ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ PHƯƠNG THUÝ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH CỦA CÁC TRẠNG THÁI
RỪNG TẠI KHU RỪNG ĐẶC DỤNG XÃ QUÂN KHÊ,
HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đồng Tấn
Thái Nguyên, năm 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích
dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác
cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Phú Thọ, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Thúy
i
LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Sau Đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành
nghiên cứu tại xã Quân Khê huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ. Để thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của các trạng thái rừng tại khu rừng
đặc dụng xã Quân Khê, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”.
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tôi đã hoàn thành.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn
Tiến sỹ Lê Đồng Tấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học Tây Bắc là
1.1.1. Khái ni m r ng c d ngệ ừ đặ ụ 4
1.1.2. Khái ni m v tái sinh r ngệ ề ừ 8
1.2. Nh ng nghiên c u trên th gi iữ ứ ế ớ 9
1.2.1. Nghiên c u v c u trúc r ngứ ề ấ ừ 9
1.2.2. Nghiên c u v tái sinh r ngứ ề ừ 12
1.3. Nh ng nghiên c u Vi t Namữ ứ ở ệ 13
1.3.1. Nghiên c u v c u trúc r ngứ ề ấ ừ 13
1.3.2. Nghiên c u v tái sinh r ngứ ề ừ 14
1.3.3. Nghiên c u v i u tra, ánh giá tái sinh t nhiênứ ề đ ề đ ự 16
1.4. T ng quan khu v c nghiên c uổ ự ứ 17
1.4.1. i u ki n t nhiên khu v c nghiên c uĐ ề ệ ự ự ứ 17
1.4.1.1. V trí a lí, a hìnhị đị đị 17
1.4.1.2. Ch khí h u, th y v nế độ ậ ủ ă 18
1.4.2. c i m kinh t xã h i khu v c nghiên c uĐặ đ ể ế ộ ự ứ 20
1.4.2.1. c i m v dân s v lao ngĐặ đ ể ề ố à độ 20
1.4.2.2. Tình hình phát tri n kinh tể ế 20
1.4.2.3. C s h t ngơ ở ạ ầ 21
1.4.2.4. Tình hình ho t ng lâm nghi p trong nh ng n m quaạ độ ệ ữ ă 21
Chương 2 24
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. N i dung nghiên c uộ ứ 25
2.1.1. Nghiên c u m t s c i m c a t ng cây gứ ộ ố đặ đ ể ủ ầ ỗ 25
2.1.2. Nghiên c u c i m tái sinh d i tán r ngứ đặ đ ể ướ ừ 25
2.1.3. Nghiên c u m t s nhân t nh h ng n kh n ng tái sinh tứ ộ ố ố ả ưở đế ả ă ự
nhiên d i tán r ng t i khu r ng c d ng xã Quân Khêướ ừ ạ ừ đặ ụ 25
2.1.4. xu t m t s gi i pháp nh m xúc ti n kh n ng tái sinh t Đề ấ ộ ố ả ằ ế ả ă ự
nhiên d i tán r ng t i khu r ng c d ng xã Quân Khêướ ừ ạ ừ đặ ụ 25
iii
2.2. Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 26
2.2.1. Ph ng pháp ngo i nghi pươ ạ ệ 26
1.2. V c i m c a t ng cây tái sinhề đặ đ ể ủ ầ 62
1.3. V các nhân t nh h ng n kh n ng tái sinh d i tán r ng ề ố ả ưở đế ả ă ướ ừ ở
khu v c r ng c d ng Quân Khêự ừ đặ ụ 62
2. T n t iồ ạ 63
3. nghĐề ị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
iv
v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
B ng 1.1. Hi n tr ng s d ng t xã Quân Khê huy n H Hòa, t nhả ệ ạ ử ụ đấ ệ ạ ỉ
Phú Thọ 22
B ng 1.2. Di n tích r ng v t lâm nghi p xã Quân Khê huy n ả ệ ừ à đấ ệ ệ
H Hòa, t nh Phú Thạ ỉ ọ 23
B ng 2.1. Ký hi u nhi u c a t ng th m t i theo Drubsả ệ độ ề ủ ầ ả ươ 29
B ng 3.1. M t s c i m c a t ng cây g khu v c r ng c ả ộ ố đặ đ ể ủ ầ ỗ ự ừ đặ
d ng Núi Nụ ả 34
B ng 3.2. T th nh l p cây tái sinh d i tán r ng t nhiên t i r ng ả ổ à ớ ướ ừ ự ạ ừ
c d ng Núi N xã Quân Khêđặ ụ ả 37
B ng 3.3. Ch t l ng v ngu n g c cây tái sinh d i tán r ng t ả ấ ượ à ồ ố ướ ừ ự
nhiên t i r ng c d ng Núi N xã Quân Khêạ ừ đặ ụ ả 37
B ng 3.4. Phân b s cây theo c p chi u cao d i tán r ng t nhiênả ố ố ấ ề ướ ừ ự
