BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH ĐỔI VỚI
NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quản lý hành chính công
Mã số: 60 34 82
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
HÀ NỘI - NĂM 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập tại Học viện và cho đến hôm nay để hoàn thành
được luận văn này, tôi kính bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám đốc
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, các thầy, cô Khoa Sau
đại học cùng các thầy cô giáo giảng dạy các môn học trong quá trình học tập tại
Học viện.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Tuyết Mai đã tận
tâm, nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn đến Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang, Ban Quản lý các
KCN tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu, tài liệu
để đưa vào nghiên cứu, dẫn chứng trong luận văn, giúp tôi hoàn thành đề tài tốt
nghiệp này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Giang, tháng 8 năm 2012
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2
LLSX Lực lượng sản xuất
NNL Nguồn nhân lực
SXKD Sản xuất kinh doanh
đầu tư đăng ký. Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN,
KCX chiếm từ 35 - 40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong
đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80%
tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước [17, tr.2].
Có thể khẳng định các KCN và Khu chế xuất đã và đang trở thành điểm thu hút
các nguồn đầu tư nước ngoài, đón nhận các tiến bộ KH – CN và tạo ra những
nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển KT - XH của đất
nước.
Bắc Giang là tỉnh nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa
khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100
km về phía Đông, một tỉnh có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên khoáng
sản. Địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có nhiều vùng
đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu. Kể từ khi có
chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng các KCN đến nay, Bắc Giang
đã xây dựng và phát triển được 11 khu và cụm công nghiệp, đã thu hút được
109 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 11.122 tỷ
đồng. Quá trình phát triển KCN ở Bắc Giang đã đạt được một số thành tựu
quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH.
Tuy nhiên, việc phát triển KCN ở Bắc Giang còn có không ít khó khăn
và thách thức. Sức thu hút các dự án đầu tư vào KCN còn chưa hấp dẫn. Các
KCN chủ yếu mới thu hút các doanh nghiệp chế biến nông sản, hàng dệt may
và một số sản phẩm khác, còn thiếu những dự án sử dụng công nghệ cao. Còn
nhiều bất cập trong giải quyết vấn đề môi trường sinh thái, việc làm và thu
nhập của người dân mất đất do phát triển KCN. Những khó khăn, bất cập đó đã
và đang là những lực cản làm cho các KCN chưa phát huy tốt vai trò đẩy mạnh
CNH, HĐH và phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh.
5
Có rất nhiều yếu tố liên quan tác động đến hiệu quả hoạt động của các
KCN trên địa bàn tỉnh, trong đó đặc biệt là vai trò của nguồn nhân lực quản lý.
Hiện nay, nguồn nhân lực tham gia quản lý các khu công nghiệp tỉnh giữ vai trò
văn thạc sỹ nghiên cứu về hiệu quả kinh tế xã hội của các KCN, các giải pháp
phát triển KCN ở một số địa phương, hoặc nghiên cứu vấn đề việc làm và thu
nhập của người dân có đất bị thu hồi xây dựng KCN, vấn đề nhà ở cho người
lao động làm việc tại KCN v.v Đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc
sỹ nghiên cứu các về vấn liên quan đến KCN, như: "Hoàn thiện chính sách, cơ
chế quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
(qua thực tiễn KCN các tỉnh phía Bắc)" luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hồng
Yến, trường Đại học Thương mại, (1996); "Cung cầu về nhà ở cho công nhân
các KCN hiện nay" luận văn thạc sỹ Kinh tế của tác giả Phạm Xuân Đức, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2005); "Thu nhập của người lao động ở
KCN Tân Bình - quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh", luận văn thạc sỹ
Kinh tế của tác giả Lê Công Đồng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
(2005); "Hiệu quả KT - XH của các KCN ở thành phố Hà Nội" luận văn thạc sỹ
Kinh tế của tác giả Nguyễn Duy Cường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh (2006); “Tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực các
khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai”, luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công của
tác giả Lê Thị Mỹ, Học viện Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh,(2005)…
Đã có một số cuốn sách viết về các vấn đề liên quan đến khu công
nghiệp, như: "Kinh nghiệm thế giới về phát triển Khu công nghiệp, khu chế
xuất và đặc khu kinh tế" của Viện Kinh tế học năm 1994; "Khu công nghiệp và
khu chế xuất các tỉnh phía Nam" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản năm
2002 nhằm đánh giá khái quát về những thành công và hạn chế của các KCN,
KCX tại các tỉnh phía nam nước ta. Cũng trong năm 2002, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư còn tổ chức nghiệm thu đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu mô hình quản lý nhà
7
nước về khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam" nội dung giới thiệu kinh
nghiệm quản lý các KCN, KCX của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và
những hạn chế của mô hình quản lý hiện đang áp dụng tại Việt Nam, trên cơ sở
đó đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các
KCN, KCX trong thời gian tới. Năm 2004, nhà xuất bản Khoa học xã hội đã
điều hành của nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang, từ đó đưa ra những giải nhằm nâng cao năng lực điều hành đối với NNL
quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh.
