PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu của sự phát triển kinh tế - xã hội,
có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng các nguồn lực khác. Tuy nhiên nguồn lao động trở
thành động lực cho sự phát triển kinh tế khi và chỉ khi mà người lao động đã sử dụng
sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Hay nói cách khác là khi
lao động có làm việc. Chính vì vậy nên một đất nước muốn phát triển thì phải giải
quyết tốt vấn đề lao động và việc làm.
Việt Nam là một nước có quy mô dân số đông, và gia tăng nhanh hàng năm và
được đánh giá là nước có nguồn lao dộng dồi dào, tăng nhanh qua các năm. Tuy nhiên
lao động của nước ta lại phân bố không đồng đều gữa đồng bằng và miền núi, thành
thị và nông thôn và giữa các vùng kinh tế. Hơn thế nữa, chất lượng lao động của nước
ta vẫn còn thấp, tỉ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn cao. Hà Nam là
một tỉnh nằm ở khu vực Đồng bằng sông Hồng. Vì vậy hiện trạng lao động – việc làm
của tỉnh cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến thực trạng chung của lao động – việc làm
của cả vùng Đồng bằng sông Hồng. Hà Nam có diện tích nhỏ 860.5 km
2
, mà dân số
lên tới 791 nghìn người. Là một tỉnh đông dân cư, dân số trong độ tuổi lao động lên tới
60% nên tỉnh có nguồn lao động dồi dào. Tuy nhiên, chất lượng lao động của tỉnh còn
thấp, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp, nền kinh tế còn đang trên dà
phát triển đã tạo sức ép lớn lên vấn đề việc làm. Bên cạnh đó, cơ cấu lao động của tỉnh
còn nhều điểm chưa hợp lý, tỉ lệ lao động thất nghiệp, thiếu việc làm của tỉnh vẫ còn
cao. Đây cũng chính là những vấn đề còn tồn tại trong vấn đề lao động – việc làm của
tỉnh Hà Nam. Dưới sự hướng dẫn của Th.S Ngô Thị Hải Yến, em đã chọn vấn đề
“Thực trạng lao động – việc làm của tỉnh Hà Nam” làm đề làm đề tài nghiên cứu với
mong muốn có thể góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc nghiên cứu về lao
động – việc làm của tỉnh Hà Nam, và đưa ra một số giải pháp, những khuyến nghị để
giải quyết những tồn tại của vấn đề này. Và em mong muốn trong tương lai không xa
mình sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Mục Tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
là một phần của hệ thống địa lí dân cư thuộc hệ thống địa lí kinh tế - xã hội chịu sự tác
động của các nhân tố tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, đề nghiên cứu
vấn đề nguồn lao động chúng ta phải nghiên cứu nó trong sự tác động của hệ thống tự
nhiên, kinh tế - xã hội trong sự vận động và phát triển không ngừng.
4.3 Quan điểm phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiên tại
nhưng không làm ảnh hưởng tới việc đáp ứng những nhu cầu đó của thế hệ tương lai.
2
Quan điểm này đặt trong mối liên hệ kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì
vậy khi nghiên cứu về vấn đề lao động – việc làm của tỉnh Hà Nam, chúng ta phải
quan tâm tới vấn đề tạo việc làm cho người lao động phải đi đôi với việc khia thác, sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hòa giữa
phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của
dân cư.
5. Phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp thu thập và xử lí số liệu thống kê.
Số liệu được tác giả thu thập từ Tổng cục thống kê và Cục thống kê tỉnh Hà Nam,
Chi cục dân số và kế hoạch hóa gia đình của tỉnh Hà Nam và Bộ lao động – thương
binh xã hội, Sở lao động – thương binh xã hội tỉnh Hà Nam.
Một số số liệu thô đã được tác giả xử lí cho phù hợp với nội dung nghiên cứu.
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Từ các tài liệu thu thập được, hệ thống chúng lại một cách hợp lí và phục vụ
đắc lực cho quá trình so sánh, phân tích, đánh giá một cách khách quan, đúng đắn về
lao động – việc làm của tỉnh Hà Nam.
