TạpchíKhoahọcĐạihọcQuốcgiaHàNội,KhoahọcTựnhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
46
_______
Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước
do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị
Nguyễn Tiền Giang*, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Sơn,
Trần Anh Phương, Ngô Chí Tuấn, Nguyễn Đức Hạnh
Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
Ngày nhận 02 tháng 01 năm 2009
Tóm tắt. Trong những năm gần đây, việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ ở tỉnh Quảng Trị có xu
hướng ngày càng gia tăng. Bên cạnh lợi ích về kinh tế mà hoạt động này mang lại, nuôi tôm nước
mặn, lợ có nguy cơ gây ô nhiễm các nguồn nước, làm ảnh hưởng đến các ngành dùng nước và hệ
sinh thái. Bài báo này trình bày kết quả việc sử dụng các số liệu thực đ
o và mô hình chất lượng
nước để đánh giá ảnh hưởng của nuôi tôm nước mặn, lợ đến nguồn nước tại thời điểm hiện tại và
trong tương lai theo không gian và thời gian. Kết quả cho thấy tại thời điểm hiện tại chất lượng
nước sông còn tốt. Nồng độ các chất hữu cơ của nước thải xả ra từ một vài khu nuôi tôm tập trung
vượt quá tiêu chu
ẩn cho phép bảo vệ đời sống thủy sinh. Đến năm 2020, nếu không có các giải
pháp giảm thiểu lượng ô nhiễm từ các khu nuôi trồng tập trung thì nó có thể ảnh hướng xấu đến
chất lượng nước ở hạ lưu hai con sông chính Bến Hải và Thạch Hãn.
Từ khoá: Nuôi tôm, chất lượng nước, MIKE 11, Quảng Trị.
1. Đặt vấn đề
∗
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ
sản (NTTS) đã trở thành 1 ngành kinh tế mũi
nhọn của nước ta với những bước phát triển
vượt bậc, đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa
đói giảm nghèo [1]. Tuy nhiên, những tác động
khó lường lên môi trường nước vùng nuôi cũng
như các khu vực lân cận của hoạt động nuôi
47
tiềm năng hiện có, diện tích khai thác vẫn còn
khá khiêm tốn. Vì vậy, với những kết quả bước
đầu đạt được, Quảng Trị đã định hướng mở
rộng diện tích và nâng cao năng suất NTTS,
đưa NTTS trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Để có cơ sở cho việc lập quy hoạch, việc cung
cấp đầy đủ thông tin về tác động qua lại giữa
NTTS và môi trường cho các nhà hoạch định
chính sách là rấ
t việc làm cần thiết và quan
trọng. Dựa vào các thông tin này, người ra quyết
định có thể lựa chọn những phương án thích hợp,
dung hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường, đảm bảo có một ngành NTTS phát triển
ổn định, có hiệu quả kinh tế cao.
Trước những đòi hỏi bức thiết trên, bài báo
này trình bày một số kết quả nghiên cứu với
mục tiêu là sử dụng kết hợp các phương pháp
điều tra thực địa và công cụ mô hình toán, tập
trung xác định diễn biến của các yếu tố môi
trường theo không gian và thời gian tại thời
điểm hiện tại (2007) và trong tương lai (2020) ở
hai vùng hạ lưu sông Bến Hải và Thạch Hãn
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, dưới ảnh hưởng
các kịch bản phát triển khác nhau của hoạt động
nuôi tôm nước lợ, mặn.
2. Khái quát khu vực nghiên cứu
Quảng Tr
ị là một tỉnh thuộc khu vực Bắc
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị.
Về khí hậu, Quảng Trị nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang đầy
đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt
Nam. Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và
mùa mưa. Mùa khô từ tháng XII tới tháng VIII
năm sau, mùa mưa từ tháng IX tới tháng XI.
Về tài nguyên nước, trên địa phận tỉnh
Quảng Trị có ba hệ thống sông chính là Thạch
Hãn, Bến Hải và Ô Lâu trong đó sông Thạch
Hãn là sông có diện tích lưu vực lớn nhất (2660
km
2
). Dòng chảy năm tại khu vực nghiên cứu
có giá trị mô đun biến động trong khoảng 54 -
73 l/s.km
2
, thuộc khu vực có dòng chảy dồi dào
so với trung bình cả nước, phần lớn nước tập
trung vào mùa lũ (khoảng 75-85%) trong khi
mùa kiệt chỉ chiếm từ (15-25%), gây khó khăn
cho hoạt động sản xuất đặc biệt là nông nghiệp
và NTTS.
