PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh của một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường kết hợp với
thực tế đặc thù của Việt Nam, tín dụng là hoạt động chủ yếu và giữ chức năng kinh tế
hàng đầu của các NHTM Việt nam. Tín dụng là một hoạt động tạo ra lợi nhuận chủ yếu
cho các ngân hàng, song hoạt động này chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro, có thể gây ra hậu
quả nặng nề đối với Ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Trong môi trường kinh tế
đầy biến động, rủi ro tín dụng cũng ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Để phát triển ổn
định, việc quản trị rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý
ngân hàng. Do vậy, xác định rủi ro, nguyên nhân của rủi ro và tìm ra các giải pháp để
ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng luôn được đặt ra cho mỗi ngân hàng.
Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB) được thành lập từ tháng 11/2006 trên
cơ sở góp vốn liên doanh bởi hai “Ngân hàng mẹ” là Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Ngoại Thương Nga (VTB). Sau hơn 04 năm hoạt
động, VRB đã không ngừng mở rộng mạng lưới, ứng dụng công nghệ hiện đại, ban
hành và hoàn thiện các quy trình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ đồng
thời giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Tuy đã có nhiều cố gắng và đạt được thành công
nhất định trong việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, nâng cao chất lượng tín dụng
nhưng công tác quản trị rủi ro tín dụng của VRB vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, cần
điều chỉnh và khắc phục.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng và tìm ra các
giải pháp nhằm phòng tránh và giảm thiểu rủi ro tín dụng là hết sức cần thiết. Do vậy,
tác giả chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Liên doanh Việt Nga” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương
mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của
Ngân hàng Liên doanh Việt Nga.
- Đề xuất giải pháp nhằm quản trị tốt rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Liên doanh
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng về cơ bản, khái niệm tín dụng bao
gồm hai nội dung chủ yếu:
Thứ nhất: Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác
hoặc cam kết cho người khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Thứ hai: Người sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho người sở
hữu với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay tiền lãi.
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cần
đầu tư với người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế hai người này khó có thể phù hợp
được với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; nên để thoả
mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra tập
trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi để phân
phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay. Người đó không ai
khác chính là các NHTM. Việc các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huy động và
phân phối dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh và một số nghiệp vụ ngân hàng khác
được gọi là tín dụng ngân hàng.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17/06/2010, khái niệm
Tín dụng được quy định như sau:
Tín dụng là việc Ngân hàng thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản
tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả sau một
khoảng thời gian nhất định bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
1.1.2 Phân loại tín dụng
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài
hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng cở bản, đầu tư xây
dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc các cơ sở hạ tầng …
1.1.2.3 Phân loại tín dụng theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn
cứ để chia loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
4
4
tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời. Theo quy
định của pháp luật Việt Nam, nợ được phân loại theo các mức độ rủi ro tăng dần như
sau:
- Nợ đủ tiêu chuẩn: Là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
- Nợ cần chú ý: Là các khoản nợ ngân hàng được đánh giá là có khả năng thu hồi
cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
- Nợ dưới tiêu chuẩn: Là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không có khả
năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được ngân hàng đánh giá là
có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
- Nợ nghi ngờ: Là các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
- Nợ có khả năng mất vốn: Là các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng
thu hồi, mất vốn.
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Credium có nghĩa là một sự tin
tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân
gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả
cả gốc và lãi. Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay trở về
với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Mặc dù có nhiều quan niệm
dụng ngân hàng theo hình thức cấp tín dụng, theo thời hạn trong quan hệ tín
dụng, theo tính chất bảo đảm hoặc theo thành phần kinh tế, cụ thể như sau:
1.1.2.1. Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một
thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Một số
hình thức cho vay chủ yếu như cho vay đầu tư dự án, cho vay theo hạn mức tín
dụng, cho vay từng lần, cho vay qua các hình thức thấu chi, phát hành thẻ tín dụng
v.v…
- Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với bên
nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ đã cam
kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận. Bảo
lãnh ngân hàng thường dưới các hình thức sau: Bão lãnh dự thầu, bảo lãnh thực
hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán v.v…
- Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
6
6
khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo
hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Chiết khấu
là việc mua có kỳ hạn hoặc
mua có bảo lưu quyền truy
đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước
khi đến hạn thanh toán; Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển
- Tín dụng đảm bảo bằng uy tín khách hàng (không có TSĐB): Tín dụng
không cần tài sản đảm bảo cấp cho những khách hàng có uy tín, làm ăn thường
xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, có lịch sử quan hệ tín dụng lành
mạnh hoặc giá trị món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Ngoài ra đối
với các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ cũng thường không có TSĐB.