5.3. Phương pháp sử dụng biểu đồ, bản đồ.
Phương pháp sử dụng biểu đồ, bản đồ là một trong những phương pháp đặc
trưng, không thể thiếu trong nghien cứu địa lý. Khi sử dụng phương pháp này sẽ giúp
cho bài nghiên cứu trở nên trực quan, sinh động hơn và có sức thuyết phục cao hơn.
6. Cấu trúc của đề tài.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động – việc làm.
Năng suất lao động = ———————————————— (Đơn vị VND/ người)
Tổng số lao động làm việc bình quân
- Dân số hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lượng lao động hay dân số làm việc)
bao gồm những người đang làm việc và cả những người không có việc làm (thất
nghiệp) nhưng đang tích cực tìm việc làm trong một ngành nào đó của nền kinh tế
trong một khoảng thời gian xác định [tr 96, 20]
Căn cứ vào tổng số thời gian làm việc chia ra: dân số hoạt động thường xuyên và
dân số không hoạt động thường xuyên.
4
Dân số hoạt động thường xuyên: là những người đủ 15 tuổi trở lên có tổng số
ngày làm việc thực tế và số ngày có nhu cầu làm thêm lớn hơn hoặc bằng 183 ngày;
nếu tổng số ngày làm việc thực tế và số ngày có nhu cầu làm thêm nhỏ hơn 183 ngày
là dân số không hoạt động thường xuyên.
- Dân số không hoạt động kinh tế: Bao gồm toàn bộ số người đủ tuổi lao động
trở lên nhưng không tham gia vào hoạt động kinh tế vì các lí do: đang đi học, đang làm
công việc nội trợ trong gia đình, không có khả năng lao động (mất sức, ốm đau) và
những người không có nhu cầu làm việc (được hưởng lợi tức, hưởng thu nhập mà
không phải làm việc) [tr 96, 20]
- Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động: Là tỉ lệ phần trăm những người thuộc lực
lượng lao động chiếm trong tổng số dân trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
được qui định [tr 260, 16]
Trong độ tuổi lao động Ngoài độ tuổi lao động
Không
có khả
năng
lao
động
Không
có nhu
cầu
không
làm
việc
Dân số không hoạt động kinh
tế
Dân số hoạt động kinh
tế
Nguồn lao động
Sơ đồ 1.1. Nguồn lao động và dân số hoạt động kinh tế [tr 96, 20]
- Lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo: Là lao động đang
làm việc trong nề kinh tế, và đã được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ và đã
tốt nghiệp, đã được cấp bằng chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn kĩ
thuật nhất định, nghiệp vụ nhất định bao gồm: sơ cấp nghề, cao đẳng nghề, trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học [tr 40, 18]
- Tỉ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo: Là tỉ lệ số lao động đang làm
việc đã qua đào tạo chiếm trong tổng lao động đang làm việc [tr 40, 18]
- Việc làm: Là mọi hoạt động lao động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập
không bị pháp luật cấm [tr254, 16]
5
- Người có việc làm: Bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên trong khoảng thời
gian tham chiếu 1 tuần đã làm một số công việc được trả lương hoặc trả công bằng tiền
hay hiện vật. Và những người hiện đang có việc làm nhưng trong khảng thời gian tham
chiếu đang tạm thời nghỉ việc nhưng vẫn có những dấu hiệu còn gắn bó với việc làm
của họ (vẫn được trả lương, trả công, được bảo đảm sẽ trở lại làm việc, có thỏa thuận
sẽ trở lại làm việc sau khi nghỉ tạm thời) [tr39,18]
- Người thấp nghiệp: Là những người trong tuần nghiên cứu không làm việc,
nhưng có đi tìm việc làm và sãn sàng làm việc [tr255, 16]
- Người thiếu việc làm: Là những người làm việc dưới 35 giờ 1 tuần, mong
muốn và sẵn sàng làm việc [tr255, 16]
- Tỉ lệ thất nghiệp: Là tỉ lệ phần trăm những người thất nghiệp chiếm trong lực
Những nơi có địa hình không thuận lợi như các vùng núi cao, những nơi băng giá,
hoang mạc là những nơi hoạt động kinh tế khó khăn, ít việc làm nên dân cư thưa thớt
cùng với đó thì nguồn lao động ở những nơi này là rất eo hẹp.