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
48
3. Hiện trạng về diện tích và phân bố nuôi
tôm nước mặn, lợ
Với 75 km bờ biển và 2 cửa sông, tiềm
năng NTTS nước mặn, lợ của Quảng Trị là
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
2004 2005 2006 2007 Tiềm năng
Năm
Diệ n tích (ha)
Hình 2. Diện tích NTTS mặn, lợ tiềm năng và diện
thực nuôi theo các năm.
4. Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của nuôi
tôm nước mặn, lợ đến môi trường nước
Dựa vào kết quả phân tích mẫu nước thu
thập được ở một số vị trí quan trắc (hình 3) ở
các thời điểm khác nhau, nghiên cứu đưa ra một
số kết luận sau: Hình 3. Phân bố khu nuôi và vị trí các điểm lấy mẫu
nước mặt và nước ngầm.
Sự gia tăng về diện tích nuôi trồng thủy sản
nước mặn, lợ trong những năm gần đây dẫn tới
sự gia tăng tải lượng các chất hữu cơ và cặn lơ
lửng. Tuy nhiên do khả năng tự làm sạch hiện
thời của hai con sông là lớn nên chưa gây ra
hậu quả nghiêm trọng.
Vị trí
BO D5
(
m
g
O2/l
)
BOD5
Tiêu chuẩn
BOD5
30 24 33 61 224
Tiêu chuẩn
30 30 30 30 30
Vị trí 1 Vị trí 2 Vị trí 3 Vị trí 4 Vị trí 5
0
100
200
300
400
500
600
700
800
COD (mg/l)
COD
Tiêu chuẩn
COD
104 68 120 280 720
Tiêu chuẩn
60 60 60 60 60
8
10
12
III IV V V I VII
Tháng
mgO2/l
BH3
BH5
a) Nồng độ BOD b) Nồng độ COD
Hình 5. Nồng độ ô nhiễm hữu cơ tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI.
Với nguồn nước dưới đất và nước ven bờ,
kết quả phân tích các chỉ tiêu tại khu vực NTTS
tập trung cho thấy hầu hết các thông số phân
tích đều có nồng độ nằm trong giới hạn cho
phép, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm.
Về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất
khác lên mô trường nước, các kết quả phân tích
hàm lượng NO
x
, và PO
4
tại 2 thời điểm: tháng
VII (thời điểm các ao nuôi tôm thu hoạch và xả
nước), và tháng XI (thời điểm mùa lũ khi các
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
50
chất ô nhiễm khuyếch tán từ đồng ruộng ra hệ
thống sông và hoạt động nuôi tôm gần như
không diễn ra) cho thấy bên cạnh ô nhiễm do
0.006
0.008
0.01
0.012
0.014
SH1 SH2 SH5 SH6 BH2 BH3 BH4
Tháng 11
Tháng 7
Hình 6. Nồng độ NO
x
-
(trái) và PO
4
3-
(phải) tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI.
Như vậy, tại thời điểm hiện tại, do diện tích
NTTS còn chưa lớn, tình trạng ô nhiễm chỉ diễn
ra cục bộ tại một số vị trí xả thải của các ao
nuôi và trong thời gian các ao nuôi xả thay
nước. Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi diện
tích NTTS tăng lên và vẫn giữ nguyên cách
thức thay, xả nước như hiện tại thì khả năng
gây ô nhiễm môi trường có thể sẽ khác. Các kết
qu
ả tính toán cụ thể với các phương án sử dụng
đất cho NTTS trong tương lai sẽ được trình bày
ở mục các tiếp theo.
