PHẦN I : MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế phía Nam, là một trọng điểm kinh tế của cả
nước, chiếm tỉ lệ phần trăm GDP lớn nhất cả nước. Tp Hồ Chí Minh chỉ chiếm 0.6%
diện tích và 7,63% dân số nhưng chiếm tới 20,2 % tổng sản phẩm, 27,9 % giá trị sản
xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2011 , tp.HCM có 6.344.000
lao động, trong đó 139.000 người có độ tuổi ngoài lao động nhưng vẫn tham gia làm
việc. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao
hơn nhiều so với trung bình cả nước.
Với các tiềm năng kinh tế sẵn có như vậy, nên Tp.HCM là miền đất hứa cho những
người muốn đổi đời và tìm cơ hội phát triển. Hàng năm ,một lượng lớn người từ các
miền trên đất nước đổ dồn về thành phố. Trong đó gồm rất nhiều người thuộc các
thành phần khác nhau ( công nhân, sinh viên, thương nhân….), các độ tuổi khác nhau
(trẻ vị thành niên, người trưởng thành, người già,…) cùng với các mục đích khác
nhau (học tập, tìm việc làm, tìm cơ hội đầu tư…). Những người này là nguồn máu
duy trì sự thịnh vượng và phồn vinh cho đô thị phương Nam hoa lệ này. Sự tập trung
ào ạt này cộng với nhu cầu nhà ở của bộ phận dân cư bản địa tạo nên một cơn sốt về
thị trường nhà ở. Họ có quyền tìm cho mình một ngôi nhà, một mái ấm để phục hồi
sức lao động sau ngày làm việc mệt nhọc và hưởng thụ những phúc lợi mà họ góp
phần đem lại. Tuy nhiên, một thực tế nhức nhối là chỉ có một lượng nhỏ người trong
số những người lao động này có đủ khả năng tạo dựng cho mình một ngôi nhà.
Cuộc điều tra nhà đất toàn thành năm 1999 do sở Địa Chính – Nhà Đất tổ chức thực
hiện theo Quyết Định 3376/QĐ-UBĐT của UBND Tp.HCM cho biết : có 1.007.012
ngôi nhà, riêng nhà cấp 3,4 và nhà bợ có tới 803.573 căn, chiếm 79,8% tổng số nhà,
nhà chưa có giấy tờ hợp lệ chiếm 60%. Trong đó, tại các quận ven còn đất nông
nghiệp, nhà chưa có giấy tờ hợp lệ chiếm 70%, còn đối với các quận mới và huyện
ngoại thành thì từ 75% đến 95%.
1
Tăng trưởng kinh tế cần đi đôi với việc tạo nên một sự ổn định và an toàn cho người
lao động. Như vậy mới giúp người lao động toàn tâm toàn ý góp phần vào quá trình
phát triển chung của xã hội. Chính quyền địa phương có trách nhiệm tạo những điều
con và xây nhà”. Ngôi nhà gắn liền với sự ổn định về kinh tế và tinh thần, là niềm tự
hào cả một đời người. Chi phí để tạo ra một căn nhà đối với NTNT là một con số
khổng lồ, có khi cả đời lao động họ cũng không kiếm đủ số tiền đó. Chi phí xây nhà
bao gồm giá cả vật tư, nhân công và giá đất. Vấn đề được đặt ra là ngoài những yếu tố
không thể kiểm soát, phải phụ thuộc vào thị trường như giá đất, giá nhân công thì
những yếu tố khác như công nghệ thi công, vật liệu xây dựng lại dựa vào trình độ
khoa học công nghệ, yếu tố mà chúng ta có thể nắm quyền chủ động.