Thêm vào đó những nơi có địa hình khó khăn, đặc biệt là những nơi có địa hình
cao thường là nơi khai thác kinh tế, liên quan đến sự di cư của lao động nam nhiều hơn
lao động nữ, vì vậy cơ cấu nguồn lao động ở đây sẽ có đặc điểm là lao động nam nhiều
hơn nữ.
- Khí hậu: Chi phối mọi hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người, đặc biệt
là trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp. Những nơi có khí hậu thuận lợi cũng thường là
những nơi có dân cư tập trung đông đúc, nguồn lao động dồi dào.
- Đất đai: Mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con người đều phải có đất đai, hơn
nữa đất đai là yếu tố sản xuất quan trọng trong nông nghiệp. Những nơi có đất đai màu
mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, tạo nhiều việc làm cho người lao động, là
những nơi tập trung dân cư đông đúc, và cũng là nơi có nguồn lao động dồi dào.
- Nguồn nước: Nước là nguồn tài nguyên quý giá và cần thiết cho mọi sự sống
trên trái đất, và đối với con người thì nguồn nước lại càng quan trọng, con người cần
nước để đáp ứng cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, để canh tác trong nông nghiệp,
phục vụ các ngành công nghiệp… Chính vì vậy, những nơi có nguồn nước dồi dào, thì
sẽ là những nơi dân cư tập trung đông đúc, và ngược lại.
- Khoáng sản: Là nguồn nguyên, nhiên liệu quan trọng phục vụ cho các ngành
công nghiệp, những nơi có nguồn khoáng sản phong phú thường là những nơi tập
trung các ngành công nghiệp đi cùng với nguồn khoáng sản đó, tạo ra nhiều việc làm
từ đó sẽ thu hút dân cư, và nguồn lao động tới nơi đây, nên nơi đây sẽ là nơi có nguồn
lao động dồi dào. Bên cạnh đó, đặc thù của ngành khai thác khoáng sản là cần nhiều
lao động nam, nên ngoài việc nó gây ảnh hưởng tới quy mô nguồn lao động thì nó còn
ảnh hưởng rất lớn tới cơ cấu lao động.
7
2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội.
Đây là nhân tố hết sực quan trọng quyết định đến sự phát triển, quy mô, cơ cấu
cũng như chất lượng nguồn lao động và tạo việc làm cho người lao động. Điều đó thể
8
Ở mức nào đó việc xuất cư sẽ làm giảm bớt sự tập trung dân số, giảm được sự
thất nghiệp trong lực lượng lao động tại địa phương, tuy nhiên nếu những người xuất
cư, là những người lao động có sức khỏe, có trình độ nghề nghiệp và trình độ chuyên
môn kĩ thuật cao, học vấn cao tham gia xuất cư thì sẽ ảnh hưởng mạnh tới số lượng lao
động, cơ cấu nguồn lao động và đặc biệt là chất lượng nguồn lao động của địa phương
đó theo xu hướng xấu đi.
Với những nơi nhập cư có quy mô lao động nhỏ, nhưng có nhiều nguồn lực và
điều kiện phát triển kinh tế thì lực lượng nhập cư sẽ góp phần tận dụng nguồn lực vốn
có để phát triển kinh tế, góp phần cân đối sự phân bố dân cư và sử dụng lao động. Tuy
nhiên cũng sẽ tạo thêm gánh nặng cho những nơi nhập cư như gánh nặng thất nghiệp,
và vấn đề an ninh xã hội, môi trường.
+ Cơ cấu dân số: góp phần quyết định đến quy mô, cơ cấu nguồn lao động, chất
lượng nguồn lao động.
+ Sự phân bố dân cư: Số dân sinh sống trong từng vùng nhất định được hình
thành mang tính lịch sử và chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế-xã hội. Vì vậy có
những nơi dân cư rất đông đúc, và có những nơi dân cư lại thưa thớt. Sự phân bố đó
thường kéo theo sự phân bố nguồn lao động [tr65, 3]. Ở những nơi dân cư thưa thớt thì
thường thiếu nguồn lao động cho việc khai thác các tiềm lực để phát triển kinh tế-xã
hội, và những nơi này thường có tỉ lệ thất nghiệp của lao động thấp hơn. Ngược lại
những nơi có dân cư tập trung cao là những nơi có nguồn lao động dồi dào. Tuy nhiên
những nơi này đã khai thác tối đa các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên để
phát triển kinh tế, vì vậy mà số lượng việc làm tạo ra không thể đáp ứng đủ cho người
lao động, nên những nơi này cũng là những nơi có tỉ lệ thất nghiệp cao.
