LỜI CẢM ƠN
Khoá luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, TS.
Đỗ Thuý Mùi.
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến
TS. Đỗ Thúy Mùi đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận.
Em xin được chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo bộ môn Địa lí của
khoa Sử Địa, Ban giám hiệu và các phòng ban chức năng của trường Đại học
Tây Bắc đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành khoá luận.
Em xin được cảm ơn Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Văn hoá, Thể
thao và Du lịch Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn
thành khoá luận.
Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, tạo điều kiện giúp
đỡ để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Khoá luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các thầy
cô giáo và độc giả góp ý để em tiếp tục hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn! Tác giả thực hiện
Sinh viên
Bùi Thị Bưởi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tổng sản phẩm trong nước
10
GTVT
Giao thông vận tải
11
KT - XH
Kinh tế - xã hội
12
QL
Quốc lộ
13
TCLT
Tổ chức lãnh thổ
14
TN
Tài nguyên
15
TP
Thành phố
16
TX
Thị xã
17
VQG
Vườn quốc gia
24
6
1.6
Bảng điểm đánh giá các tuyến du lịch ở Ninh Bình
25
7
2.1
Hiện trạng khách du lịch Ninh Bình giai đoạn
2011- 2013
35
8
2.2
Doanh thu ngành du lịch của Ninh Bình năm 2012
– 2013
36
9
2.3
Thực trạng lao động ngành du lịch Ninh Bình giai
đoạn 2009 - 2013
37
10
2.4
Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn và thâm
niên công tác
38
11
2.5
Số cơ sở lưu trú của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2009
- 2013
39
Trang
1
2.1
Bản đồ Hành chính tỉnh Ninh Bình
28
2
2.2
Bản đồ Tài nguyên du lịch tỉnh Ninh Bình
33
3
2.3
Bản đồ Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình
41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
2.1. Mục tiêu 3
2.2. Nhiệm vụ 3
2.3. Phạm vi nghiên cứu 4
3. Lịch sử nghiên cứu 4
3.1. Ở nước ngoài 4
3.2. Ở Việt Nam 5
3.3. Ở Ninh Bình 6
4. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
4.1. Các quan điểm 6
3.1.3. Định hướng phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020 48
3.2. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch Ninh Bình 54
3.2.1. Các loại hình du lịch 54
3.2.2. Các điểm, cụm và tuyến du lịch 55
3.3. Các giải pháp chủ yếu 73
KẾT LUẬN 77 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, với sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật và công nghệ, xu hướng
quốc tế hoá toàn cầu, du lịch thực sự là nhu cầu không thể thiếu được trong đời
sống văn hoá - xã hội. Hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh
mẽ, trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới.
Hoạt động du lịch đã manh nha hình thành và phát triển từ khi xã hội loài
người bước vào quá trình phân công lao động lớn lần thứ hai, khi nghề tiểu thủ
công được tách khỏi sản xuất nông nghiệp, khi xã hội bắt đầu có sự phân chia
giai cấp. Tuy nhiên, hoạt động du lịch chỉ thực sự phát triển và xuất hiện trên vũ
đài kinh tế thế giới thì phải sau chiến tranh thế giới thứ hai. Theo đánh giá của
Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization), du lịch đã trở thành
một hoạt động quan trọng nhất của đời sống hiện đại và hiện là ngành có mức
tăng trưởng nhanh và có thu nhập cao trên thế giới. Năm 1960, lượng khách du
tìm kiếm cơ hội đầu tư và 37,5 triệu lượt khách nội địa với tổng doanh thu từ
khách du lịch đạt hơn 230.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2012. Định hướng
phát triển du lịch Việt Nam năm 2014 được xác định rõ là tập trung vào chiều
sâu thay vì cách làm diện rộng tràn lan, tự phát như trước nhằm mục tiêu đón 8,3
triệu lượt khách quốc tế, 37,5 triệu lượt khách nội địa, doanh thu về du lịch tăng
250.000 tỷ đồng.