- Tín dụng có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản, khả năng trả nợ của
người thứ ba: Là hình thức ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản để bảo
đảm cho khoản tín dụng bằng việc ký hợp đồng bảo đảm. Theo đó, ngân hàng
thực hiện kiểm tra, đánh giá tình trạng của TSĐB (quyền sở hữu, giá trị, tính thị
trường, khả năng bán, khả năng tài chính của người thứ ba…), có khả năng giám
sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản TSĐB.
1.1.2.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các
căn cứ để chia loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh
giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.
Một số ngân hàng lớn trên thế giới chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu
rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội bảng và ngoại
bảng, cho vay, bảo lãnh, chứng khoán. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ
được phân loại theo các mức độ rủi ro tăng dần như sau:
- Nợ đủ tiêu chuẩn: Là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
- Nợ cần chú ý: Là các khoản nợ ngân hàng được đánh giá là có khả năng
thu hồi cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
- Nợ dưới tiêu chuẩn: Là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không
có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được ngân hàng
đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
- Nợ nghi ngờ: Là các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
- Nợ có khả năng mất vốn: Là các khoản nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi, mất vốn.
1.212 RỦI RO TÍN DỤNGG:
kiếm lợi tức cao nhất có thể từ các khoản tín dụng và đầu tư khá, đồng thời cố gắng
giảm thiểu rủi ro liên quan đến hoạt động tín dụng như sàng lọc và giám sát khách
hàng vay, thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài, quy định các mức tín dụng, TSĐB
và hạn chế tín dụng.
1.21.2 Đặc trưng của rủi ro tín dụng:
1.12.2.1. Rủi ro tín dụng là tất yếu, khách quan
Trước khi cấp tín dụng, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay
sao cho độ an toàn là cao nhất. Nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cấp tín dụng khi
thấy rằng RRTD sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không phải bao giờ ngân hàng cũng dự
tính chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
9
9
bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Một số trường hợp do cán bộ tín dụng của ngân
hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Mặt khác do không
thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của
khách hàng đi vay (người trực tiếp sử dụng tiền vay trong một khoảng thời gian dài),
bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng
(không thu hồi vốn, thu hồi không đúng hạn, không đầy đủ…). Do vậy có thể nói
RRTD là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, RRTD
là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ.
1.
1
2.2.2
.
Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp
ro xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm của khoản tín dụng như các điều khoản trong
hợp đồng tín dụng, các loại TSĐB và mức độ an toàn của TSĐB. Rủi ro nghiệp vụ là
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
10
10
những rủi ro liên quan tới các quá trình thao thác nghiệp vụ tín dụng từ việc xây dựng
và thực hiện các chính sách tín dụng, xem xét và quản lý danh mục cho vay đến việc
xếp hạng tín dụng và xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại chỉ xuất
phát từ những đặc điểm riêng biệt của chủ thể đi vay hay của ngành kinh tế. Rủi ro tập
trung là rủi ro xảy ra khi mức dư nợ của ngân hàng tập trung vào một số khách hàng, một
số ngành kinh tế, một khu vực địa lý hoặc một số hình thức cho vay.
Như vậy, có thể thấy RRTD có thể phát sinh từ rất nhiều khâu trong quá trình cấp
tín dụng do vô số những nguyên nhân khác nhau với tính chất đa dạng và phức tạp.