- Cơ cấu kinh tế:
+ Cơ cấu ngành kinh tế: Chi phối cơ cấu lao động theo ngành. Nếu cơ cấu ngành
hợp lí góp phần sử dụng nguồn lao động hợp lí, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động
và ngược lại
+ Cơ cấu theo thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế đơn điệu làm cho người
lao động bị gò bó không phát huy được hết khả năng của mình. Thành kinh tế đa dạng,
Năm 2000 2005 2011
0-14 tuổi 31.2 24.5 22.6
15-59 tuổi 59.4 63.3 64.1
Từ 60 tuổi trở lên 8.5 12.2 14.3
Nguồn: Tổng cục thống kê-điều tra dân số, kế hoạch hóa gia đình.
Ta có thể thấy, với cơ cấu dân số trẻ: số người dưới, và trong độ tuổi lao động
chiếm tỉ lệ cao, lượng lao động bổ sung hàng năm lớn. Qua bảng số liệu trên ta có thể
thấy rõ số người trong độ tuổi lao động của khu vực Đồng bằng sông Hồng tăng liên
10
tục trong những năm qua và từ giai đoạn 2005 tới nay đều chiếm trên 60%, năm 2011
đã đạt 64.1% đã thể hiện rõ nguồn lao động của Đồng bằng sông Hồng ngày càng lớn.
Đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức lớn cho sự phát triển về kinh tế-xã hội của
Đồng bằng sông Hồng nới riêng và của nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Bảng 1.2. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Đồng bằng sông Hồng giai
đoạn 2005-2012
Năm 2005 2007 2009 2010 2012
Số lượng (triệu người) 10.7 11.0 11.1 11.4 11.7
Tỷ lệ % so với tổng số
dân.
56.6 57.2 56.6 57.5 57.9
Nguồn: Tổng cục thống kê, và xử lí số liệu từ số liệu của tổng cục thống kê.
Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của khu vực Đồng bằng sông Hồng là tương
đối thấp (75.9% không tính Hà Nội), tỉ lệ này của vùng là thấp nhất cả nước. Do đây là
vùng có nền kinh tế-xã hội tương đối phát triển vì vậy nên những người trong độ tuổi
lao động được đi học nhiều hơn các vùng khác, và những người không có nhu cầu làm
việc, những người nội trợ cũng nhiều hơn. Tuy nhiên qua bảng số liệu ta có thể thấy
lực lượng lao động của khu vực Đồng bằng sông Hồng vẫn tăng tương đối nhanh qua
các năm, giai đoạn 2005-2012 tăng 1 triệu lao động, mỗi năm bổ sung trên 100 nghìn
lao động vào lực lượng lao động của đất nước, cung cấp lao động dồi dào cho các
ngành kinh tế. Vì vậy mà sức ép của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì dân số thành thị của Đồng bằng sông Hồng tăng
liên tục qua các năm, cùng với đó là nguồn lao động tại khu vực thành thị cũng ngày
càng tăng cao.
3.1.2 Chất lượng nguồn lao động.
12
Chất lượng nguồn lao động là một vấn đề rất đáng quan tâm ở Đồng bằng sông
Hồng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế đang ngày càng hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế thì yêu cầu trình độ của lao động ngày càng cao.
Năm 2012 số lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ chuyên môn kĩ thuật
của vùng như sau [17]:
- Số lao động không có chuyên môn kĩ thuật là 81.2%
- Số lao động đã tốt nghiệp các trường dạy nghề là 7.7%
- Số lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng là 6.1%
- Số lao động có trình độ đại học trở lên là 5.0%
Hiện nay Đồng bằng sông Hồng là vùng lao động có trình độ chuyên môn kĩ
thuật cao nhất cả nước. Thể hiện ở số lao động không có chuyên môn kĩ thuật của
vùng là thấp nhất cả nước, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên cao nhất cả
nước. Tuy nhiên với 81.2% lao động không có trình độ chuyên môn kĩ thuật thì cũng
là một con số rất lớn, sẽ gây khó khăn cho vùng trong việc phát triển kinh tế.