Ninh Bình là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Trong
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIV xác định:
“tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh phong phú về cảnh quan thiên nhiên,
về di tích lịch sử, kiến trúc, về điều kiện giao thông thuận lợi, những cơ sở vật
chất đã được đầu tư xây dựng và những kinh nghiệm trong những năm qua, tạo
bước phát triển về du lịch trong 5 năm nữa. Tập trung làm tốt việc xây dựng và
thực hiện quy hoạch các điểm du lịch trước hết là Tam Cốc – Bích Động, Cố đô
Hoa Lư và thành phố Ninh Bình, từng bước quy hoạch, khai thác các nơi khác
một cách vững chắc có hiệu quả, đồng thời đảm bảo tốt dịch vụ khách sạn, hàng
lưu niệm, tạo điều kiện hết sức thuận lợi và hấp dẫn đối với khách du lịch tại các
điểm và nơi ăn ở, để thu hút khách đến ngày một đông và ở lại dài ngày”. Nghị
quyết Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XX đã nhấn mạnh trong những năm tới phấn 3
đấu đưa Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của
cả nước. Đặc biệt, quyết định số 2845/QĐ - UBND ngày 17/12/2007 về việc Phê
duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định
hướng đến năm 2015 đã nêu rõ định hướng phát triển tổ chức không gian du lịch
với việc quy hoạch thành 7 khu du lịch chính, 9 tuyến du lịch nội tỉnh và 10
tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế.
Mặc dù có những hướng đi mới nhưng ngành du lịch Ninh Bình chưa thực
sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều tài nguyên vẫn ở dạng tiềm năng hoặc
mới đưa vào sử dụng, chưa có quy hoạch cần thiết và cụ thể cũng như chưa có tổ
- Về nội dung:
Đề tài đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình
thông qua việc tìm hiểu các điểm, cụm và tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Giới hạn về nguồn tư liệu:
Các số liệu về kinh tế, xã hội của tỉnh Ninh Bình được sử dụng chủ yếu
từ năm 2000 đến năm 2013. Nguồn cung cấp số liệu là Cục Thống kê tỉnh Ninh
Bình, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình.
3. Lịch sử nghiên cứu
3.1. Ở nước ngoài
Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, buổi ban đầu thường
đi kèm với hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các vùng đất mới.
Tuy nhiên, địa lý du lịch là ngành khoa học tương đối non trẻ. Quá trình hình
thành địa lí du lịch như là một khoa học bắt đầu nửa sau những năm 1930 của
thế kỉ XX. Đối tượng nghiên cứu mở rộng từ việc nghiên cứu địa lí các luồng du
lịch cho đến việc nghiên cứu tài nguyên du lịch và phân vùng du lịch.
Dưới góc độ địa lý du lịch, việc nghiên cứu trên thế giới tập trung chủ yếu
vào 3 hướng: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá tài
nguyên du lịch, tổ chức lãnh thổ (không gian) du lịch.
Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu về đánh giá các thể tổng hợp
tự nhiên phục vụ giải trí (Mukhina, 1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định
của các điểm du lịch (Kadaxkia, 1972; Sepfer, 1973).
Các nhà địa lý Mỹ (Bôha, 1918, 1971), các nhà địa lý Canada (Vônfơ,
1966; Henaynơ, 1972) cũng đã tiến hành đánh giá sử dụng các tài nguyên thiên 5
nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch. I.I. Pirôznhic (1985) đã phân tích: Hệ
thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch là đối tượng quy hoạch và quản lý.