Tại các nước trên thế giới, và thậm chí ở các nước phát triển, họ cũng phải đối mặt
với vấn đề về nhà ở cho NTNT như chúng ta hiện nay, điều này diễn ra cách đây hơn
nửa thế kỉ (1945-1960). Vấn đề được các nước đặt ra là làm sao cho số lượng sản
phẩm nhiều và giá thấp. Những yêu cầu này chỉ có thể giải quyết được bằng phương
pháp sản xuất hàng loạt (mass production) và lắp ghép (prefab). Phương pháp mà
cách đây gần 1 thế kỉ, Henry Ford sáng chế ra và đưa vào sản xuất trong công nghiệp
chế tạo ô tô. Kết quả là các nước này đã giải quyết rất tốt khi đáp ứng được nhu cầu
về nhà ở cho NTNT.
Công nghiệp lắp ráp hiện nay đã tiến một bước dài về công nghệ. Nó góp phần giảm
giá thành sản phẩm đáng kể và đáp ứng được nhu cầu lớn về số lượng sản phẩm.
Tp.HCM có những điều kiện thuận lợi về kinh tế, xã hội cũng như công nghệ để ứng
dụng phương pháp này vào thực tiễn. Nếu chính quyền thành phố có một tầm nhìn và
3
chính sách đúng đắn, công nghệ này sẽ đem lại một hướng giải quyết khả thi trong
lĩnh vực nhà ở cho NTNT.
Vấn đề nhà ở cho người NTNT phải do một hệ thống mới giải quyết được, nó bao
gồm về chính sách, tài chính, quy hoạch, kỹ thuật, kiến trúc và phương pháp quản lý.
Nhiều đề án đã nghiên cứu các yếu tố trên của vấn đề, trong phạm vi nhỏ hẹp của luận
án, người viết chỉ đưa ra một xu hướng thiết kế kiến trúc nhằm đóng góp một phần
nào đó vào việc đem lại sự an cư cho người dân thành phố.
2.Ý nghĩa và mục tiêu nghiên cứu
Ý nghĩa
Nhà ở cho NTNT có tiêu chí hàng đầu là giá thành thấp. Trong khi đó xu hướng lắp
- Phương pháp nghiên cứu tư liệu, sách báo, tạp chí, thông tin trên mạng.
5.Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn về không gian :
- Nghiên cứu kinh nghiệm về nhà ở cho NTNT theo hướng lắp ghép trong và ngoài
nước để áp dụng cho tp.HCM.
- Nghiên cứu loại hình nhà ở căn hộ và đơn lẻ.
5
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I TỔNG QUAN VỀ NHÀ Ở CHO NGUỜI THU NHẬP THẤP THEO
HƯỚNG LẮP GHÉP (PREFAB HOUSE))
1.1.Lịch sử phát triển của nhà ở cho người thu nhập thấp và nhà ở lắp ghép[1]
1.1.1.Tổng quan về quá trình phát triển nhà ở cho NTNT
a. Khái niệm nhà ở cho NTNT
Cùng với quá trình đô thị hóa là sự tăng cao nhu cầu về nhà ở do người dân đổ dồn về
thành thị tìm việc làm. Đây là một quy luật tất yếu và là một bài toán nan giải cho
chính quyền đô thị phải đối mặt. Người lao động là nguồn máu để nuôi sống và duy
trì sự phồn vinh và thịnh vượng của đô thị, họ có quyền tìm cho mình một nơi cư trú
ổn định. Nhà ở cho NTNT hay còn có thể gọi là nhà ở xã hội vì nó là loại hình nhà
phục vụ cho nhu cầu của một tầng lớp xã hội chưa đủ điều kiện xây nhà.
Theo chỉ thị số 07/2003/CT-UB, ngày 23/04/2003 của UBND TP, đối tượng NTNT
bao gồm :
+ Nhóm 1 : Các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách nhà nước đang làm việc trong
các cơ quan hành chánh sự nghiệp (kể cả các cơ quan Đảng, đoàn thể).
+ Nhóm 2 : Cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế.
+ Nhóm 3 : Sinh viên các trường cao đẳng, đại học.
