Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm phát triển sức nhanh trong chạy 200m - Pdf 22

NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1/ Tên đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm phát triển sức nhanh trong chạy
200m”.
2/ Lý do chọn đề tài
Thể dục Thể thao là một bộ phận không thể thiếu trong nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa, nhằm đào tạo và xây dựng con người mới phát triển toàn diện. Cùng với quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá thì TDTT còn phản ánh sự lớn mạnh của đất nước, tạo ra
sự ổn định chính trị, nâng cao cuộc sống tinh thần văn minh, tạo mối quan hệ hợp tác
hữu nghị giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy Đảng và
nhà nước ta rất coi trọng việc phát triển TDTT nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền
TDTT phát triển tiến bộ có tính dân tộc và khoa học.
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một mặt giáo dục quan trọng không thể
thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu " Nâng cao
dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tai " cho đất nước.
Giáo dục thể chất trong học đường thật sự có vị trí quan trọng trong việc đào tạo
thế hệ trẻ phát triển toàn diện hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ về thể chất để phục vụ
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng.
Để phong trào TDTT nói chung, TDTT nói riêng của đất nước phát triển không
thể coi nhẹ giáo dục thể chất trong trường học. Đó là nhân tố phát hiện, bồi dưỡng và
đóng góp các VĐV tài năng cho đất nước.
Muốn các phong trào TDTT phát triển mạnh cần có những chính sách quan tâm
tạo điều kiện hơn nữa cho giáo dục thể chất trường học phát triển.
Điền kinh là môn thể thao rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt động tự
nhiên của con người: Đi bộ, chạy nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp, ở nước ta môn
điền kinh đã có lịch sử phát triển từ lâu đời, với các hình thức tập luyện đa dạng đã thu
hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng quần chúng tham ra tập luyện và thi đấu. Khi chạy
tất cả các nhóm cơ cùng tham gia hoạt động nhưng chủ yếu là cơ quan nội tạng. Việc
gắng sức luân phiên với thả lỏng tích cực tạo điều kiện cho việc phát triển các tố chất
1
sức nhanh, mạnh, bền, sự mền dẻo, khéo léo và khả năng phối hợp của con người. Môn

năm và cho đến nay một số bài tập không phù hợp với xu hướng huấn luyện hiện đại, do
các bài tập quá đơn điệu chỉ lặp đi lặp lại một bài tập. Ngoài ra còn phải kể đến một số
nguyên nhân khác như kinh phí huấn luyện còn khó khăn, thời gian tập luyện và các điều
kiện khác còn hạn chế.
Để công tác huấn luyện có hiệu quả hơn thì đòi hỏi phải có các phương pháp huấn
luyện tập luyện khoa học hiện đại, phù hợp với lứa tuổi, vì mỗi bài tập phù hợp với từng
đối tượng khác nhau, cho nên phải lựa chọn cho phù hợp để nâng cao và phát triển tố
chất sức bền tốc độ.
Xuất phát từ các yêu cầu nêu trên tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm phát triển sức nhanh trong cự ly 200m
cho nữ VĐV đội tuyển điền kinh trường THCS
III. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Như chúng ta đã biết khi thực hiện một hoạt động mạnh và căng thẳng nào đó thì
sau một khoảng thời gian con người sẽ cảm thấy mết mỏi: Sự mệt mỏi được biểu hiện
như sắc mặt căng thẳng, mồ hôi ra nhiều khi đó trong cơ thể diễn ra biến đổi về sinh
lý khá sâu sắc. Do vậy việc hoạt động trở lên khó khăn hơn, nhưng bằng sự nỗ lực của ý
chí, con người vẫn có thể tiếp tục duy trì hoạt động với cường độ vận động cao người ta
gọi là giai đoạn mệt mỏi có bù, sau đó mặc dù gắng sức như cường độ vẫn giảm sút. Khi
đó con người đã bị mệt mỏi thực sự được gọi là mệt mỏi mất bù. Như vậy có thể hiểu
mệt mỏi là sự giảm sút tạm thời khả năng vận động do vận động gây lên. Sức bền là khả
năng của con người chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó, hoạt động vận động
của con người rất phong phú và đa dạng.
Đặc điểm nổi bật của bài tập này là sự phát lực của hệ cơ là lớn nhất nghĩa là cơ
bắp phải có sức mạnh độ linh hoạt cao.
3
Như vậy trong chạy 200m yếu tố quan trọng quyết định đến thành tích là phát
triển tốc độ.
1.1. Cở sinh lý của sức nhanh trong chạy 200m nữ.
Chạy 200m Nữ là một hoạt động gồm cả quá trình ưa khí và yếm khí xảy ra trong