Đồng bằng sông Hồng đã và đang rất chú trọng nâng cao chất lượng nguồn lao
động nhằm đáp ứng được đòi hỏi về nguồn lao động có chuyên môn kĩ thuật tốt, tay
nghề cao của nền kinh tế đang ngày càng phát triển như hiện nay ở nước ta. Thể hiện
bằng việc số lao động qua đào tạo Đồng bằng sông Hồng đang ngày càng tăng.
Bảng 1.4. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo của Đồng
bằng sông Hồng và cả nước giai đoạn 2005- 2012 (Đơn vị %)
Năm 2005 2007 2009 2010 2012
Đồng bằng sông
Hồng
16.3 17.8 20.9 20.7 24
Cả nước 12.5 13.6 14.8 14.6 16.6
Nguồn: [10, 15, 17]
Qua bảng trên ta có thể thấy số lao động hoạt động trong khu vực I của vùng đã
giảm mạnh trong giai đoạn 2000-2012 (giảm 23.9 %), số lao động hoạt động trong
khu vực II tăng tương đối nhanh (tăng 15.7%), số lao động trong khu vực III tăng 8.2
%. Đây là chuyển biến tích cực, vì điều này chứng tỏ nền kinh tế của khu vực Đồng
bằng sông Hồng đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa một cách nhanh
chóng. Đây là xu thế tất yếu, tuy nhiên ta có thể thấy rằng số lao động hoạt động trong
ngành nông-lâm-ngư nghiệp vẫn chiếm tới 40.7%. Và số lao động hoạt động trong
ngành dịch vụ vẫn chiếm tỉ lệ khiêm tốn là 29.5%. Trong khi, Đông Nam Bộ là vùng
có trình độ lao động đã qua đào tạo thấp hơn nhưng số lao động làm việc trong ngành
dịch vụ đã lên tới 31.8%, số lao động hoạt động trong khu vực I chỉ còn 34.8%. Điều
này đòi hỏi trong tương lai khu vực Đồng bằng sông Hồng cần có những biện pháp
tích cực hơn để tăng số lao động hoạt động trong khu vực III, Và khu vực II, giảm lao
động trong khu vực I.
14
Đồng bằng sông Hồng phát triển 1 nền kinh tế với các loại hình kinh tế đa dạng
bao gồm kinh tế nhà nước, ngoài nhà nước và khu vực có vồn đầu tư nước ngoài. Vì
vậy lao động của vùng cũng hoạt động ở đủ các loại hình kinh tế như trên.
Hình 1.1. Cơ cấu lao động phân theo loại hình kinh tế năm 2012
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động-việc làm 2012
Ta thấy lao động của khu vực Đồng bằng sông Hồng tập trung chủ yếu ở khu vực
ngoài nhà nước với 86.3%. Số lao động hoạt động trong khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài cũng đã chiếm tỉ trọng tương đối 3.7%. Tuy nhiên, con số này chưa tương xứng
với tiềm năng của vùng. Là một vùng có lao động chất lượng cao nhất cả nước, nhưng
số lao động được làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ có 3.7%.
Trong khi Đông Nam Bộ là vùng có trình độ chuyên môn của lao động đứng thứ 2 cả
nước, nhưng có tới 16.5% lao động đang làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
3.2. Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm.
Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động luôn là mối quan tâm
rất lớn của mỗi quốc gia. Tình trạng này cũng đang là vấn đề khó khăn của vùng Đồng
CHƯƠNG 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LAO ĐỘNG – VIỆC
LÀM CỦA TỈNH HÀ NAM
1. Vị trí địa lí.
Hà Nam là một tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Hồng, có tọa độ địa lý trong khoảng
từ 20
0
22’B đến 20
0
42’B và từ 105
0
45’Đ tới 106
0
10’Đ.
+ Phía Bắc giáp với thành phố Hà Nội.
+ Phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình.
+ Phía Đông Nam giáp với tỉnh Nam Định.
+ Phía Nam giáp với tỉnh Ninh Bình.
+ Phía Tây giáp với tỉnh Hòa Bình.