Theo Nghị định 90/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật Nhà ở, tại điều 24 quy định đối
tượng của nhà ở xã hội không nói đến từ “người thu nhập thấp” tương tự như nhóm 1
và nhóm 2 của chỉ thị 7, nhưng chỉ giới hạn ở đối tượng là cán bộ,công nhận tại các
khu kinh tế, khu công nghiệp (KCN) tập trung, sĩ quan , quân nhân chuyện nghiệp
thị trường. Đối với công nhân hoặc những người có thu nhập thấp, tiền lương cũng chỉ
có thể để duy trì cuộc sống, một phần tiền tiết kiệm họ còn để gánh vác nhiều chi phí
(gởi tiền về phụ giúp gia đình, cưới xin, con cái, bệnh tật…), với nhiều lo toan như
vậy, họ không dám mơ cho mình một mái ấm gia đình nho nhỏ mà đành sống trong
các khu nhà trọ, khu ổ chuột, hoặc những người có điều kiện khá hơn thì ở trọ tại
những nơi có điều kiện tương đối thoải mái hơn.
Các nước trên thế giới đã đối diện với vấn đề này từ rất sớm vì họ trải quá các giai
đoạn phát triển thị trường sớm hơn ta. Ở các nước phương Tây, từ sau Thế chiến thứ
II đã có những thành công nhất định về mặt nhà ở cho NTNT. Những thành công này
một phần là đóng góp của các kiến trúc sư có lương tâm nghề nghiệp và tinh thần xã
hội cao. Những năm 40-50 thế kỉ 20 có rất nhiều trí thức có tên tuổi chịu ảnh hưởng
của chủ nghĩa xã hội, họ luôn muốn đem công sức của mình phục vụ cho xã hội và
cộng đồng. Trào lưu kiến trúc theo chủ nghĩa công năng mà Walter Gropius giương
cao ngọn cờ và Le Corbusier là người phát huy nó lên mức đại chúng là một trong
những trào lưu chủ đạo và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ngoài việc phủ nhận những
giá trị xa hoa và phù phiếm của chủ nghĩa kinh viện, trường phái kiến trúc công năng
còn muốn đem lại một nền kiến trúc trong sáng và phục vụ cho số đông, một nền kiến
trúc vì cộng đồng.
Nhiều kiến trúc sư bậc thầy đã bỏ nhiều công sức và trí tuệ, đóng góp các sáng kiến
về quy hoạch, kiến trúc, kỹ thuật nhằm tạo quỹ nhà theo phương châm “Nhiều, tốt,
rẻ”. Điển hình là công trình tòa nhà ở Marseille, một di sản kiến trúc vĩ đại của nhân
loại về tính nhân văn, một kết tinh của tinh thần cách mạng và những triết lý của chủ
nghĩa công năng của kiến trúc sư bậc thầy Le Corbusier. Qua công trình này, ông còn
nêu ra 2 luận điểm quan trọng trong triết lý kiến trúc của mình. Với tư cách là một nhà
cách mạng kiến trúc, ông đưa ra luận điểm “ Nhà là cái máy để ở” . Và với cái nhìn
8
của một người chủ nghĩa xã hội, ông nâng tầm nghề nghiệp của mình lên một bước,
đó là nhấn mạnh vai trò xã hội của kiến trúc.
Các chung cư mang quy mô một khu ở của Le Corbusier đã giải quyết được một
lượng lớn nhu cầu về nhà ở cho người dân Pháp sau thế chiến vì nhà cửa đã bị tàn phá
Dựng Công Trình tại Hoa Kỳ (The National Association of Building Manufacturers –
NABM) :
- Mobile home (Nhà Di Động) : Một cấu trúc được lắp ráp tại nhà máy và sử
dụng không cố định,, thường có chiều rộng từ 8’(2.4m) đến 14’(4.2m) và chiều
dài hơn 32’(9.6m) được đặt trên một khung gầm để di chuyển đến những địa điểm
không cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn xây dựng địa phương.Thường được định
giá như một động sản, đánh thuế tương tự một xe máy hoặc tài sản cá nhân.