Dựa trên đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế RRTD, cần áp dụng đồng
bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ dấu hiệu rủi ro nào, đi sau vào tận gốc
rễ của vấn đề để giải quyết. Khi RRTD phát sinh và phải xử lý, sẽ thực hiện xử lý theo
từng nguyên nhân, từng loại hình rủi ro với từng đối tượng khách hàng nhằm đầy lủi
RRTD một cách đơn giản mà hiệu quả chứ không làm gia tăng thêm tính phức tạp.
1.
1
2.2.4
.
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất
kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó
dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con
người. Vì vậy khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra khách hàng cùng ngân hàng sẽ có nguy
cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh không có nguồn thu… điều đó đồng nghĩa với
ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình.
- Môi trường kinh tế:
Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng như
doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường kinh tế. Sự biến động của nền
kinh tế tốt hay xấu sẽ tác động tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng và doanh nghiệp
biến động theo chiều hướng tương tự. Những tác động do môi trường kinh tế gây ra có
thể là trực tiếp với ngân hàng (Ví dụ: những rủi do thay đổi tỷ giá, lãi suất, lạm phát
làm cho ngân hàng bị thiệt về thu nhập) hoặc gián tiếp tác động xấu đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp đều có thể là nguyên nhân dẫn đến RRTD. Trong giai đoạn
kinh tế phát triển, người vay hoạt động hiệu quả nhưng trong giai đoạn khủng hoảng
kinh tế, khả năng trả nợ của người vay sẽ bị giảm sút, làm gia tăng RRTD cho ngân
hàng.
- Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước:
Mỗi một sự thay đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước đều có thể tác động tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ngân hàng. Chính sách kinh tế vĩ mô ổn
định sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp ít bị biến động, do vậy mà việc dự báo
về tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng cũng thuận lợi hơn cho ngân hàng.
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
12
12
Ngược lại, chính sách kinh tế vĩ mô không ổn định thì ngân hàng rất khó có thể phân
tích, dự báo chính xác hoạt động kinh doanh, tài chính của khách hàng trong tương lai
cũng như khó có thể lường trước được những rủi ro khách hàng phải đối mặt, do vậy
ngân hàng không thể đánh giá đúng khả năng trả năng trả nợ của khách hàng trong
tương lai, và sẽ tiềm ẩn rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng.
13
thẩm định, xem xét trước khi ra quyết định cho vay, đầu tư sẽ chặt chẽ hơn, cụ thể
hơn, các tiêu chuẩn để phục vụ cho việc ra quyết định, việc kiểm tra, giám sát cũng
được đặt ở mức cao hơn, và vì thế RRTD của ngân hàng sẽ ở mức thấp hơn.
-+ - Sự yếu kém về công nghệ của ngân hàng: Ngày nay trình độ công nghệ là
yếu tố quan trọng trong tổ chức kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý
RRTD. Vì trình độ công nghệ càng cao càng trợ giúp cho ngân hàng sàng lọc những
khách hàng, ngành nghề đang có mức độ rủi ro cao cũng như các cơ sở dữ liệu thông
tin về từng khách hàng. Ở các nước phát triển, công nghệ ngân hàng cũng rất phát
triển, đặc biệt là trong điều kiện có sự hỗ trợ hết sức hiệu quả của công nghệ thông tin
như ngày nay. Công nghệ ngân hàngNH yếu kém sẽ ảnh hưởng đến mức độ tập trung
thông tin, khả năng phân tích, xử lý thông tin để từ đó rút ra các kết luận, nhận định
phục vụ cho quản trị ngân hàng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, tình hình
phân bổ tài sản, mức độ tập trung rủi ro
-+ - Trình độ của cán bộ ngân hàng: Nguyên nhân của RRTD có thể xuất phát từ sự
hạn chế về khả năng phân tích của cán bộ tín dụng. Nếu yếu kém về chuyên môn, các cán
bộ ngân hàng không thể đánh giá chính xác về khách hàng và dự án vay vốn, từ đó sẽ làm
phát sinh những hợp đồng tín dụng kém an toàn. Ngoài ra, gắn liền với sự hạn chế về khả
năng phân tích là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ. Đánh giá RRTD là một công việc
hết sức phức tạp, đặc thù nghề nghiệp buộc một cán bộ tín dụng vừa phải có trình độ và
phẩm chất đạo đức tốt. Trước sự cám dỗ của vật chất, nhiều cán bộ tín dụng đã sa ngã. Họ
có thể hành động vô nguyên tắc, vô tổ chức, làm trái quy định, gây những tổn thất to lớn
cho ngân hàng.
