BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
BÁO CÁO
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHUYÊN ĐỀ:
CƠ SỞ LÝ LUẬN, NGHIỆP VỤ CỦA VIỆC XÂY DỰNG
CHƢƠNG TRÌNH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
THỐNG KÊ
THUỘC ĐỀ TÀI :
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THỐNG KÊ
Ngƣời thực hiện: CN. Ngô Thị Kim Dung
Chủ nhiệm đề tài: CN. Ngô Thị Kim Dung
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Thống kê
Hà Nội, tháng 6/2010
trường sống cho pháp luật. Trong môi trường này pháp luật từng bước được bổ
sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội…Xây dựng Chương trình phổ
biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật thống kê nói riêng là một hoạt
động nhằm phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi đối tượng. Đối với ngành
Thống kê việc xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê
được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận, nghiệp vụ nhất định và cũng xuất
phát từ nội tại của ngành Thống kê.
Chuyên đề “Cơ sở lý luận, nghiệp vụ của việc xây dựng Chương trình phổ
biến, giáo dục pháp luật thống kê” là một chuyên đề thuộc đề tài “Nghiên cứu,
2
xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật về thống kê” sẽ tập trung
nghiên cứu những nội dung sau:
- Nội dung phổ biến giáo dục pháp luật thống kê.
- Cơ sở lý luận, nghiệp vụ của việc xây dựng chương trình phổ biến giáo
dục pháp luật thống kê.
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành chuyên đề không tránh khỏi những
thiếu sót, tác giả chuyên đề rất mong được sự góp ý kiến của bạn đọc.
Trân trọng cảm ơn./.
3
NỘI DUNG
I. Nội dung phổ biến giáo dục pháp luật thống kê
1. Phổ biến, giáo dục pháp luật là gì?
Từ điển Tiếng Việt, “phổ biến” là hoạt động làm cho đông đảo người biết
đến bằng cách truyền đạt trực tiếp hoặc thông qua hình thức nào đó. Còn “giáo
dục” là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh
thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần có được
4
trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Áp dụng các hình thức phổ biến,
giáo dục pháp luật; Triển khai chương trình kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp
luật; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,
rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận…về phổ biến,
giáo dục pháp luật.
Thực tiễn thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và qua các tài
liệu nghiên cứu như báo cáo, đề tài, sách nghiệp vụ về công tác này từ trước
đến nay thì phổ biến, giáo dục pháp luật - một khâu của hoạt động tổ chức thực
hiện pháp luật - được hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt động định hướng có tổ
chức, có chủ định nhằm mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức
pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật
hiện hành.
Xét trên mối quan hệ thực tiễn cũng như yêu cầu, mục đích chung của công
tác này, có thể thấy hai khái niệm phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xét về bản chất của từng hoạt động, thì mục
đích của hoạt động phổ biến là để giáo dục pháp luật. Như vậy, có thể coi đây là
các mức độ, công đoạn tiếp nối nhau, gắn liền với nhau trong quá trình truyền
đạt nội dung pháp luật đến các đối tượng cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, ý
thức pháp luật cho họ. Khi phân tách hai khái niệm này, việc xác định các chủ
thể thực hiện, cách thức thực hiện các hoạt động sẽ khó tách bạch mà có sự
trùng lắp, vì hoạt động giáo dục pháp luật không giới hạn chỉ là việc giáo dục
pháp luật trong nhà trường với các chủ thể và đối tượng cụ thể.
2. Vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê giữ vai trò quan trọng trong
đời sống xã hội, thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất, phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Vai trò này bắt nguồn từ vai trò
và giá trị xã hội của pháp luật. Một trong những vai trò cơ bản của pháp luật
3. Nội hàm phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê
Phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê bao gồm việc phổ biến, giáo dục
những nội dung sau:
6
- Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các
quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình,
bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế,
quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền
hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy
phạm pháp luật mới được ban hành.
- Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, các thỏa thuận quốc tế liên quan đến công tác thống kê.
- Các quy định của pháp luật về thống kê.
- Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích
của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp
luật.
4. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê
Phổ biến, giáo dục pháp luật thống kê được thực hiện thông qua các hình
thức chủ yếu sau:
- Phổ biến pháp luật thống kê trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp
luật thống kê; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật thống kê.