Tuy tên gọi là Nhà Di Động, nhưng loại hình này không phải được thiết kế để di
chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, từ ngày này sang ngày khác. Nó có tên như vậy
vì loại nhà này có thể được vận chuyển dễ dàng, chúng được làm ra để thuận tiện cho
việc du lịch, nhưng số lần di chuyển thì có giới hạn. Đây là loại hình tài sản mà chúng
ta gọi nôm na là nhà trên bánh xe. Nhà Di Động có giá thành rẻ nhất trong 3 loại hình
nhà lắp ráp.
- Modular home (Nhà Mo-đun) : Một cấu trúc cố định bao gồm một hoặc nhiều mô-
đun được lắp ráp tại nhà máy theo tiêu chuẩn xây dựng, được định giá và đánh thuế
như một bất động sản khi xây dựng vào một vị trí cố định.
10
Nhà Mô-đun cũng được vận chuyển nhưng chỉ một lần, từ nhà máy đến công trường
xây dựng, nơi nó được gắn kế vào nền móng. Chúng là loại hình cư trú cố định. Nhà
Mô-đun tại Hoa Kì thường gồm 2 phần, hoặc 2 mô-đun riêng biệt và kết nói với nhau
tại công trường. Hầu hết các nhà sản xuất Nhà Mô-đun tại Hoa Kì đều cung cấp loại
hình nhà gồm 2 mô-đun mà khi kết nối lại có mặt bằng hình chữ nhật (cũng có ngoại
lệ, ví dụ như một nhà sản xuất tung ra sản phẩm có hình chữ A). Theo lý thuyết, thì
không bắt buộc chỉ có 2 mô-đun và hình dạng chữ nhật, nhưng thực tế là như vậy.
- Prefabricated home (Nhà tiền chế) : Các cấu kiện sản xuất tại nhà máy, được
chuyên chở tới công trường để lắp ráp nên công trình hoặc một cấu trúc nhà.
Đây là loại hình nhà có giá trị đắt nhất trong 3 loại, còn có tên gọi là nhà bộ phận
(component house). Nó bao gồm các thành phần được chế tạo và lắp ráp sẵn tại nhà
máy, được chuyên chở tới công trường và lắp đặt vào đúng vị trí bởi các công nhân
lành nghề hoặc chính chủ nhà.
xu hướng tiền chế không lâu sau khi mẫu xe Model T đã đi vào sản xuất.và vào
cuối thập niên 1910, một số công ty bắt đầu các mẫu nhà tiền chế chất lượng cao,
có thể lắp ráp với một sự phong phú về chủng loại.
Công ty Aladdin, được thành lập vào năm 1906, là công ty đầu tiên cung cấp một
ngôi nhà “Kit” lắp ráp thực sự bao gồm các bộ phận được chế tạo trước và đánh
số.Tuy nhiên, công ty đầu tiên và đáng chú ý nhất trong lĩnh vực nhà “kit” là
Sears, Roebuck & Co, họ bán nhà thông qua một danh mục sản phẩm và văn
phòng kinh doanh có gần 100.000 khách hàng từ năm 1908 và 1940. Giá các bộ
nhà “kit” dao động từ $ 650 đến $ 2.500, mỗi bộ nhà “Kit” được vận chuyển bằng
hệ thống bưu điện bao gồm thanh giằng, móng, tường, cửa sổ, cửa đi, các phần
khác, và hộp sơn nhà.(Và đi kèm là một sách hướng dẫn) Giá cả phải chăng, dễ
dàng xây dựng, điều này làm cho khả năng sở hữu nhà của công nhân trở nên gần
12
gũi hơn.Mục tiêu của công ty Sear là làm cho việc sở hữu căn nhà dễ dàng như
việc mua một cái bàn hay một cái ghế.Khái niệm đóng gói và vận chuyển các
thành phần chất lượng cao đi kèm các hướng dẫn chính xác cho người mua nghe
thật hợp lí. Số lượng nhà bán được giúp cho Sears có thể duy trì sự linh hoạt và
cung cấp cho khách hàng một loạt các mẫu thiết kế. Chiến lược tiếp thị khéo léo
thuyết phục hàng nghìn người Mỹ rằng ngôi nhà của công ty Sears sẽ cung cấp
cho họ sự thoải mái và an ninh như những giấc mơ của họ.