lần lặp lại, thời gian nghỉ ngơi giữa các nhóm kéo dài 10 - 15 phút.
Hình thức nghỉ ngi tích cực.
Số lần lặp lại tuỳ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV sao cho phù hợp và tốc độ
không bị giảm.
- Để hoàn thiện được cơ chế gluco phân sử dụng các bài tập:
Cường độ bài tập 90 - 95% tốc độ tối đa ở cự ly tương ứng, được sử dụng sau một
số lần lặp lại. Chỉ số tốc độ tuyệt đối có thể giảm đi nhưng vẫn được coi là sấp xỉ với tốc
độ tối đa trong trạng thái hiện có lúc đó của cơ thể từ 2 giây đến 30 giây (60 - 100m)
khoảng cách nghỉ ngơi lên giảm dần sau mỗi lần lặp lại. Cơ sở thực nghiệm, trong đó
người ta nhận thấy cường độ a xít lắc tích của quá trình gluco phân trong máu đạt mức
cao không phải là trong thời gian làm việc mà là trong thời gian nghỉ ngơi. Nợ dưỡng
chiếm khoảng 95% nhu cầu oxi. Mục đích bài tập làm cho cả cơ thể thích nghi trạng thái
nợ ô xy thể hiện ở nồng độ axit lắc tích trong máu cao so với khoảng cách nghỉ ngơi
giảm dần.
1.2. Vai trò của vùng cường độ cực đại trong chạy 200m của nữ
a. Vai trò của vùng cường độ cực đại trong chạy 200m của nữ.
Vùng cường độ cực đại là một loại sức nhanh, do vậy nếu sức nhanh của VĐV tốt
có thể giúp cho VĐV tập luyện kỹ thuật trong chạy 200m được thực hiện trong thời gian
dài hơn, tốc độ cao hơn. Từ đó giúp VĐV có thể thực hiện tốt kỹ thuật, mặt khác sức
nhanh có thể giúp cho sự xuất hiện sự mệt mỏi chậm hơn, duy trì và phát huy được tốc
độ ở cuối cự ly, từ đó tạo ra thế rút đích một cách nhanh nhất và có hiệu quả nhất. Vì vậy
việc huấn luyện để nâng cao sức nhanh hay để đạt được cường độ cực đại trong chạy
200m là rất cần thiết.
5
b. Những nhân tố ảnh hưởng tới tố chất sức nhanh trong chạy 200m .
- Tố chất sức nhanh của chạy 200m nữ có liên quan chặt chẽ với các tố chất khác
- Những nhân tố ảnh hưởng sức nhanh ngoài yếu tố bẩm sinh di truyền của cơ thể
nhưng tỷ lệ giữa sợi cơ màu sáng với sơị cơ màu sẫm và loại hình thần kinh, còn có các
nhân tố ảnh hưởng khác như:
b.1. Đặc tính tâm lý của cá nhân:

năng linh hoạt của các trung tâm thần kinh và dư trữ trong cơ là yếu tố chủ yếu quyết
định khả năng hoạt động của nữ VĐV chạy 200m ở vùng cường độ này.
Xuất phát từ những đặc điểm sinh lý nói trên , vấn đề cần quan tâm trong quá trình
huấn luyện là phải rèn cho nữ VĐV quen dần với điều kiện yếm khí, tập với tốc độ cực
đai hay cả cự ly.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của VĐV nữ lứa tuổi trường THCS.
* Đặc điểm sinh lý .
Đối với nữ VĐV ở lứa tuổi THCS là thời kỳ VĐV đã bước vào tuổi thanh, thiếu
niên vì vậy về mặt sinh lý có những đặc điểm sau:
- Hệ xương khớp.
Lứa tuổi nữ THCS chiều cao phát triển mạnh ,các em nữ ở tuổi 12-15 lớn rất
nhanh. Xương phát triển theo chiều dài và tiếp tục cốt hóa, khung chậu , lồng ngực, cột
sống tiếp tục phát triển.
- Hệ cơ bắp.
Lứa tuổi THCS về hệ cơ kém phát triển nhưng tính đàn hồi cao nên có thể thực
hiện động tác ở biên độ lớn.
- Hệ thống thần kinh .
Lứa tuổi THCS hệ thần kinh của nữ phát triển khá tốt não bộ là 1 tổ chức phát
triển sớm nhất của cơ thể, trọnglượng não bộ đã đạt sấp xỉ trình độ người trưởng thành
các trung khu, nhất là trung khu ngôn ngữ, chữ viết đã phát triển tốt nên khả năng phân
tích tư duy trừu tượng, tư duy lôgíc đã được nâng cao rõ rệt. Tính linh hoạt của quá trình
thần kinh tương đối cao, nhưng vẫn còn độ khuyết tán tương đối cao. Hiện tượng lan tỏa
7
hưng phấn so với ức chế chức năng của hệ thần kinh chịu ảnh hưởng hoạt động của
tuyến nội tiết trong tuổi dậy thì.
- Đặc điểm hệ thống tim mạch.
Hệ thống hô hấp của HS Nữ THCS chưa ổn định do nhu cầu trao đổi chất tăng
cường nên tần số mạch đập của tim còn cao hơn người trưởng thành 5-6L/P
- Hệ hô hấp.
Hệ hô hấp ở lứa tuổi THCS chưa hoàn thiện song sự phục hồi rất cao.