Nhiều nhà địa lý du lịch đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du
lịch là các hệ thống lãnh thổ du lịch hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch tức là xác
Các công trình nghiên cứu về du lịch chưa nhiều, chưa mang tính hệ
thống và chỉ dừng lại ở giới thiệu các điểm du lịch giàu tiềm năng cũng như
những định hướng cho quy hoạch. Nhìn chung, Ninh Bình mới có một số công
trình nghiên cứu là các đề tài như đề tài “Thực trạng và tiềm năng phát triển du
lịch văn hóa ở cố đô Hoa Lư Ninh Bình”, “Nghiên cứu, phát triển du lịch sinh
thái tại khu du lịch Tràng An Ninh Bình”, “Phát triển du lịch theo hướng bền
vững ở tỉnh Ninh Bình”….Các báo cáo tổng kết hoạt động du lịch Ninh Bình
năm 2000 – 2008. Hoạt động 10 năm du lịch Ninh Bình và phương hướng mục
tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch 2005 – 2010.
Các đề tài nghiên cứu về du lịch Ninh Bình bước đầu đánh giá những tiềm
năng để phát triển du lịch trên từng lĩnh vực và ở một số địa phương cụ thể. Mặc
dù còn ít và còn có những hạn chế nhất định nhưng những đề tài trên cũng có
những ý nghĩa nhất định đối với du lịch của tỉnh.
4. Các quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Các quan điểm
Quan điểm nghiên cứu là những tư tưởng cơ bản, có tính nguyên tắc, định
hướng chỉ đạo trong hoạt động nghiên cứu. Đây cũng là thế giới quan của các
nhà nghiên cứu, giúp chúng ta tiếp cận vấn đề một cách khoa học. Các quan
điểm chủ yếu ở đây là: quan điểm tổng hợp lãnh thổ, quan điểm hệ thống cấu
trúc, quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển bền vững, quan điểm thực tiễn.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Quan điểm tổng hợp là những quan điểm truyền thống của khoa học địa
lý. Tính tổng hợp và hệ thống đã trở thành những tiêu chuẩn khoa học không thể
thiếu để đánh giá giá trị của các công trình nghiên cứu địa lý.
Hệ thống lãnh thổ du lịch được xem như là một hệ thống xã hội được tạo
thành bởi nhiều yếu tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử,…Khi nghiên cứu phái xác
định đánh giá các nguồn lực trong mối quan hệ tổng thể đó.
Quan điểm này là cơ sở để đánh giá tổng hợp và đề xuất các định hướng
chính để tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu không chỉ có tính lí luận mà còn là vấn đề có ý
nghĩa thực tiễn to lớn. Các phương pháp nghiên cứu chính được dựa trên những
quan điểm nghiên cứu trên. 8
- Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích
Đây là phương pháp chủ đạo và xuyên suốt trong quá trình thực hiện khóa
luận. Những thông tin, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau vì vậy cần phải chọn
lọc để rút ra những nội dung cần thiết, sau đó được phân tích nhằm đưa ra những
nhận định, những kết luận làm cơ sở định hướng cho việc tổ chức lãnh thổ du
lịch tỉnh Ninh Bình.
- Phƣơng pháp nghiên cứu thực địa:
Địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng luôn gắn bó mật thiết với tự
nhiên và xã hội. Phương pháp nghiên cứu thực địa giúp ta tiếp cận vấn đề một
cách nhanh chóng và chủ động.
Trong quá trình nghiên cứu thực địa chúng tôi đã tiến hành khảo sát ở
nhiều địa điểm du lịch của tỉnh. Các tranh ảnh minh họa trong khóa luận được
chụp tại các điểm du lịch trong suốt quá trình nghiên cứu.
- Phƣơng pháp phân tích số liệu thống kê
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã tiến hành thu thập số liệu. Những số
liệu về hoạt động du lịch lại rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo thời
gian. Vì thế đòi hỏi người nghiên cứu thu thập đầy đủ, sau đó phải tiến hành
phân tích, so sánh, đối chiếu để có những kết quả có độ tin cậy cao. Trên cơ sở
những số liệu đó, chúng ta có thể xây dựng biểu đồ và đưa ra những kết luận
chân thực, chính xác.
- Phƣơng pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp đặc trưng của địa lí. Việc trình bày
những dữ kiện du lịch trên bản đồ là rất cần thiết giúp chúng ta dễ dàng nắm bắt
được những thông tin quan trọng, cập nhật, đáp ứng cho việc đi lại, tham quan,
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình
Chương 2: Đánh giá các nguồn lực chính và thực trạng tổ chức lãnh thổ
du lịch tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh
Bình.