1.12.344 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng:
Để quản lý nhằm hạn chế RRTD, ngân hàng cần nắm bắt được thực trạng rủi ro
của hoạt động tín dụng. Xét dưới giác độ ngân hàng, RRTD được phán ánh qua các chỉ
tiêu sau đây:
1.12.344.1 Chỉ tiêu nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ 3, 4, 5 theo quy định của Ngân hàng
nhà nướcNHNN tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ của các Tổ
NHNN của Ngân hàng Nhà nướcNHNN; Dự phòng cụ thể là loại dự phòng được trích
lập trên cơ sở phân loại nợ cụ thể các khoản nợ. Số tiền dự phòng cụ thể phải trích
được tính theo công thức:
R = (A-C) x r trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị khoản nợ
C: giá trị tài sản bảo đảm
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
15
15
Dư nợ bình quân
Tỷ lệ DPRR cho biết mỗi đồng vốn ngân hàng cho vay thì cần phải trích lập dự
phòng rủi ro bao nhiêu đồng. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nợ không đủ tiêu chuẩn càng
nhiều, dẫn tới phải trích lập dự phòng lớn. Số tiền nằm trong quỹ dự phòng không được
sử dụng để cho vay, vì vậy nếu tỷ lệ trên quá cao sẽ giảm hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời
cũng phản ánh nguy cơ RRTD cao do có quá nhiều nợ xấu.
1.12.344.3 Khả năng bù đắp rủi ro:
Khả năng bù đắp rủi ro =
DPRR trích trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng khi RRTD xảy ra. Số tiền
trong quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng để bù đắp những tổn thất của RRTD gây ra.
Nếu hệ số trên thấp, có nghĩa là khả năng ngân hàng bù đắp được những mất mát về
tài sản do RRTD gây ra là hạn chế, có thể ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
1.2.4.4 Tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng:
Ngoài việc đo lường và phân tích rủi ro theo các chỉ tiêu, các ngân hàng còn phải
phân tích tình hình phân tán rủi ro theo một số quy định của pháp luật, cụ thể theo
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt
động của tổ chức tín dụng - giới hạn tín dụng đối với khách hàng được quy định
thiểu RRTD cho ngân hàng. Vì vậy tỷ lệ dư nợ có TSBĐ lớn thì rủi ro mất vốn của
ngân hàng sẽ giảm.
Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng cần tính toán mức tổn thất dự kiến trong
hoạt động tín dụng để trích lập quỹ dự phòng rủi ro nhằm bù đắp tổn thất khi xảy ra
RRTD. Do ngân hàng có thể phát mại TSĐB để thu hồi vốn nên giá trị TSBĐ được
khấu trừ khi tính toán mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, trong đó TSĐB có tính
lỏng càng cao thì tỷ lệ khấu trừ càng lớn.
Như vậy để đánh giá chính xác RRTD của ngân hàng thì ngoài chỉ tiêu tỷ lệ dư
nợ có TSBĐ, cần quan tâm đến chất lượng TSĐB thông qua việc đánh giá về chủng
loại TSĐB, giá trị và khả năng phát mại tài sản.