Hà Nam nằm trên tuyến đường giao thông xuyên bắc – nam (kể cả đường sắt và
đường bộ) và nằm ở vị trí có nhiều đường quốc lộ đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 2.
Với vị trí về giao thông rất thuận lợi như trên thì tỉnh Hà Nam có thuận lợi để phát
triển kinh tế, giao lưu với các tỉnh khác trên cả nước. Đồng thời sẽ tạo thêm việc làm
cho người lao. Và với điều kiện giao thông thuận lợi như trên thì lao động trong tỉnh
cũng có cơ hội để đi kiếm việc làm tại các tỉnh khác một cách dễ dàng, cũng như lao
động ở các tỉnh ngoài có thể dễ dàng đến Hà Nam để tìm kiếm việc làm.
Bên cạnh đó Hà Nam còn có vị trí về mặt kinh tế - xã hội rất thuận lợi.
+ Hà Nam nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 60 km, và tiếp giáp với
nhiều tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ như Nam Định, Hưng Yên nên sẽ
tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Hà Nam phát triển kinh tế xã hội cũng như giao
thương với các tỉnh khác, tạo thêm việc làm cho người lao động.
hay miền núi của tỉnh thì cũng tạo ra nhiều việc làm cho người dân. Chính vì vậy mà
dân cư tập trung ở các vùng đồng bằng cũng không quá chênh lệch so với các vùng
núi. Vì vậy mà nguồn lao động ở hai vùng này cũng không quá chênh lệch. Hơn thế
nữa với việc phát triển nền kinh tế đa dạng, với hướng kết hợp kinh tế của vùng đồng
bằng với kinh tế của vùng đồi núi còn tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Nam sử dụng
nguồn lao động một cách hợp lý, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế với vùng.
2.2. Khí hậu.
Hà Nam cũng như các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
chính vì vậy hàng năm ở đây đều có 2 mùa gió chính:
+ Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước tới tháng 4 năm sau với
thời tiết đặc trưng là lạnh và khô, tạo điều kiện cho Hà Nam phát triển các cây vụ đông
như đậu tương, su hào, bắp cải…
+ Gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 tới tháng 9, gió này từ biển vào nên
mang lượng mưa tương đối lớn cho địa bàn tỉnh, tạo điều kiện cho cây vấy phát triển.
18
Về nhiệt độ thì Hà Nam có nhiệt độ trung bình khoảng 23
0
C. Năm 2012 nhiệt độ
trung bình cả năm trê địa bàn tỉnh lên tới 23
0
C với tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1
nhiệt độ là 12.7
0
C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 nhiệt độ lên tới 29,2
0
C. Số giờ
nắng trung bình trên địa bàn tỉnh là 1153 giờ [6]. Với nền nhiệt độ và số giờ nắng như
trên rất thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển với cơ cấu đa dạng, ngoài các cây
nhiệt đới, thì Hà Nam còn có thể phát triển các cây cận nhiệt vào vụ đông ví dụ như đậu
tương, su hào… và nhiệt độ này cũng rất thuận lợi cho cuộc sống của con người.
-
72.1
61
11.1
-
54.7
43.3
6.7
4.7
63.6
50.3
7.7
5.5
2. Đất phi nông nghiệp
- Đất chuyên dùng
- Đất ở
- Đất có mục đích công cộng
15.9
11.6
4.3
-
18.8
13.7
5.1
-
27.5
15.9
5.7
5.9
32.0
Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Phú Thọ chảy vào lãnh thổ
Hà Nam. Sông Đáy còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình. Trên lãnh thổ Hà
Nam sông Đáy có chiều dài 47,6 km.
Sông Châu khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam. Tại Tiên Phong (Duy Tiên) sông
chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục và
một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục. Sông Sắt là chi lưu của
sông Châu Giang trên lãnh thổ huyện Bình Lục.
Dòng chảy ngầm chuyển qua lãnh thổ cũng giúp cho Hà Nam luôn luôn được bổ
sung nước ngầm từ các vùng khác. Nước ngầm ở Hà Nam tồn tại trong nhiều tầng và
chất lượng tốt, đủ đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Ta có thể thấy tài nguyên nước mặt và nước ngầm của tỉnh Hà Nam đều rất
phong phú cung cấp nguồn nước dồi dào cho các nhu cầu sinh hoạt, cho nông nghiệp
cũng như cho việc sản xuất của con người.