(IIB) 38
B ng 3.5. T th nh l p cây tái sinh d i tán r ng tr ng thu n lo i ả ổ à ớ ướ ừ ồ ầ à
Keo 39
t i r ng c d ng Núi N xã Quân Khêạ ừ đặ ụ ả 39
B ng 3.6. T th nh l p cây tái sinh d i tán r ng tr ng thu n lo i ả ổ à ớ ướ ừ ồ ầ à
B t i r ng c d ng Núi N xã Quân Khêồ đề ạ ừ đặ ụ ả 40
B ng 3.7. Ch t l ng v ngu n g c cây tái sinh d i tán r ng ả ấ ượ à ồ ố ướ ừ
tr ng thu n lo i t i khu r ng c d ng Núi N xã Quân Khêồ ầ à ạ ừ đặ ụ ả 40
B ng 3.8. Phân b s cây theo c p chi u cao d i tán r ng tr ng ả ố ố ấ ề ướ ừ ồ
che phủ rừng của nước ta cao nhất vào năm 1943 là 43,7%, sau đó do bị tàn
phá nặng nề diện tích rừng bị suy giảm nhanh chóng có thời điểm độ che phủ
của rừng trên cả nước chỉ còn 28,4% vào những năm 1990 và đang có xu
hướng tăng dần những năm gần đây năm 2011 độ che phủ là 40,2% [2]. Điều
đáng nói là độ che phủ tăng lên nhờ vào khả năng tái tạo của rừng tự nhiên
song phải kể đến là diện tích rừng trồng cũng tăng khá mạnh nhưng tính đa
dạng sinh học của các hệ sinh thái không cao, nói đúng hơn là chất lượng
rừng còn hạn chế, đơn điệu.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chú trọng đến
vấn đề bảo vệ và phát triển rừng, thông qua hàng loạt các dự án trồng rừng mới,
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng nhờ đó mà diện tích
rừng đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là diện tích rừng trồng trong đó có cả rừng sản
xuất, rừng trồng đặc dụng, rừng trồng phòng hộ. Để nhằm giảm thiểu các thiên tai,
1
bão lũ, hạn hán, duy trì cân bằng hệ sinh thái… rừng trồng đặc dụng, rừng trồng
phòng hộ đã và đang đóng vai trò quan trọng. Thực tế, muốn nâng cao tính phòng
hộ của rừng trồng đòi hỏi phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp
lý nhằm tạo ra rừng trồng có cấu trúc gần giống với cấu trúc của rừng tự nhiên. Đây
là vấn đề mà các nhà khoa học về lâm nghiệp và các nhà quản lý bảo vệ rừng rất
quan tâm.
Rừng ở khu vực xã Quân Khê, huyên Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ có diện tích là
1466,28ha, trong đó được phân chia thành ba loại rừng bao gồm: rừng phòng hộ
có diện tích 41,2ha, rừng đặc dụng có diện tích 670 ha, còn lại là 755,08 ha rừng
sản xuất [3]. Rừng đặc dụng ở xã Quân Khê có khoảng 1/3 diện tích là rừng trồng
các loài cây chủ yếu như keo lá tràm, keo tai tượng, bồ đề, bạch đàn, muồng cánh
gián… nên cấu trúc rừng còn đơn điệu, chất lượng rừng không cao, tính đa dạng
sinh học còn hạn chế. Điều quan trọng là rừng trồng đặc dụng ở đây còn có một vị
trí vô cùng quan trọng trong công tác phòng chống xói mòn, bảo vệ đất, bảo vệ
nguồn nước, tạo cảnh quan môi trường… Nói một cách thực tế là rừng đặc dụng ở
khu vực xã Quân Khê đã và đang phát huy vai trò chức năng của khu rừng là đem
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trạng thái rừng ở khu vực rừng
đặc dụng Núi Nả xã Quân Khê, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Bao gồm trạng
thái rừng IIB, rừng trồng thuần loài Keo, rừng trồng thuần loài Bồ đề.
4. Ý nghĩa của đề tài
Khi đề tài hoàn thành sẽ bổ sung thêm những hiểu biết về đặc điểm cấu
trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng ở khu vực nghiên cứu.
Góp phần làm cơ sở khoa học cho việc khoanh nuôi phục hồi phát triển
rừng tự nhiên ở xã Quân Khê.
3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm rừng đặc dụng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre
nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán
rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản
xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [15].