Một tương lai ảm đạm cho lĩnh vực nhà ở do sự tàn phá của chiến tranh thế giới I,
các nước châu Âu chấp nhận công nghệ tiền chế như là một giải pháp đem đến
hiệu quả về thời gian và chi phí xây dựng. Anh, Pháp, và Đức đã phát triển hệ
thống tiền chế bằng bê tông và thép trong khi Thụy Điển tập trung vào hệ thống
gỗ. Có lẽ thành tựu nổi bật nhất trong lĩnh vực kiến trúc ở giai đoạn phát triển này
ở Châu Âu thuộc về kiến trúc sư người Pháp Le Corbusier.1914, Ngôi nhà Dom-
Ino của ông định hình một loại khung chịu lực bằng bê tông cốt thép, bao gồm các
sàn, cột và cầu thang, loại bỏ hệ thống tường chịu lực.
Le Corbusier đã phát triển một số chương trình nhà ở sản xuất hàng loạt và là một
người ủng hộ nhiệt thành của thể loại này, điều này thể hiện rõ ràng trong tinh thần
kì đầu, nhưng tác động của nó vào quá trình kiến trúc trong vòng ba mươi năm tới
rất to lớn.
Sears, Aladdin, và các công ty tương tự khác ở Hoa Kỳ được hưởng thành công
lớn với doanh số bán hàng cho sản phẩm nhà kit và họ thấy không có lý do gì để
thay đổi theo những thẩm mỹ công nghiệp của kiến trúc Quốc tế. Họ không cần
phải thay đổi. Nhà tiền chế của họ đã thấm sâu vào nhận thức và văn hóa chung.
14
Ví dụ như Buster Keaton, đóng vai chính trong một bộ phim ngắn về xây dựng
nhà tiền chế. Trong Một Tuần (1921), Buster và cô dâu mới của mình tự hào về
việc kinh doanh trong việc tạo ra ngôi nhà mơ ước, một kiểu nhà tiền chế với các
hướng dẫn rắc rối.
Các nhà thầu xây dựng và kiến trúc sư rất quan tâm đến lời hứa công nghệ nhà sản
xuất hàng loạt và đã thử nghiệm với các vật liệu và công nghệ khác nhau. Năm
1927, Robert Tappan giới thiệu một ngôi nhà khung thép và Buckminster Fuller đã
giới thiệu thiết kế của mình,sau này gọi là nhà Dymaxion.Tuy nhiên, ngành công
nghiệp nhà tiền chế vẫn chậm chạp phát triển Trong cuộc suy thoái kinh tế 1929,
nghành công nghiệp nhà sản xuất hàng loạt đã tạo ra một sự hứng khởi thật sự.
Động lực cho sự hứng khởi đó là niềm hy vọng hệ thống nhà tiền chế sẽ giúp kích
thích nền kinh tế đang tụt hậu.
Ngành công nghiệp nhà ở đi theo mô hình của ngành công nghiệp ô tô để phát
triển các quá trình xây dựng .Và hơn nữa, Cuộc Suy thoái Kinh tế đã nuôi dưỡng
một môi trường mà trong đó nhà được chế tạo tại nhà máy dường như là lựa chọn
thực tế duy nhất. Archibald MacLeish tuyên bố trong một ấn bản năm 1932 của
tạp chí Fortune rằng "Bây giờ, lập luận rằng ngôi nhà chi phí thấp trong tương lai
sẽ được sản xuất toàn bộ, hoặc từng bộ phận, tại các nhà máy trung tâm, và lắp ráp
tại công trường đã lỗi thời. Nói cách khác,nó sẽ được sản xuất theo cùng một cách
như sản xuất ô tô.”