10
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC LÃNH THỔ
DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
1.1. Những khái niệm tổng quan về du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.1. Du lịch và những định nghĩa về du lịch
Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói”, ít gây tác động tiêu
cực lên môi trường tự nhiên hơn so với các ngành kinh tế khác. Trước đây, du
lịch là một đặc quyền dành riêng cho tầng lớp giàu có, quý tộc. Ngày nay, khi
đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng cao thì du lịch trở thành
một nhu cầu xã hội phổ biến. Là một ngành dịch vụ, hoạt động du lịch nhằm
thoả mãn nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp về
văn hoá,…của dân cư ở các vùng miền khác nhau trên thế giới mà thu được lợi
nhuận rất cao.
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch. Định nghĩa
đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811 tại Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp
nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí. Ở
đây giải trí là động cơ chính”.
Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp và tương
tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách,
việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với
với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu
khác.
Du lịch cũng được hiểu là sự lữ hành để nhằm mục đích giải trí hoặc tìm
hiểu, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại của mỗi quốc
gia.
Như vậy, du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch mà còn đề cập
đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các
nhu cầu tại nơi mà khách đi qua và ở lại.
1.1.2. Tổ chức lãnh thổ du lịch
- Tổ chức lãnh thổ 12
Tổ chức lãnh thổ (TCLT) được hiểu là sự sắp xếp các thành phần (đã
đang và dự kiến sẽ có) trong mối quan hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng
nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế,
xã hội, môi trường và phát triển bền vững.
- Tổ chức lãnh thổ du lịch
TCLT du lịch là hình thức tổ chức sản xuất xã hội theo lãnh thổ vì vậy nó
phải giải quyết hai nhiệm vụ chính là kinh tế và xã hội. TCLT du lịch chính là sự
phân hóa không gian của du lịch dựa trên các điều kiện là tài nguyên du lịch,
hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động trong ngành cùng
với các mối liên hệ, với điều kiện phát sinh của ngành với ngành khác, với các
địa phương khác cả trong và ngoài nước.
Như vậy, TCLT du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối
tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các
nguồn lực du lịch như tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác
1.1.3. Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch
- Việc nghiên cứu TCLT du lịch và xây dựng được các hình thức tổ chức
theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có cơ sở sử dụng hợp lí và có
hiệu quả các nguồn lực (nhất là tài nguyên du lịch) của cả nước cũng như từng
địa phương.
- Việc nghiên cứu TCLT du lịch tạo điều kiện đẩy mạnh chuyên môn hóa
du lịch.
- Việc nghiên cứu TCLT du lịch nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du
lịch trên một lãnh thổ nói riêng góp phần quan trọng tạo ra những sản phẩm du
lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch. Sản phẩm du lịch là một trong
những yếu tố quyết định đối với việc thu hút khách du lịch.
- Như vậy, việc nghiên cứu TCLT du lịch có ý nghĩa lớn không chỉ về mặt
lí luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Việc nhận thức chúng một cách đúng đắn sẽ
tạo ra những tiền đề cần thiết để sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực du
lịch để phát triển du lịch nói riêng cũng như phát triển KT – XH nói chung ở các
địa phương và cả nước.
1.1.4. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1.1.4.1. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá điểm du lịch Ninh Bình
- Các chỉ tiêu 14
+ Vị trí của điểm du lịch
Vị trí của điểm du lịch được xác định so với đường quốc lộ, vị trí của
điểm du lịch trong sự phát triển KT - XH của tỉnh.
Các điểm du lịch được đánh giá ở 4 mức độ: rất thuận lợi, thuận lợi, bình
thường và không thuận lợi.
+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên điểm du lịch,
doanh thu và cả sản phẩm du lịch.