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet,
pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp
luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ
chức, khu dân cư.
- Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật thống kê.
- Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý.
trọng công tác giáo dục tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp
luật vào hệ thống các trường của đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ
thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân. Cán bộ quản lý các cấp từ trung
ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về
8
pháp luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý
thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân”.
“Điều quan trọng để phát huy dân chủ là xây đựng và hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ dân trí,
hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân. Thường xuyên
giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân
dân”.
3
Đồng chí Đỗ Mười - Nguyên Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng
cộng sản Việt nam tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá X cũng
chỉ rõ:
“Việc ban hành pháp luật là quan trọng, song điều quan trọng hơn nữa là
phải giải thích, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thực thi pháp
luật”.
Để đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nhằm “tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” theo tinh thần Nghị quyết số
08/NQ-TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, góp phần vào việc thực hiện “phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm và
tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân”,
ngày 09/12/2003 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 32-
CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục
giáo dục pháp luật trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ
quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và được xã hội
ngày càng quan tâm. Phổ biến, giáo dục pháp luật được coi là một trong những
việc làm quan trọng có ý nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật, các quy phạm, các chuẩn mực
pháp luật từ những quy định "khô khan" trên các văn bản pháp luật đã thấm dần
vào nhận thức và được thể hiện qua hành vi xử sự của mỗi công dân để bước
vào đời sống xã hội.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là kênh dẫn pháp luật đến với xã hội, với đời
sống hàng ngày của mỗi công dân, tạo nên môi trường sống cho pháp luật.
10
Trong môi trường này pháp luật từng bước được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng
yêu cầu quản lý xã hội.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là cơ sở bước đầu để hình thành lòng tin pháp
luật, hình thành cảm xúc pháp luật và hành vi phù hợp pháp luật ở mỗi cá nhân
con người - đây chính là các yếu tố cơ bản của quá trình hình thành ý thức pháp
luật, ý thức công dân.
Chỉ thị số 32- CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã chỉ rõ “phổ biến,
giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng”,
giáo dục đạo đức.
Quá trình đổi mới đất nước, xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa” và một “xã hội công dân” đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, xây
dựng một xã hội trong đó mọi người đều có ý thức tôn trọng pháp luật, tự
nguyện tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần bảo vệ pháp
luật, sống và làm việc theo pháp luật. Để thực hiện mục tiêu này, song song với
a) Hệ thống tổ chức thống kê tập trung: gồm Tổng cục Thống kê, 63 Cục
Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 698 Chi cục Thống kê cấp
huyện.
b) Hệ thống tổ chức thống kê Bộ, ngành
- Trong những năm qua, với sự nỗ lực cố gắng và sự phối hợp chặt chẽ
trong các hoạt động thống kê giữa tổ chức thống kê Bộ, ngành và Tổng cục
Thống kê, công tác thống kê Bộ, ngành đã đạt được những kết quả nhất định.
Thông tin thống kê của các Bộ, ngành cùng thông tin thống kê của Tổng cục
Thống kê đã và đang từng bước được cải thiện cả về số lượng và chất lượng,
góp phần phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính
phủ trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội cả nước, đồng thời phục vụ sự
quản lý, điều hành của từng Bộ, ngành đối với từng ngành, lĩnh vực. Trong thời
gian tới, để đáp ứng nhu cầu đông đảo người dùng tin về thông tin thống kê với
chất lượng cao hơn bảo đảm phản ánh đầy đủ và sát với thực tế hiệu quả hoạt
động của từng ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, thống kê Bộ, ngành
12
cần được kiện toàn cả về tổ chức và nhân sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
giao đồng thời cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Tổng cục Thống kê, từ đó
thúc đẩy Hệ thống Thống kê Nhà nước ngày càng ổn định và phát triển, bảo đảm
hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao.