1.12.455. Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.12.455.1. Đối với ngân hàng
a/- Rủi ro tín dụng ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân hàng không thu được gốc và lãi theo
đúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng, thậm chí còn làm mất vốn của ngân hàng. Từ
đó, RRTD sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của ngân hàng dẫn tới làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
17
17
Mặt khác hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cấp tín dụng, nếu
các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn trong khi
đó các khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn. Trong lúc không huy động được
vốn do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên kết quả là ngân hàng gặp khó
khăn trong khâu thanh toán.
b/- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Như đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và thường xuyên nhất của
NHTM, phần lớn thu nhập của ngân hàng có được là từ hoạt động tín dụng. Vì vậy,
khi xảy ra RRTD sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của ngân hàng. Khi phát sinh
các khoản nợ quá hạn, ngân hàng sẽ phải có các khoản chi phí để quản lý, giám sát,
hàng không có những biện pháp để xử lý tốt thì rất có thể ngân hàng sẽ bị phá sản và
sẽ gây ảnh hưởng xấu lan ra trong toàn hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
1.12.455.2. Đối với nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà vốn trong nền
kinh tế và trong sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia. RRTD xảy ra làm ngân
hàng chậm hoặc không có khả năng thu hồi được vốn để tiếp tục cho vay, do đó RRTD
làm giảm vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cung cấp vốn cho nền
kinh tế.
Bên cạnh đó NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư
cách là một trung tâm của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên
với các tổ chức kinh tế, do đó khi RRTD xảy ra có thể gây tổn thất lan truyền đến mọi
tổ chức kinh tế và cá nhân khác. Người gửi tiền bị mất tiền, người vay tiền gặp khó
khăn trong việc huy động vốn dẫn tới tăng chi phí huy động vốn hoặc thiếu vốn cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khó có thể
thanh toán nợ vay sẽ ảnh hưởng tới cả nền kinh tế cũng như đối với các NHTM khác
mà doanh nghiệp đó vay vốn.
Mặt khác, hoạt động ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, hoạt động của một
ngân hàng có ảnh hưởng đến các ngân hàng khác. Khi một ngân hàng đối mặt với tình
trạng RRTD cao, sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng, dẫn đến mất
lòng tin của đối tác kinh doanh và của công chúng. Lúc đó rất có thể ngân hàng sẽ mất
khả năng thanh toán và điều này sẽ gây ra phản ứng lan truyền trong toàn hệ thống
ngân hàng, tác động xấu tới nền kinh tế trong nước.
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
19
19
Nhìn chung rủi ro được xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt
động của NHTM. Rủi ro trong hoạt động tín dụng còn được nhân lên gấp đôi, bởi ngân
hàng không những phải hứng chịu rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình mà
còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Chính vì vậy công tác quản trị RRTD
để bảo đảm an toàn trong hoạt động, nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng của
pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tuy
nhiên đó cũng là công việc rất khó khăn và phức tạp.
Chủ thể của hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng là sự thống nhất của nhiều
cấp độ: của Hội đồng quản trị của ngân hàng, của Ban Giám đốc, của bộ phận quản lý
rủi ro tín dụng và ngay bản thân mỗi cán bộ tín dụng của ngân hàng.
Mục đích chung nhất của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo rủi ro trong phạm vi
ngân hàng có thể chấp nhận đựơc. Mà mục đích này phụ thuộc vào mục đích hoạt
động của ngân hàng là tối đa hoá giá trị mà ngân hàng hi vọng đựoc xác định trong
điều kiện biến động của môi trường kinh doanh.
1.32.2 Nội dung hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương
mại
Quản trị RRTD nhằm hạn chế RRTD luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà
ngân hàng. Hoạt động quản lý RRTD của NHTM gồm các bước sau:
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
21
21
Xây dựng cơ chế, chính sách quản trịlý RRTD
Tổ chức bộ máy, xây dựng các quy trình, quy định để
triển khai thực hiện chính sách quản trịlý RRTD
Giám sát, kiểm tra việc thực hiện và tuân thủ quy trình,
chính sách về quản trịlý RRTD
Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách và các biện
pháp quản trịlý RRTD
Sơ đồ 1.1: Nội dung quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
(Nguồn: Tài liệu hỗ trợ kỹ thuật Dự án TA2 tái cơ cấu BIDV giai đoạn II)
1.32.2.1 Xây dựng cơ chế, chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng đòi hỏi phải có
sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểm soát chung để
đảm bảo kiểm soát và hạn chế được RRTD.