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa
học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi,
du lịch kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a, Vườn quốc gia;
b, Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
c, Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh;
d, Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học;
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định rừng đặc dụng
bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có khu dự trữ thiên
nhiên và khu bảo tồn loài – sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di
hệ thống tổ chức, quản lý rừng đặc dụng sau một thời gian thực hiện vẫn còn
một số những bất cập.
Theo luật đa dạng sinh học năm 2008 thì phân cấp khu bảo tồn có 4 dạng
sau: Vườn quốc gia, Khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài - sinh cảnh,
Khu bảo vệ cảnh quan và không có khu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Như vậy giữa Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Luật đa dạng sinh
học năm 2008 có sự khác nhau về phân chia và dùng từ, một bên sử dụng
“rừng đặc dụng”, bên kia dùng “ Khu bảo tồn”. Trong khi theo Luật bảo vệ và
phát triển rừng năm 2004 thì “Khu bảo tồn” nằm trong rừng đặc dụng và dưới
5
Vườn quốc gia. Do đó tạo ra sự không thống nhất về cách sử dụng, gây khó
khăn cho công tác quản lý.
Trong bảng phân hạng của IUCN thì khu vực được bảo vệ chia làm 6
hạng, không có khu vực dành cho thực nghiệm khoa học; đối chiếu với
phân hạng của Việt Nam tương đương từ I – V, không có phân hạng VI
(điều hành để sử dụng hiệu quả tài nguyên môi trường), đối chiếu với các
quy định về quản lý rừng đặc dụng thì không có loại rừng đặc dụng nào
cho phép khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên thực tế hiện
tượng này vẫn thường xuyên xảy ra, người dân vẫn khai thác và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên trong rừng đặc dụng bởi từ lâu người dân sống gắn bó
với rừng, coi rừng là nhà. Do đó cần phải sửa đổi và bổ xung trong việc
phân hạng rừng đặc dụng cho phù hợp với thực tế nhưng vẫn đảm bảo việc
quản lý rừng tốt [29].
Hệ thống quản lý các khu rừng đặc dụng chưa có một cơ chế rõ ràng và
việc quản lý cũng chưa thống nhất. Cả nước có 30 Vườn quốc gia thì chỉ có
06 Vườn là thuộc Bộ, còn lại trực thuộc UBND tỉnh và sở NN & PTNT tỉnh;
còn 98 khu rừng đặc dụng khác do Sở NN&PTNT và Chi cục kiểm lâm quản
lý. Chính sự không thống nhất này đã dẫn đến việc quản lý và bảo tồn các khu
rừng đặc dụng này không hiệu quả, mỗi nơi có cách làm riêng, phá vỡ kết cấu
rừng chung của cả nước, ảnh hưởng đến chất lượng rừng và đa dạng sinh học.
vi hành chính của tỉnh, mà chưa chú trọng đến diện tích vùng sinh thái đặc
trưng, diện tích vùng có các loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm,… (nghĩa là
chưa chú trọng đến việc thành lập khu bảo tồn liên danh giới), chính điều này
ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại của loài, của hệ sinh thái. Đối với Vườn
quốc gia, khu bảo tồn chưa xác định được rõ khu vực cho bảo tồn và khu vực
dành cho phát triển, do đó đã tạo ra sự lúng túng trong quản lý chỗ nào cũng
bảo tồn và bảo vệ nghiêm ngặt.
Rừng đặc dụng Núi Nả tại xã Quân Khê được thành lập năm 2003 theo
Quyết định số 4526/QĐ-CT ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Phú Thọ với mục tiêu phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rừng tự
nhiên bằng tập đoàn cây bản địa đặc trưng trong khu vực; tạo hệ sinh thái bền
7
vững, cảnh quan thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường. Chống xói
mòn đất, bảo vệ nước, bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực. Bảo tồn
phát triển một số loài động, thực vật có giá trị phục vụ nghiên cứu, học tập và
cho du lịch trong tương lai. Nâng cao chất lượng đời sống vật chất tinh thần
cho cộng đồng dân cư đang sống trong vùng thông qua các hoạt động phát
triển kinh tế nông lâm nghiệp và dịch vụ. Vì vậy theo phân loại trên thì rừng
đặc dụng Núi Nả tại xã Quân Khê, huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ thuộc loại thứ
3 là khu bảo vệ cảnh quan danh lam thắng cảnh.
1.1.2. Khái niệm về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái
rừng. Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những
nơi còn hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, trên
dải rừng sau khi khai thác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế
các cây già cỗi. Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phụ chồi lại
thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ [12].