2.5. Tài nguyên khoáng sản.
Theo “Báo cáo quy hoạch khoáng sản chủ yếu đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh
Hà Nam do Viện khoa học địa chất – khoáng sản đánh giá, trữ lượng và chất lượng
khoáng sản của tỉnh hiện tại như sau:
Có 26 mỏ đá xi măng với trữ lượng đá vôi xi măng là 3657.7 triệu tấn(1463.1
triệu m
3
); 1 mỏ đá vôi hóa chất, trữ lượng là 32.8 triệu tấn (13.1 triệu m
3
)
Có 22 mỏ sét xi măng, trữ lượng sét xi măng là 539.6 triệu tấn (359.7 triệu m
3
).
Có 2 mỏ đolômit tại huyện Kim Bảng, trữ lượng là 132.6 triệu tấn (53.0 triệu
m
3
).
cao, sẽ gây nhiều áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh.
- Gia tăng dân số
+ Gia tăng tự nhiên: Giai đoạn từ năm 2000-2012 tỉ suất gia tăng tự nhiên của
Hà Nam liên tục giảm, giảm từ 11.71
0
/
00
(năm 2000) xuống còn 5.1
0
/
00
(năm 2012) do tỉ
suất sinh giảm trong khi đó tỉ suất tử giai đoạn này lại tăng [6]. Tỉ suất gia tăng tự
nhiên của Hà Nam thấp hơn so với khu vực Đồng bằng sông Hồng và cả nước, năm
2012 tỉ suất gia tăng tự nhiên của khu vực Đồng bằng sông Hồng là 8.8
0
/
00
cả cả nước
là 9.9
0
/
00
[18]. Tuy nhiên với tỉ lệ gia tăng tự nhiên như trên thì vẫn còn ở mức cao vì
vậy nên số lao động bổ sung hàng năm cho nguồn lao động của tỉnh vẫn sẽ lớn.
22
+ Gia tăng cơ học:
Bảng 2.3. Tỉ suất nhập cư, xuất cư và tỉ suất gia tăng cơ học giai đoạn 2005-2012
Đơn vị:
0
23
Bảng 2.4. Số người chuyển đến, chuyển đi của các huyện, thành phố năm 2011
(Đơn vị: Người)
Chuyển đến Chuyển đi Di cư thuần
Tp. Phủ Lý 2957 2860 97
Duy Tiên 1242 2248 -1006
Kim Bảng 1950 3347 -1397
Thanh Liêm 1010 1414 -404
Bình Lục 1138 1971 -833
Lý Nhân 1225 2036 -811
Nguồn: Báo cáo dân số và biến động dân số của tỉnh Hà Nam, 2011
Trong địa bàn tỉnh có thành phố Phủ Lý là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị
của tỉnh nên cũng tạo sức hút đối với lao động của các huyện trong tỉnh tới đây làm
việc sinh sống. Bên cạnh đó, còn có cả một phần lao động của một số tỉnh xung quanh
ví dụ như Nam Định tới đây tìm việc làm. Vì vậy mà thành phố Phủ Lý là nơi duy nhất
trên địa bàn tỉnh Hà Nam có tỉ lệ di cư thuần mang giá trị dương, còn lại các huyện
khác chủ yếu là các huyện xuất cư. Do các huyện khác nền kinh tế còn chủ yếu dựa
vào nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ còn ít phát triển. Do vậy thu nhập của người
lao động còn thấp, cuộc sống khó khăn đã đẩy lao động đi tìm kiếm việc làm ở thành
phố hoặc ở các tỉnh lân cận để có nguồn thu nhập cao hơn cải thiện cuộc sống. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển và phân bố lao động trên địa bàn tỉnh.
+ Tỉ lệ gia tăng dân số.
Bảng 2.5. Gia tăng dân số của tỉnh Hà Nam qua các năm
(Đơn vị %)
Năm Gia tăng tự nhiên Gia tăng cơ học Gia tăng dân số
2005 0.95 -0.57 0.38
2008 0.8 -0.05 0.75
2010 0.78 -0.46 0.32
2012 0.77 -0.4 0.4
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ tổng cục thống kê và niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2012.