Chi phí thấp hơn có nghĩa là nhiều người Mỹ trung lưu có thể xây dựng nhà cửa. Với
ít hơn $ 2.500, người mua nhà nhận được một bộ chứa khoảng 30.000 bộ phận -
bao gồm tất cả mọi thứ từ gỗ và phần cứng để sơn - cộng thêm một cuốn sách về
Anh tới Massachusetts (Hoa Kỳ) làm nhà ở cho một đội tàu đánh bắt cá.
1849 - nhà Kit được vận chuyển bằng đường sắt để đáp ứng các khu định cư cho
công nhân trong California Gold Rush.
1908 – Công ty Sears bắt đầu một chương trình bán nhà lắp ráp, cuối cùng bán hơn
70.000 căn nhà.
1929 - Buckminster Fuller thiết kế một phiên bản ban đầu nhà ông Dymaxion, với
một mái vòm kim loại có thể dễ dàng tháo rời và vận chuyển. năm 2001, công trình
này được trưng bày trong viện bảo tàng Michigan như là một kiệt tác thiết kế lắp
ráp.
1936 - Frank Lloyd Wright thiết kế Nhà Usonian sử dụng một hệ thống lưới điểm cho
phép lặp lại các chi tiết và kích thước.
1937 - Hiệp hội An toàn xây dựng Mỹ bán 1.000 prefabs cho sharecroppers ở
Missouri. Năm 1940, hơn 10.000 nhà tiền chế được xây dựng.
1946 - Chiến tranh đã kích thích thị trường, nhà tiền chế đóng một vai trò quan trọng
trong Chương trình nhà ở khẩn cấp cho các cựu chiến binh của tổng thống Truman
(Contemporay Housing Program). Lời hứa hỗ trợ của liên bang gần gấp ba số lượng
nhà prefab được xây dựng, đến 280.
1949 - Fuller trình bày Nhà Wichita để phô trương về công nghệ. Có 30.000 đại biểu
quan tâm. Cuối cùng chỉ có hai sản phẩm được xây dựng.
1953 -? Carl Koch thiết kế Nhà Techbuilt, một cấu trúc khung gỗ và hệ thống được
panel hóa. Trở thành một thành công lớn trong thập niên 1950 và đầu những năm
1960.
1960 – Nhà di động chiếm 15% số lượng nhà ở, nhưng việc vội vàng xây dựng chúng
sau chiến tranh mà thiếu sự thiết kế cần thiết đem lại sự kỳ thị vẫn còn đến ngày hôm
nay.
1967 – Hội chợ triển lãm thế giới trình bày kiến trúc của Moshe Safdie, công trình 67
Habitat, một khu nhà ở được xây dựng trên 158 mô-đun.
17
1974 – Kiến trúc sư Israel Zvi Hecker tạo ra các nhà Ramot phức tạp, một cấu trúc tổ
ong tạo ấn tượng được làm bằng 720 phần polyhedric.
cải thiện, và một loạt các cải tiến hoàn thiện bề mặt.
Một nghiên cứu được thực hiện bởi PCA (Hiệp hội Xi măng Portland) chỉ ra rằng
70% của người mua chọn nhà của họ trên cơ sở chi phí . Mặt khác, kiến trúc hợp lý,
linh hoạt, cách âm cách nhiệt tốt cũng là những tiêu chí xem xét tiếp theo. Tuy nhiên,
suy nghĩ đã thay đổi theo thời gian, người mua nhà đã đưa những yếu tố khác như tốc
độ xây dựng nhanh và khả năng thi công dễ dàng vào cân nhắc khi mua một ngôi
nhà.
1.2.2.Vương quốcAnh[4]
Tương tự với Hoa Kỳ, sau chiến tranh thế giới II, Anh quốc đối diện với một nhu cầu
lớn về nhà ở cho người dân do đất nước bị tàn phá năng nề trong chiến tranh. Chính
phủ thành lập Chương trình nhà ở khẩn cấp (Temporary Housing Program) nhằm mục
tiêu cung cấp đủ nhu cầu về nơi cư trú của người dân.