5. Dự báo diễn biến chất lượng nước bằng
mô hình MIKE 11
5.1. Cở sở lý thuyết mô hình dự báo diễn biến
nước tại các mặt cắt trên hệ thống sông, làm cơ
sở cho việc tính toán của 2 mô đun còn lại. Mô
đun lan truyền chất giải phương trình khuyếch
tán, mô phỏng quá trình lan truyền các chấ
t ô
nhiễm trong sông do sự chênh lệch về mật độ
và tác dụng vận chuyển của dòng nước, trong
khi mô đun WQ giải các phương trình vi phân
thường, mô phỏng quá trình tương tác sinh, lý,
hóa giữa các chất gây ô nhiễm và môi trường
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
51
[5,6]. Tuy nhiên Radwan và công sự [4] chứng
minh rằng có thể giản hoá bài toán bằng cách sử
dụng hệ số phân huỷ tuyến tính để mô phỏng
BOD mà không cần sử dụng đầy đủ mô đun
WQ. Do vậy, để mô phỏng lan chuyền BOD và
COD trong hai hệ thống sông tỉnh Quảng Trị,
phương trình dưới đây trong MIKE 11 được
dùng làm phương trình chủ đạo.
Trong đó:
C là nồng độ chất ô nhiễm;
D
là hệ
số khuyếch tán;
là diện tích mặt cắt ngang;
A
5.3. Số liệu
5.3.1. Số liệu địa hình
a) Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50 000, của Cục
Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (2006)
b) Tài liệu mặt cắt ngang và trắc dọc các hệ
thống sông chính tỉnh Quảng Trị: sông Bến Hải
từ Gia Vòng đến Cửa Tùng, sông Sa Lung từ
cầu đường sắt Sa Lung đến cầu Hiền Lương,
sông Thạch Hãn từ đập Thạch Hãn đến Cửa
Vi
ệt, sông Cam Lộ từ cầu Cam Tuyền đến
Đông Hà, sông Cánh Hòm từ cống Xuân Hòa
đến cống Mai Xá, và sông Vĩnh Định từ đập
Việt Yên đến cầu Hội Yên II.
5.3.2. Số liệu thủy văn
Mực nước triều tại trạm thủy văn Cửa Việt,
lưu lượng tại trạm Gia Vòng và mực nước
thượng lưu đập Thạch Hãn, mực nước trạm
q
C
A
K
C
x
C
A
D
x
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
52
Thạch Hãn. - Đo đạc lưu lượng biên trên trực
tiếp bằng máy đo lưu lượng Q - liner tại cầu
Cam Tuyền trên sông Cam Lộ và cầu đường sắt
trên sông Sa Lung ngày 14/8/2007.
Mực nước triều tại Cửa Tùng được hiệu
chỉnh theo mực nước tại Cửa Việt. Các số liệu
này được nhập vào 4 biên lưu lượng thượng lưu
và 2 biên mực nước hạ lưu.
5.3.3. Số liệu chấ
t lượng nước
a) Vị trí và diện tích đầm nuôi, dung tích
nước đầm nuôi, thời gian và vị trí xả thải vào hệ
thống kênh, vị trí kênh đổ vào hệ thống sông
chính (hình 8).
b) Các yếu tố chất lượng nước trong đầm
được thu thập qua các đợt khảo sát chuyên đề từ
ngày 7-15/8/2007 và từ 25/11-2/12/2007, các
đợt khảo sát định kỳ trong các tháng IV-
10/2007, và kế thừa một số các báo cáo trước
[7,8].
c) Quy trình thay, xả nước theo từng vụ của
các ao nuôi xác định qua kh
ảo sát hiện trạng và
điều tra của nhóm nghiên cứu được xác định
như sau:
Giai đoạn 1: tháng thứ 3, thay 75% thể tích
ao nuôi trong vòng 1 tháng, các lần thay cách
2 BH2 776,50 0.539 0.539 1.078
3 BH3 51,91 0.036 0.036 0.072
4 BH4 1585,00 1.101 1.101 2.201
5 BH5 259,61 0.180 0.180 0.361
6 BH6 972,13 0.675 0.675 1.350
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
53
(
)
sm
3
Lưu lượng nước xả
TT Khu vực nuôi
Diện tích
(1000m
2
)
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3
7 BH7 162,10 0.113 0.113 0.225
8 BH8 345,01 0.240 0.240 0.479
9 TH1 795,10 0.552 0.552 1.104
10 TH2 1808,34 1.256 1.256 2.512
11 TH3 730,35 0.507 0.507 1.014
12 TH4 529,12 0.367 0.367 0.735
13 TH5 273,99 0.190 0.190 0.381
14 TH6 88,40 0.061 0.061 0.123
15 TH7 138,78 0.096 0.096 0.193
Xét theo chu kỳ sinh trưởng của tôm, chất
trong mô hình như là các biên nội của hệ thống tại
các vị trí tương ứng với vị trí ao nuôi dưới dạng
nguồn điểm ở trung tâm khu nuôi và dạng nguồn
phân bố đều theo chiều dọc sông với các khu nuôi
kéo dài dọc sông (trên 1km).
