13
TL
BQ
là tiền lương bình quân
TL
min
là tiền lương tối thiểu
(K là hệ số điều chỉnh bình quân
(H là hệ số cấp bậc bình quân.
Theo công thức trên,khi tiền lương tối thiểu tăng thêm một lượng ít thì
tiền lương bình quân tăng thêm được một lượng gấp (K lần ,cho thấy việc
đưa ra và điều chỉnh mức lương tối thiểu là rất quan trọng. Tiền lương tối
thiểu mà phù hợp sẽ có tác động tốt đến người lao động với ý nghĩa làm một
khoản thu nhập chính, từ đó bảo đảm được năng suất lao động ổn định và
tăng lên. Nêu tiền lương tối thiểu quá thấp, dẫn đến tiền lương bình quân
thấp, tiền lương không còn là khoản thu nhập chính của người lao động và
mất tác dụng kích thích người lao động làm việc, tăng năng suất lao động.
Nếu tiền lương tối thiểu quá cao, gây ra sự đảo ngược hay quan hệ không
hợp lý giữa tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động, từ đó
ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức
kinh tế nói riêng, của xã hội nói chung. Ngoài ra, việc chi trả cho tất cả cho
các lao động trong tổ chức một cách công khai cũng có tác động đến tâm lý
lao động rất nhiều, việc công khai đó giúp người lao động cảm thấy sự công
bằng giữa những người lao động và giữa làm và hưởng của mình với người
khác, từ đó tạo sự phấn khởi trong lao động, giúp cho tăng năng suất lao
động.
Các chính sách về tiền thưởng hay các hình thức thưởng cũng có ảnh
THỰC TRẠNG GIỮA TIỀN LƯƠNG THU NHẬP VÀ NSLĐ CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
I.THỰC TRẠNG ,HẠN CHẾ.
Nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trường nhưng có sự điều
tiết,quản lý của nhà nước.Bởi vậy,Nhà nước cũng thực hiện quản lý nhà
nước về lao động,một trong những vấn đề thuộc lĩnh vực này là tiền lương
,thu nhập của người lao động.Cơ chế quản lý tiền lương theo cơ chế quản lý
thị trường nhà nước chỉ can thiệp gián tiếp thông qua các chính sách về tiền
lương,thu nhập, đặc biệt là tiền lương tối thiểu.Chế độ tiền lương mới có
những ưu điểm nổi bật là đã thống nhất mức lương tối thiểu trong toàn
quốc,làm cơ sở pháp lý trong giải quyết mối quan hệ phân phối giữa người
sử dụng lao động và người lao động.Đã thực hiện một bước tiền tệ hoá tiền
lương,từng bước xoá bỏ bao cấp trong tiền lương. Tuy nhiên, ứng với các
khu vực khác nhau của nền kinh tế thì chính sách của nhà nước về tiền lương
cũng khác nhau, kéo theo mối quan hệ giữa tiền lương, thu nhập với năng
suất lao động cũng không giống nhau.
Xem xét về thực trạng, trong đó có một số hạn chế về tiền lương thu nhập
trong các khu vực như: khu vực hưởng hưởng lương từ ngân sách nhà nước
(NSNN), khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam (KHĐTNN) có
một số nét chung trong suốt mối quan hệ giữa tiền lương, thu nhập và NSLĐ
như sau: 16
- Về hệ thống thang bảng lương:
Nói chung, trong các khu vực, trong hệ thống thang bảng lương, hệ số
giãn cách hay tỉ lệ tăng tương đối của hệ số lương giữa các bộ liền kề quá
cũng kém đi. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và cơ quan nước ngoài
hoặc quốc tế tại Việt Nam được tự quyền xây dựng hệ thống thang bảng
lương với hạn chế là độ dãn cách giữa các bậc liền kề không được nhỏ hơn
7% và điều kiện về thời gian nâng bậc là mức tối thiểu 3 năm phải nâng một
bậc lương. Đây là những qui định của nhà nước tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài dựa vào đó để tăng lương và nâng lương có lợi
nhất cho doanh nghiệp có nghĩa là bất lợi đối với người lao động. Tuy nhiên,
trên thực tế các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng khoảng cách bậc
lương của ta qui định là quá lớn cho nên hầu như các doanh nghiệp chỉ xác
định mức lương bậc 1 cao hơn từ 3 - 10% so với mức lương tối thiểu,
khoảng cách hai bậc liền kề chỉ khoảng 3 - 5% chứ không dãn cách từ 7 -
10% như các doanh nghiệp trong nước, đặc điểm này làm hạn chế kích thích
tăng năng suất lao động lớn hơn các doanh nghiệp trong nước
Hệ thống bảng lương hành chính sự nghiệp
(ở trang sau)
Theo số liệu của NHN0 & PTNT Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2000 ta
có bảng sau:18
- Về tiền lương tối thiểu ( TL
min
)
Tiền lương tối thiểu chung hiện nay là 180.000đ/tháng/người, theo
nhận định chung, mức lương này còn quá thấp, không đáp ứng được cuộc
sống cho một người làm một công việc bình thường (không qua đào tạo).
Trong điều kiện làm việc bình thường, trong khu vực hành chính, trong công
thức tính tiền lương sử dụng tiền lương tối thiểu. Tính theo năm 1999 số
người hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc khu vực hành chính sự