Sự xuất hiện lớp cây con mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần
loài trong quần thể sinh vật. Động vật, thực vật, vi sinh vật đóng góp vào việc làm
thay đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái. Do đó theo
thức này là chủ động chọn loại cây trồng, điều khiển được tổ thành, mật độ
cây thích hợp cho mục đích của con người. Nhược điểm chính của nó là đòi
hỏi có điều kiện kinh tế kĩ thuật và nhân lực nên khó triển khai trên diện
tích lớn. Xúc tiến tái sinh tự nhiên là phương thức trung gian giữa tái sinh
nhân tạo và tái sinh tự nhiên. Trong đó tận dụng triệt để những ưu điểm của
tái sinh tự nhiên với tự tham gia tích cực của con người để tái sinh rừng
đạt hiệu quả cao hơn. Con người có thể can thiệp ở mức hướng dẫn tái sinh tự
nhiên theo mục đích mong muốn [12].
1.2. Những nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
phát triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể
9
hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi
trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau.
1.2.1.1. Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Quy luật cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học,
hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu
quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành 3 dạng
cấu trúc đó là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W (1934), Odum (1971)… tiến hành. Các nghiên cứu này thường
nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và
tầng phiến của rừng.
Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói
chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong
đó đã nghiên cứu sâu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm
sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng kết
học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các
nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề
không gian và thời gian được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất
điển hình như: Rollet B (1971), Loeth et al (1967)… (dẫn theo Trần Văn
Con, 2001) [5]. Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull, Meyer,
Hyperbol… để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài, cấu trúc rừng.
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh. Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự
biến đổi tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong
quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng.
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh
và phục hồi rừng.
11
1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được
xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và
tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Richards, 1933; 1939;
Lebrun & Gilbert, 1954; Schultz, 1960; Rollet, 1969). Do tính chất phức tạp
về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn
người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít
được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu chỉ tập trung vào một số loài
cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã bị biến đổi ít nhiều. Van Steenis
(1956) [36] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt
đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của
các loài cây ưa sáng.
giả đề cập đến nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, ta có thể kể một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Theo Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [25] đã đưa ra mô hình cấu trúc
tầng cây như: Tầng vượt tán (A
1
), tầng ưu thế sinh thái (A
2
), tầng dưới tán (A
3
),
tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung
phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của David & Richar để nghiên cứu cấu trúc
rừng Việt Nam.
Theo Đào Công Khanh (1996) [8] trong công trình nghiên cứu ông đã
tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở
Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh
phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng.
Khi thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh
trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loài thường xanh ở Kon Hà Nừng -
Gia Lai, tác giả Vũ Đình Phương và Đào Công Khanh [9] đã cho rằng: đa số
các loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng
của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc đi vào chiều sâu nghiên cứu cấu
trúc rừng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm như những công trình nghiên cứu
mô hình hoá cấu trúc đường kính D
1.3
và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân
13
bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ
Hiền (1974) [7] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực
thế ở tầng trên.
Trong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên nguyên sinh
hay thứ sinh đều có hai cách tái sinh đó là: tái sinh liên tục dưới tán kín rậm
của những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trong
tán rừng do cây già đổ, chết. Qua đó ta thấy được một số nhân tố sinh thái
trong nhóm khí hậu đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của
các quần xã thực vật trong thảm thực vật rừng đó là ánh sáng. Do đó, khi nắm
vững tính di truyền của các loài thực vật trong quần xã thực vật thì chúng ta
có thể chủ động được phần nào trong việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh có lợi nhất cho con người.
Lê Đồng Tấn và Đỗ Hữu Thư (1995) nghiên cứu thảm thực vật tái sinh
trên đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I (tuổi
từ 4 đến 5), giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và nhận
xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có số
lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển. Sau 3 giai đoạn phát triển
thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế
tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao [18].
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái
sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự
nhiên. Trần Xuân Thiệp (1995) cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh giống
như thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng
thế hệ cây khác [24].
Như vây, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn
gốc từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo.
Vũ Tiến Hinh (1991), nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng
tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận
xét: hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có
liên hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì
hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy [30].
15
rừng lá rộng, miền Bắc nước ta.
Lê Đồng Tấn (1993-1999), nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số
quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều tra ô
tiêu chuẩn 400 m
2
cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy
16
và theo dõi ô định vị 2000 m
2
. Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm dần từ
chân đồi lên đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3 cấp độ
dốc là giống nhau. Sự khác nhau chính là hệ số tổ thành các loài trong tổ hợp
đó [19].
Đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc,
Trần Xuân Thiệp (1995) [23] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng,
chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi. Qua đó, tác giả kết luận:
Rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn
nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn,
trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc phần lớn
diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện
nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và
nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009), thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái
sinh rừng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái
sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ
thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh. Căn
cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với
phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuấn có diện tích 1000m
2
, tác