Chính sách quản trị RRTD là một trong những công cụ quan trọng để quản lý
để đảm bảo rằng hoạt động cấp tín dụng tuân thủ và thoả mãn được những tiêu chuẩn mà
ngân hàng đặt ra trong việc quản trị RRTD là phải thiết lập một hệ thống chính sách, quy
trình, quy định cho vay bằng văn bản. Các quy trình, quy định, chính trong hoạt đông tín
dụng của NHTM nhằm triển khai chính sách quản trị RRTD gồm:
a/ Chính sách tín dụng
Nội dung Chính sách tín dụng bao gồm những nguyên tắc chuẩn mực căn bản
trong hoạt động cấp tín dụng như xác định thị trường mục tiêu, sản phẩm tín dụng,
chính sách khách hàng trong hoạt động tín dụng, các vấn đề về hồ sơ vay vốn, định giá
tiền vay, TSĐB, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng, kiểm tra giám sát tín dụng… Ngoài
ra, một nội dung quan trọng khác của Chính sách tín dụng là xác định những giới hạn
trong hoạt động cấp tín dụng nhằm hạn chế những rủi ro vốn có của hoạt động này.
Những giới hạn này bao gồm: Giới hạn tín dụng chung như Tỷ trọng cho vay trung dài
hạn trong Tổng dư nợ, Dư nợ cho vay tối đa một khách hàng trên vốn tự có, tỷ lệ nợ xấu
trên tổng dư nợ, tỷ lệ dư nợ có TSBĐ trên tổng dư nợ ; Giới hạn tín dụng theo ngành kinh
tế; Giới hạn tín dụng theo xếp hạng tín dụng; Giới hạn tín dụng theo vùng địa lý; Giới hạn
tín dụng theo thời hạn…
Chính sách tín dụng chỉ nêu ra những nguyên tắc và chuẩn mực căn bản trong
hoạt động tín dụng, do vậy nó sẽ được bổ trợ bằng những quy định, quy trình, thủ tục
chi tiết để các đơn vị trong ngân hàng triển khai thực hiện.
Xét ở giác độ vi mô, trong thời gian qua cho thấy Chính sách tín dụng có tính
chất quyết định tới sự thành công hay thất bại của một NHTM. Một Chính sách tín
dụng hợp lý và đúng đắn rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng,
. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
23
23
chỉ rõ phạm vi, trách nhiệm của họ, . Nó giúp ngân hàng hướng tới một danh mục cho
vay hiệu quả và đạt được nhiều mục tiêu như: Tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế
trị
RRTD đối với từng khách hàng cũng
như toàn bộ danh mục tín dụng là việc sử dụng Hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ
(
XHTD
)
.
Hệ thống XHTD là hệ thống bao gồm bộ các chỉ tiêu tài chính và phi tài
chính liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, các thông tin
định lượng và định tính liên quan tới khách hàng. Thông qua việc chấm điểm theo hệ
Trần Kiên- Lớp CH10A-Khoa Sau ĐH- HVNH
24
24
thống này, NHTM sẽ xếp hạng được các khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân
hàng mình. Hệ thống XHTD nội bộ được ngân hàng xây dựng nhằm mục đích phục vụ
quản lý tín dụng toàn hệ thống, cụ thể như sau:
- Hệ thống này sẽ giúp ngân hàng xác định một cách hợp lý, chính xác ở mức
độ cao nhất lượng tổn thất tín dụng theo từng lĩnh vực hay ngành kinh tế. Đây là điều kiện
quan trọng để xây dựng chiến lược trong hoạt động tín dụng đạt chất lượng cao.
- Căn cứ vào các mức xếp hạng, ngân hàng sẽ xây dựng các quy trình tín dụng và
chính sách khách hàng một cách đồng bộ, rõ ràng, chi tiết và cụ thể.
- Kết quả XHTD nội bộ là một trong các căn cứ để đưa ra các phán quyết tín
dụng, giúp cho ngân hàng có thể kiểm soát và đo lường chính xác mức độ rủi ro của