sống, xà lách trộn dầu dấm và nước trái cây, giữ miệng ẩm sau khi
thức dậy bằng cách uống từng ngụm nước nhỏ.