Bên cạnh Hệ thống tổ chức Thống kê Bộ, ngành, hiện nay, hầu hết các Sở,
Ban, Ngành ở tỉnh không có cán bộ thống kê chuyên trách, chủ yếu là làm việc
theo chế độ kiêm nhiệm để thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo các quyết
định của các Bộ, ngành có liên quan. Trong thời gian qua, mặc dù không có cán
bộ thống kê chuyên trách, nhưng sự phối hợp giữa Cục Thống kê với các Sở,
Ngành, giữa Chi cục Thống kê với các Phòng, Ban có liên quan khá tốt, tạo
điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ngành theo
đúng kế hoạch được giao, bảo đảm được độ tin cậy, thời gian theo quy định.
c) Hệ thống tổ chức thống kê xã, phường, thị trấn
Số công chức làm việc tại các Cục Thống kê tỉnh có quy mô lớn: 987 người,
trong đó 668 người có trình độ từ đại học trở lên, chiếm 67,68%; 29 người có
trình độ cao đẳng, chiếm 2,94%; 267 người có trình độ trung học chuyên nghiệp,
chiếm 27,05%; 20 người có trình độ công nhân kỹ thuật, chiếm 2,03%; 3 người
chưa qua đào tạo, chiếm 0,3%.
Số công chức làm việc tại các Cục Thống kê tỉnh thuộc vùng núi cao: 902
người, trong đó 468 người có trình độ từ đại học trở lên, chiếm 51,88%; 53
người có trình độ cao đẳng, chiếm 5,88%; 355 người có trình độ trung học
chuyên nghiệp, chiếm 39,36%; 19 người có trình độ công nhân kỹ thuật, chiếm
2,11%; 7 người chưa qua đào tạo, chiếm 0,78%.
Số công chức làm việc tại các Cục Thống kê tỉnh còn lại: 2.330 người,
trong đó 1.511 người có trình độ từ đại học trở lên, chiếm 64,85%; 79 người có
trình độ cao đẳng, chiếm 3,39%; 660 người có trình độ trung học chuyên nghiệp,
chiếm 28,33%; 52 người có trình độ công nhân kỹ thuật, chiếm 2,23%; 28 người
chưa qua đào tạo, chiếm 1,20%.
- Trong tổng số 4.828 công chức đang làm việc tại các Cục Thống kê tỉnh,
có 1.830 người đang làm việc tại các cơ quan Cục Thống kê tỉnh, 2.898 người
đang làm việc tại các Chi cục Thống kê huyện, cụ thể:
14
+ Số công chức đang làm việc tại 63 cơ quan Cục Thống kê tỉnh thời điểm
31/12/2010 có 1.830 người, trong đó: tại các cơ quan Cục Thống kê thành phố
trực thuộc Trung ương là 232 người; tại các cơ quan Cục Thống kê tỉnh có quy
mô lớn là 367 người; tại các cơ quan Cục Thống kê tỉnh thuộc miền núi cao là
368 người; các cơ quan Cục Thống kê tỉnh còn lại là 863 người.
+ Số công chức đang làm việc tại 698 Chi cục Thống kê cấp huyện thời
điểm 31/12/2010 có tổng số 2.937 người, trong đó: tại các Chi cục Thống kê cấp
huyện thuộc các thành phố trực thuộc Trung ương là 373 người; tại các Chi cục
Thống kê cấp huyện thuộc các tỉnh có quy mô lớn là 620 người; tại các Chi cục
Thống kê cấp huyện thuộc các tỉnh miền núi cao là 534 người; các Chi cục
sống xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành chuyên đề không tránh khỏi những
thiếu sót, tác giả chuyên đề rất mong được sự góp ý kiến của bạn đọc.
Trân trọng cảm ơn./. 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Thống kê số 04/2003/QH11 ngày 17/6/2003 và các văn bản hướng
dẫn thi hành.
2. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật ngày 20/6/2012.
3. Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 02/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê.
4. Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm
nhìn đến 2030.
5. Quyết định số 1075/QĐ-BKHĐT ngày 26/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch và Đầu tư về việc phê duyệt chương trình ứng dụng, phát triển công nghệ
thông tin và truyền thông của hệ thống thống kê Nhà nước đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020
6. Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.
7. Các Văn kiện Đại hội Đảng.
8. Báo cáo tổng kết năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011
của Vụ Phương pháp chế độ Thống kê và Công nghệ thông tin.
9. Báo cáo tình hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật thống kê ngày
14/10/2008.
10. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Thống kê và các văn bản có liên quan
năm 2011.