5.3.4. Thông số mô hình
Trong nghiên cứu này, các thông số về độ
nhám (trong mô đun HD), hệ số khuế
ch tán (mô
đun AD) được lấy từ kết quả hiệu chỉnh và
kiểm định cho mô hình xâm nhập mặn [9]. Hệ
số phân huỷ tuyến tính được lựa chọn dựa vào
kiểm định định tính thông qua các số liệu chất
lượng nước hiện có.
5.4. Dự báo tình hình ô nhiễm do nuôi trồng
thủy sản
Để dự báo tình hình ô nhiễm trong khu vực
do hoạt động nuôi tôm nước mặn lợ, cần nghiên
cứu xây dựng các k
ịch bản đặc biệt là dự thảo
về quy hoạch phát triển nuôi tôm nước mặn, lợ
đến 2020. Hai phương án phát triển vùng nuôi
tôm đến năm 2020 có tính đến tác động của
vùng nuôi tôm đến môi trường xung quanh
được đề xuất là:
+ Kịch bản 1: Toàn diện tích tiềm năng
được sử dụng hết làm các hồ nuôi, Q75% tháng
VII tại các biên trên, các hồ chứa và nhu cầu
dùng nước theo quy hoạch đến 2020 và mực
nước biển trung bình, chất lượ
đỉnh của nồng độ ô nhiễm xuất hiện ở khu vực
phía hạ lưu Hiền Lương, gần khu vực cống
ngăn mặn Xuân Hòa.
0.0 2000.0 4000.0 6000.0 8000.0 10000.0 12000.0 14000.0 16000.0 18000.0 20000.0 22000.0 24000.0 26000.0 28000.0
[m]
-8.0
-6.0
-4.0
-2.0
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
22.0
[meter]
1000000.0
1500000.0
2000000.0
2500000.0
3000000.0
3500000.0
4000000.0
4500000.0
Hình 9. Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải lúc
7h00, ngày 24/7.
0
2
4
6
8
10
12
5/15/2007
0:00
5/25/2007
0:00
6/4/2007
0:00
6/14/2007
0:00
6/24/2007
0:00
7/4/2007
0:00
7/14/2007
0:00
7/24/2007
0:00
8/3/2007
0:00
Ngày
Hình 10. Đường biểu diễn BOD và COD theo thời gian trên sông Bến Hải phía trước cống Xuân Hòa.
Xem xét đường quá trình nồng độ BOD
theo thời gian tại điểm trên sông Bến Hải, phía
trước cống Xuân Hòa (hình 10a), thời gian duy
trì nồng độ BOD vượt quá cho phép đối với
nước mặt loại A theo TCVN 1995 - 5942 là 24
ngày tương ứng với thời điểm thay xả nước giai
đoạn 2 và 3. Nồng độ BOD trong nước sông ở
giai đoạn 3 đã vượt gấp 2 lần chỉ tiêu cho phép,
và chỉ đạt chất lượng loại B.
Quy lu
ật biến đổi theo thời gian của COD
cũng tương tự với BOD (hình 10b), tuy nhiên
trạng thái ô nhiễm COD xuất hiện sớm hơn, từ
giai đoạn thay nước thứ nhất, và kể cả so với
tiêu chuẩn dành cho nước mặt loại B thì nồng
độ COD trong giai đoạn xả thay nước cuối cùng
vẫn vượt mức cho phép. N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
55
0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0
[m]
-7.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
9500000.0
10000000.0
10500000.0
11000000.0
[mu-g/m^3]
24-7-2007 11:00:00
SA-LUNG 0 - 13298
0
2468
4516
6817
9133
11083
13298
BOD
0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0
[m]
-7.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
2.0
3.0
4.0
5.0
BOD cực đại xuất hiện muộn hơn trên sông Bến
Hải do ảnh hưởng của thủy triều đẩy nguồn ô
nhiễm lên chậm hơn (hình 11). Giá trị cao nhất
là tại vị trí gần ngã ba sông Bến Tám. Gần
giống như sông Bến Hải, mức độ ô nhiễm COD
cao hơn nhiều so với BOD và là điều cần được
lưu tâm.