Khi so sánh theo thẩm mỹ kiến trúc ngày nay, lĩnh vực nhà ở tiền chế nhỏ, nhàm chán
và có lẽ không xứng đáng với mở rộng nghiên cứu. Tuy nhiên, bản chất ngoan cường
của nhà tiền chế là bất ngờ đầu tiên. 156.623 bungalows đã được sản xuất cho thuê
dưới sự bảo trợ của Chương trình nhà ở cấp tốc. 1.944 nhà ở tạm thời, mỗi thiết kế có
tuổi đời từ 10-15 năm, mặc dù nhiều công trình đã tồn tại lâu hơn. Bungalow cuối
cùng đã được tháo dỡ tháng 3 năm 1949,về mặt lý thuyết, nước Anh không còn nhà ở
tiền chế nữa đến năm 1964. Tuy nhiên, ngày nay ở Anh và xứ Wales vẫn còn khoảng
67.353 bungalow được sử dụng như chỗ ở tạm thời theo sự sắp xếp của Chương trình
19
Nhà Ở Quốc Gia, hơn 21.014 đã được mua lại bởi chính quyền địa phương và còn giá
trị tài sản. Đến giữa năm 1964, trong 124.455 bungalow được phân bổ ở Anh và xứ
Wales chỉ có 29% - 36.088 bungalow đã được dỡ bỏ. Đến cuối giai đoạn 1945-1966,
32.176% bungalow ở Scotland, khoảng13.585 căn vẫn còn thuộc Chương trình, 671
đã được chuyển giao cho chính quyền địa phương, và 56%, 17.920 bungalow, đã
được dỡ bỏ. Đến cuối năm 1971, ở Scotland các bungalow vẫn còn tồn tại, 3.505
bungalow hoặc 11% số lượng bungalow ban đầu không còn xem như nhà ở tạm thời
mà được liệt vào danh mục tài sản kiên cố.
Việc sử dụng của IBS tại Vương quốc Anh đã trở nên rõ ràng hơn vào giữa những
cụm dân cư liên tục, cụ thể là, khu vực Kanto (Tokyo-Yokohama), khu vực Chubu
(Nagoya) và khu vực Kinki (Osaka và Hyogo). Tuy nhiên, doanh số bán hàng tại thị
trường này đã trải qua một sự suy giảm 0,8% so với năm trước như là kết quả của
cuộc suy thoái kinh tế rotracted đi kèm với sự suy giảm trong chi tiêu của người tiêu
dùng. Mặc dù vậy, xây dựng ngành công nghiệp Nhật Bản vẫn được coi là thiết bị sản
xuất tích hợp cao và tự động và các cơ sở sản xuất các thành phần xây dựng nhà ở và
người mua nhà cung cấp cả kế hoạch sàn chung chung và khả năng để tùy chỉnh.
1.2.4.Singapore
Sau khi thành lập nước, đảo quốc này phải đối mặt với vấn đề giải quyết chỗ ở cho
người dân do quỹ đất của Singapore có hạn và yêu cầu phải cung cấp nhà ở nhanh
chóng để ổn định nền kinh tế. Do đó chính phủ đã hướng đến việc giải quyết nhu cầu
nhà ở bằng phương pháp xây nhà lắp ghép.
Sự cần thiết phải hoàn thành số lượng lớn căn hộ vào đầu những năm 60 đã bắt buộc
Bộ Phát Triển Nhà Ở (HDB) của Singapore áp dụng IBS vào xây dựng. Theo quan
điểm của nhu cầu quan trọng, năm 1963, HDB đã đưa ra phương pháp đúc sẵn đầu
21
tiên bằng cách sử dụng một bảng điều khiển độc quyền của Pháp lớn và hệ thống chế
tạo trên 10 khối tiêu chuẩn 16 căn hộ tầng. Tuy nhiên, các dự án có kinh nghiệm
nhiều vấn đề kỹ thuật và quản lý và phải được hoàn thành theo phương pháp thông
thường cuối cùng.