chọn các bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho các em nữ đội tuyển điền kinh
trường THCS .
b.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Phương pháp quan sát sư phạm được tiến hành bằng phiếu quan sát để khảo sát về
số lượng bài tập, lượng vận động của bài tập nhằm tìm hiểu thực trạng việc tập luyện sức
nhanh của nữ vận động viên đội tuyển điền kinh trường THCS b.4. Phương pháp
kiểm tra sư phạm .
Sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm để kiểm tra đánh giá trình độ sức nhanh
của VĐV trước và sau thực nghiệm trên 2 nhóm đối tượng.
b.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Đề tài tiến hành thực nghiệm trên 10 VĐV nữ đội tuyển điền kinh trường THCS
Phú Sơn, chia thành 2 nhóm thực nghiệm.
Nhóm đối chứng ( nhóm 1 ) : 5 VĐV.
Nhóm thực nghiệm ( nhóm 2): 5 VĐV
Trước thực nghiệm đề tài kiểm tra thành tích chạy 200m và 100m để đánh giá
trình độ thể lực của các VĐV.
Thời gian thực nghiệm là 6 tuần, số buổi tập luyện là 3 buổi/tuần vào thứ 3, thứ 5,
thứ 7. Mỗi buổi tập là 120 phút.
9
Mục đích thực nghiệm các bài tập mà chúng tôi lựa chọn nhằm nâng cao cường độ
cực đại cho các VĐV nữ đội tuyển điền kinh.
Cách đánh giá: Sau thực nghiệm, đề tài tiến hành kiểm tra kết quả thực nghiậm
bằng 3 test: chạy 100m, chạy 200m, bật xa tại chỗ 10 bước.
* Kế hoạch huấn luyện tuần.
Các buổi tập được ứng dụng vào các ngày thứ 3, thứ 5, thứ 7, kế hoạch tuần được
thể hiện như sau:
Thứ 3:
- Phần chuẩn bị: + Khởi động nhẹ nhàng chạy 2 x 200m .
+ Các động tác khởi động chung: 6 động tác x 4 lần x 8 nhịp
+ Các động tác xoay các khớp, ép dây chằng.

+ Các động tác khởi động tay không 6 động átc x 4 lần x 8 nhịp
+ Khởi động chuyên môn: chơi trò chơi với bóng 15 - 20 phút .
- Phần cơ bản: + Chạy biến tốc ( 100m nhanh + 100m chậm) x 3 lần x 2 tổ
Yêu cầu chạy nhanh đạt 75 - 80% sức.
Mục đích: nhằm nâng cao sức bền chung.
- Phần kết thúc: Chạy thả lỏng nhẹ nhàng.
Trên cơ sở huấn luyện như trên, ở các tuần sau giảm dần về số lượng vận động,
tăng dần cường độ vận động.
b.6. Phương pháp toán học thống kê.
Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê được trình bày trong cuốn "
Đo lường thể thao" của Dương Ngiệp Chí. Các chỉ số mà chúng tôi quan tâm.
* Giá trị trung bình :
* Phương sai:
* Độ lệch chuẩn:
* So sánh 2 số trung bình với n< 30
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .
11
1. Xác định trình độ sức nhanh của các VĐV nữ đổi tuyển điền kinh trường
Để đánh giá trình độ thể lực nói chung, trình độ sức bền tốc độ nói riêng của các
VĐV nữ đội tuyển điền kinh, chúng tôi sử dụng các test: chạy 100m tôc độ cao, chạy
200m, bật xa tại chỗ 5 bước, kết quả cụ thể được tại bảng 1.
Bảng 1. Kết quả đánh giá sức bền tốc độ của các nữ VĐV trường
STT Nội dung Kết quả (n=5)
Trung bình Đánh giá
1 Chạy 100m tốc độ cao 15