0.0 5000.0 10000.0 15000.0 20000.0 25000.0 30000.0 35000.0
[m]
-11.0
-10.0
-9.0
-8.0
-7.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
2.0
3.0
4.0
5.0
6.0
7.0
8.0
2750
5265
7015
9168
10887
13840
16155
19145
21160
22676
23925
THACH-HAN 23925 - 34825
25052
27702
29460
32413
34825
BOD
0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0
[m]
-7.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
CAM-LO 0 - 8866
0
1994
4041
6016
7588
8866
COD
a) BOD b)COD
Hinh 12. Biểu đồ BOD theo dọc sông Thạch Hãn lúc 13h00, ngày 24/7.
0
2
4
6
8
10
12
5/15/2007
0:00
5/25/2007
0:00
6/4/2007
0:00
6/14/2007
0:00
6/24/2007
0:00
7/4/2007
0:00
7/4/2007
0:00
7/14/2007
0:00
7/24/2007
0:00
8/3/2007
0:00
Ngày
COD (mg/l)
b)BOD a) COD
Hinh 13. Đường biểu diễn nồng độ BOD và COD theo thời gian trên sông Thạch Hãn,
điểm gần cầu phao Đông Lễ. N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
56
Xu thế tương tự cũng được quan sát thấy
đối với sông Thạch Hãn, vào các giai đoạn thay
xả nước thứ 2 và thứ 3 thì nồng độ BOD đều
vượt quá tiêu chuẩn dành cho nước loại A. Tuy
nhiên, so với sông Bến Hải, mức độ ô nhiễm
trên sông Thạch Hãn ít hơn rất nhiều, kể cả đối
với chỉ tiêu COD thì chất lượng nước ở đây đều
xấp xỉ tiêu chuẩn nước lo
ại B theo TCVN 1995
- 5942 (hình 13).
Từ đó dẫn đến kết luận sơ bộ rằng, theo
chính tỉnh Quảng Trị. 0.0 2000.0 4000.0 6000.0 8000.0 10000.0 12000.0 14000.0 16000.0 18000.0 20000.0 22000.0 24000.0 26000.0 28000.0
[m]
-8.0
-6.0
-4.0
-2.0
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
22.0
[meter]
1000000.0
1500000.0
2000000.0
2500000.0
3000000.0
3500000.0
4000000.0
4500000.0
57
0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0
[m]
-7.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
2.0
3.0
4.0
5.0
6.0
7.0
8.0
[meter]
0.0
500000.0
1000000.0
1500000.0
2000000.0
2500000.0
3000000.0
3500000.0
4000000.0
4500000.0
22.0
[meter]
3000000.0
4000000.0
5000000.0
6000000.0
7000000.0
8000000.0
9000000.0
10000000.0
11000000.0
12000000.0
13000000.0
14000000.0
15000000.0
16000000.0
17000000.0
18000000.0
19000000.0
20000000.0
21000000.0
22000000.0
23000000.0
24000000.0
[mu-g/m^3]
24-7-2007 08:00:00
BEN-HAI 0 - 18989
0
6231
9831
2.0
3.0
4.0
5.0
6.0
7.0
8.0
9.0
10.0
11.0
12.0
13.0
[meter]
0.0
500000.0
1000000.0
1500000.0
2000000.0
2500000.0
3000000.0
3500000.0
4000000.0
4500000.0
5000000.0
5500000.0
6000000.0
6500000.0
7000000.0
7500000.0
8000000.0
-6.0
-5.0
-4.0
-3.0
-2.0
-1.0
0.0
1.0
2.0
3.0
4.0
5.0
6.0
7.0
8.0
9.0
10.0
11.0
12.0
13.0
[meter]
0.0
1000000.0
2000000.0
3000000.0
4000000.0
5000000.0
6000000.0
7000000.0
8000000.0
23925
THACH-HAN 23925 - 34825
25052
27702
29460
32413
34825
COD
a) BOD b) COD
Hình 16. Biểu đồ BOD và COD theo dọc sông Thạch Hãn lúc 15h00, ngày 24/7.