Mặc dù thất bại trước đó, HDB đã không lùi bước, thực sự là một sáng kiến can đảm
để cố gắng IBS một lần nữa vào năm 1973 và 1979 trong quan điểm về sự cần thiết để
hoàn thành các đơn vị ở 100,000 trong mục tiêu Chương trình Xây dựng lần thứ năm
(1981-1985). Như một kết quả của nỗ lực liên tục, HDB đã thực hiện một thành tựu
đáng kể trong việc áp dụng của IBS cho việc xây dựng các chương trình nhà ở công
cộng.Ngoài ra, thông qua chương trình toàn diện của nó liên tục và hợp tác công
nghiệp, IBS có thể đạt được thị phần đáng kể trong ngành công nghiệp xây dựng
trong những năm gần đây như thể hiện trong hình 2.0.
HDB đã giới thiệu sự đổi mới lớn trong khu vực của các hệ thống xây dựng cuốn tiểu
thuyết trong đó bao gồm ferrocement toàn cho hệ thống, hệ thống phòng tắm đúc sẵn,
Trong kết luận, tổng thể hiệu suất của một IBS là cạnh tranh với các phương pháp xây
dựng thông thường.Kể từ đó, việc sử dụng của IBS là sâu sắc hơn với sự tham gia của
khu vực tư nhân và khu vực công cộng như Trung tâm Nghiên cứu nhà ở Universiti
Putra Malaysia nhằm mục đích thúc đẩy và phát triển hệ thống xây dựng cuốn tiểu
thuyết.
Đó là báo cáo rằng ít nhất 21 nhà cung cấp và nhà sản xuất đang tích cực tham gia
trong việc phổ biến của IBS ở Malaysia (Badir et al, 2002).Phần lớn của IBS là có
nguồn gốc từ Hoa Kỳ, Đức và Úc với thị phần 25%, 17% và 17% tương ứng.Malaysia
của hệ thống sản xuất chỉ chiếm 12%.Điều này cho thấy rằng có một phòng để cải
23
thiện đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển của IBS. Hình 1,0 cho thấy
nguồn của IBS tại Malaysia theo nguồn gốc của quốc gia.
Tại Malaysia, IBS nói chung được chia thành bốn loại, cụ thể là:
a) Hệ thống ván khuôn - bảng hình thức và hình thức nửa đường hầm
b) Khung hình hệ thống - bê tông đúc sẵn và bê tông đúc sẵn thép
c) Bảng điều chỉnh hệ thống bảng điều khiển bánh sandwich, nửa sàn rỗng cốt lõi tấm
và bảng điều khiển cụ thể rắn
d) Khối hệ thống - khối lồng vào nhau, khối rỗng, khối vững chắc và khối nhẹ
Hệ thống bảng mẫu đại diện cho thị phần lớn (32%) tiếp theo là bảng điều khiển bởi
bức tường bê tông đúc sẵn (21%).
Hệ thống khung đúc sẵn tăng phổ biến thấp, bởi vì nó đòi hỏi độ chính xác và vốn xây
dựng cao cao bắt đầu. Hệ thống khối chủ yếu được sử dụng cho tường không cấu trúc
như là một thay thế cho gạch và thạch cao thông thường.
Tại Malaysia, ngành công nghiệp xây dựng đã bị chậm trong việc áp dụng của IBS do
một số lý do:
a) biến động rộng trong nhà theo yêu cầu, tỷ lệ lãi suất cao và chi phí lao động giá rẻ,
làm cho nó khó khăn để biện minh cho đầu tư vốn lớn. Nhà thầu thích sử dụng lao
động xây dựng hệ thống thâm canh truyền thống bởi vì nó dễ dàng hơn để sa thải
công nhân trong thời gian slack.
b) xây dựng hệ thống đầy đủ đúc sẵn đòi hỏi độ chính xác xây dựng cao. Lực lượng
25