‘’ Yếu
2 Chạy 200m 32 ‘’ Trung bình yếu
3 Bật xa tại chỗ 5 bước 8m Trung bình
Từ kết quả bàng 1 chúng tôi cho rằng sức bền tốc độ của các VĐV nữ đội tuyển

Yêu cầu: Tốc độ đạt 98 - 100% tốc độ tối đa
Thời gian nghỉ giữa các tổ 8 - 10 phút
Nghỉ ngơi: hình thức nghỉ ngơi tích cực
Mục đích : Nhằm nâng cao khả năng yếm khí (phót pho creatin)
Bài tập 4: Các bài tập bật nhảy gồm:
- Bật xa tại chỗ 1 - 10 bước.
- nhảy dây 10s- 15s
- Hoặc ( lò cò) bật đổi chân 3 - 4 lần x 40 - 60m
Mục đích : nâng cao sức mạnh , phản ứng nhanh.
Bài tập 5: Các bài tập hỗn hợp (chạy cự ly giảm dần, tăng dần).
Yêu cầu: - Chạy theo tốc độ tuỳ vào quy định với từng loại.
Chạy 40m-60m-80m-100m x 2 -3 tổ.
Hoặc 100m-80m- 60m- 40m x2- 3 tổ.
13
- Thời gian nghỉ giữa các lần chạy 3 - 4 phút
- Thời gian nghỉ giữa các tổ 5 -7 phút.
3. Đánh giá sử dụng hiệu quả các bài tập được lựa chọn phát triển sức nhanh .
Đánh giá sử dụng hiệu quả các bài tập nhằm giáo dục sức bền tốc độ thông qua
các bài tập, chúng tôi sử dụng 10 học sinh phổ thông chia làm 2 nhóm: Nhóm thực
nghiệm, nhóm đối chiếu. Trong đó nhóm đối chiếu tập luyện bình thường theo giáo viên
giảng dạy, nhóm thực nghiệm tập luyện theo các bà tập đã lựa chọn.
Các chỉ số năng lực sức bền tốc độ thông qua các test kiểm tra tương đối đồng
đều dựa trên các chỉ số sau:
- Bật xa tại chỗ 5 bước ( tính bằng m)
- Chạy 100m tốc độ cao (tính bằng "s")
- Chạy 200m (tính bằng “s”)
Để làm rõ sự khác biệt về sự phát triển thành tích của 2 nhóm ở các nội dung
thực nghiệm, chúng tôi dùng công thức toán thống kê để tính toán.
Trước khi bước vào thực nghiệm chúng tôi tiến hành ổn định kiểm tra thành tích
ban đầu ( bằng các test) cả 2 nhóm đều thu được kết quả tương đương nhau, kết quả

Nhìn vào bảng 2. ta thấy T /tính < T bảng nên sự khác nhau về thành tích giữa
nhóm đối chiếu và nhóm thực nghiệm là không có ý nghĩa ở ngưỡng xác suất P<5% .
14
* Sau khi thực nghiệm chúng tôi kiểm tra thành tích tại tuần 6 .
Buổi thứ nhất:
Sau khi khởi động chung và chuyên môn như phần khởi động ở tuần thứ 5 và
thứ 6. Chúng tôi tiến hành kiểm tra thành tích chạy 100m tốc độ cao để so sánh với
nhóm đối chiếu .
Buổi thứ hai:
Sau khi khởi động chung và chuyên môn như buổi thứ nhất. Tôi tiến hành kiểm
tra thành tích tại chỗ bật xa 5 bước để so sánh với thành tích của nhóm đối chiếu.
Buổi thứ ba:
Sau phần khởi động chúng tôi tiến hành thực nghiệm để so sánh thành tích chạy
200m với nhóm đố chiếu.
Kết quả các thành tích chạy 100m, tại chỗ bật xa 5 bước, chạy 200m được thể
hiện trên bảng 2
Bảng 3. kết quả sau thực nghiệm
T
T
test
Thành tích bật xa
tại chỗ 5 bước
Thành tích chạy 100m Thành tích chạy
200m
Đối
chiếu
Thực
nghiệm
Đối chiếu Thực nghiệm Đối
chiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status