6. Kết luận
Sự gia tăng về diện tích nuôi trồng thủy sản
nước mặn, lợ ở tỉnh Quảng Trị trong những
năm gần đây dẫn tới sự gia tăng ô nhiễm vùng
hạ lưu hai con sông Bến Hải và sông Thạch
Hãn. Tuy nhiên do khả năng tự làm sạch hiện thời
của hai con sông là lớn nên chưa gây ra hậu quả
nghiêm trọng cho cấp nước sinh hoạt, cho chính
nuôi tôm và các ngành dùng nước khác.
Nồng độ các chất ô nhiễm trong mẫu nước
thải lấy từ một số khu nuôi tôm tập trung vào
thời kỳ thu hoạch lớn hơn nhiều so với tiêu
chuẩn thải nước thải công nghiệp vào vực sông
dùng cho mục đích bảo vệ thủy sinh. Như vậy,
nếu để tình trạng các hộ nuôi thải trực tiếp ra
sông thì nguy cơ ô nhiễm sinh thái là rất lớn.
Dựa vào phân tích đa tiêu chí để
lựa chọn các
giải pháp [2,10], chúng tôi đề nghị xây dựng
có trước [4]. Điều này có thể ảnh hưởng ít nhiều
đến độ tin cậy của kết quả dự báo vì thiếu số liệu
để kiểm chứng một cách định lượng. Tuy nhiên,
do hầu hết các s
ố liệu đo đạc các yếu tố chất
lượng nước cả ở Việt Nam và trên thế giới không
đáp ứng được so với yêu cầu của các mô hình
chất lượng nước (cả về tần suất và số các yếu tố
đo đạc) thì giải pháp giản hoá này mang tính tích
cực và phù hợp với điều kiện hiện nay.
Lời cảm ơn
Bài báo này là một phần kết quả c
ủa dự án
“Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nguồn nước do
nuôi trồng thuỷ sản, vấn đề xâm nhập mặn tỉnh
Quảng Trị và đề xuất các giải pháp góp phần
phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường”
do Sở Tài Nguyên Môi Trường Tỉnh Quảng Trị
làm chủ đầu tư và Đơn vị tư vấn là nhóm
nghiên cứu Thủy văn - Môi trường, Khoa Khí
tượng Thuỷ vă
n và Hải dương học. Trong quá
trình tiến hành, nhóm tác giả đã nhận được sự
tư vấn và tài liệu từ Sở Tài nguyên và Môi
trường và một số chuyên gia thuộc Sở Thủy
Sản (nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn) tỉnh Quảng Trị. Các tác giả xin được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những hợp tác và
giúp đỡ quý báu này.
Tài liệu tham khảo
Mai Van Ha, Assessment of water quanlity
change in shrimp farming ponds in the
mangrove area of proposed Biosphere Reserve
in the Red River Delta - A case study in Giao
Lac Commune, Giao Thuy District, Nam Dinh
province, Final Report of the Research project
funded by MAB/UNESCO, 2004.
[9] Trần Ngọc Anh, Nguyễn Tiền Giang và cộng sự,
Dự báo xâm nhập mặn trên các sông tỉnh Quảng
Trị đến n
ăm 2020, Hội nghị Khoa học Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên 2008 (Tiểu ban Khí
tượng Thuỷ văn - Hải dương học), Hà Nội, 2008.
[10] Nguyen Tien Giang, Tran Anh Phuong et al.,
Using multi-criteria analysis as a tool to select
the feasible measures for sustainable
development of brackish water shrimp culture in
Quang Tri Province, VNU Journal of Science,
Earth Sciences 24 (2008) 16.
N.T.Giangvànnk./TạpchíKhoahọcĐHQGHN,KhoahọcTựNhiênvàCôngnghệ25,Số1S(2009)46‐59
59
Assessment and projection of water resource contamination
due to brackish and saline aqualculture in Quang Tri province
Nguyen Tien Giang, Tran Ngoc Anh, Nguyen Thanh Son,
Tran Anh Phuong, Ngo Chi Tuan, Nguyen Duc Hanh