Chỉ tiêu đánh giá được tính bằng điểm số như sau:
- Về vị trí địa lí:
Rất thuận lợi: 4 điểm, thuận lợi: 3 điểm, bình thường: 2 điểm, không
thuận lợi: 1 điểm.
- Về số lượng tài nguyên du lịch:
Rất nhiều: 4 điểm, nhiều: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm.
- Chất lượng tài nguyên du lịch:
Cao: 4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm.
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật:
Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm.
- Số lượng khách du lịch:
Đông: 4 điểm, khá đông: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1 điểm.
- Sự kết hợp đồng bộ giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng:
Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm.
- Thang điểm đánh giá:
+ Dựa theo các tiêu chí trên, các điểm du lịch được đánh giá theo hệ số như
sau:
+ Sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ
thuật: hệ số 3.
+ Số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ
thuật: hệ số 2.
+ Vị trí địa lí và số lượng khách du lịch: hệ số 1. 16
Bảng 1.1. Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch
2
8
6
4
2
Số lượng khách du lịch
1
4
4
2
1
Vị trí của điểm du lịch
1
4
4
2
1
Tổng số
54
33
22
11
Các điểm du lịch loại 1 có ý nghĩa quốc gia là những điểm du lịch có
điểm số đánh giá từ 33 đến 54. Điểm du lịch loại 2 có ý nghĩa vùng từ 22 đến
cận 33 điểm. Điểm du lịch loại 3 có ý nghĩa địa phương từ 11 đến cận 22 điểm.
1.1.4.2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá cụm du lịch
- Các chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá các cụm du lịch bao gồm:
Những nơi được đầu tư tốt về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng là những nơi thu hút
khách du lịch. Chỉ tiêu này được đánh giá ở 4 mức độ: tốt, khá, trung bình và
yếu.
- Số lƣợng khách du lịch và doanh thu du lịch
Cụm du lịch có vị trí địa lí thuận lợi, có nhiều điểm du lịch để thỏa mãn
nhiều nhu cầu khác nhau của khách du lịch thì thì số lượng khách du lịch sẽ
đông hơn, và ngược lại, nếu cụm du lịch đó không có nhiều điểm du lịch, không
có nhiều tài nguyên du lịch thì không thu hút khách du lịch.
Số lượng khách du lịch đông thì doanh thu du lịch sẽ lớn. Chỉ tiêu này
được đánh giá ở 4 mức độ: số lượng khách đông, khá đông, trung bình và không
đông.
Doanh thu du lịch được đánh giá theo 4 mức: cao, khá cao, trung bình và
thấp.
Các chỉ tiêu được đánh giá bằng điểm số như sau:
- Vị trí địa lí: 18
Rất thuận lợi: 4 điểm, thuận lợi: 3 điểm, bình thường: 2 điểm, không
thuận lợi:1 điểm
- Về số lượng tài nguyên du lịch:
Rất nhiều: 4 điểm, nhiều: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1
điểm.
- Chất lượng tài nguyên du lịch:
Cao: 4 điểm, khá cao: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, thấp: 1 điểm.
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật:
Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm.
- Số lượng khách du lịch:
Đông: 4 điểm, khá đông: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, ít: 1
điểm.
6
3
Cơ sở hạ tầng CSVCKT
2
8
6
4
2
Vị trí của cụm du lịch
2
8
6
4
2
Số lượng khách du lịch
1
4
3
2
1
Doanh thu du lịch
1
4
3
2
1
Tổng số
60
45
năm.
• Khá tiện lợi là những tuyến du lịch nằm ở trục đường quốc lộ, có thể có
1 hoặc 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ không quá 10 km, nhưng phải hoạt
động được quanh năm.
• Tiện lợi là những tuyến có điểm du lịch nằm gần quốc lộ hay tỉnh lộ, có
từ 1 đến 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ từ 10 đến 20 km.
• Không tiện lợi là những tuyến du lịch có các điểm du lịch nằm cách xa
quốc lộ, tuyến du lịch này không thể hoạt động quanh năm.