3.2-Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực điều hành của NNL quản lý các
KCN đối với quá trình phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh.
+ Đánh giá thực trạng năng lực điều hành của NNL quản lý các KCN ở
tỉnh Bắc Giang và tìm nguyên nhân chủ yếu của các thực trạng đó.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực điều hành
của NNL quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm phát huy đa vai
trò nguồn nhân lực quản lý tham gia vào quá trình phát triển KT - XH ở tỉnh
Bắc Giang trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực điều hành của NNL quản lý các KCN
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian nghiên cứu là địa bàn tỉnh Bắc Giang;
+ Về thời gian nghiên cứu: từ khi thành lập Ban Quản lý các khu công
nghiệp của tỉnh Bắc Giang đến nay (từ năm 2002 – năm 2012).
+ Về khách thể nghiên cứu: cán bộ Ban Quản lý dự án Các khu công
nghiệp tỉnh; cán bộ, công chức nhà nước tại các cơ quan trực thuộc UBND tỉnh
9
tham gia vào công tác quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
(Sở Kế hoạch – đầu tư; Sở Tài nguyên và môi trường; Sở Khoa học và công
nghệ; Sở Tài chính; Cục thuế tỉnh; Công an tỉnh Bắc Giang…). Do giới hạn
thời gian nghiên cứu, tại luận văn này chúng tôi không đề cập đến đội ngũ cán
bộ quản lý của các doanh nghiệp tại các KCN.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu:
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN
LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1- LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NNL
QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1.1- Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực quản lý các KCN
1.1.1.1- Nguồn nhân lực:
Trong kinh tế chính trị học, con người được coi là yếu tố trung tâm của
quá trình sản xuất xã hội. Khi đề cập đến lực lượng sản xuất thì con người được
coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự vận
động và phát triển của LLSX, quyết định quá trình sản xuất và năng suất lao
động. Chính vì vậy, NNL là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội.
NNL trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế được xác định là nguồn lực chủ
yếu tạo động lực cho sự phát triển, do đó NNL đóng vai trò là yếu tố cơ bản
hàng đầu quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Trong quá trình SXKD khi nói về vốn, con người được đề cập đến như
một loại vốn, nó đóng vai trò quan trọng, cơ bản và quyết định thành bại của
quá trình này. Đề cập đến vấn đề này thống đốc ngân hàng (WB) cho rằng:
“NNL con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề
nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu. Như vậy nguồn lực con người coi như một
nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác như tiền (tư bản), công nghệ tài nguyên
thiên nhiên, đất đai…
Liên hợp quốc (UN) đề cập đến vấn đề này thì cho rằng: “NNL là tất cả
những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người liên quan đến sự phát
triển của mỗi cá nhân và đất nước”. Trong quan niệm này NNL được xem xét
12
chủ yếu ở phương diện chất lượng con người, cùng với vai trò của nó trong
việc phát triển kinh tế – xã hội.
Có thể điểm thêm một số quan niệm, có nhiều cách đánh giá nhìn nhận
khác nhau về NNL, của một số học giả, nhà nghiên cứu trong nước để thấy
thống văn hoá dân tộc. NNL là nguồn cung cấp sức lao động, là yếu tố cấu
thanh của LLSX mà nó giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sự phát triển
KT – XH của một quốc gia, đồng thời được xem xét là một yếu tố đánh giá sự
phát triển, tiến bộ xã hội của đất nước.
Nói đến NNL là nói đến nguồn lực về con người, nó được nghiên cứu
dưới nhiều khía cạnh. Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội
thì NNL bao gồm sức mạnh cả thể chất, trí tuệ, tinh thần và sự tương tác giữa
các cá nhân trong một tập thể, cộng đồng, trong một xã hội, một quốc gia, được
đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những việc hữu ích.Với tư cách là
yếu tố của sự phát triển KTXH thì NNL là khả năng lao động của xã hội.
Theo những phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
khi xem xét NNL người ta thường xem xét dưới hai góc độ, đó là số lượng và
chất lượng NNL.
Về số lượng: Được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ
tăng NNL. Các chỉ tiêu này liên quan đến chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân
số, tuổi thọ bình quân …NNL đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển KTXH
một đất nước, nếu số lượng không phù hợp không tương xứng với sự phát triển
(cả trong trường hợp thiếu hoặc thừa) sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển.
Như vậy số lượng NNL xã hội bằng tổng số người đang có việc làm, số người
thất nghiệp và số người dự phòng. Đối với doanh nghiệp thì NNL không bao
gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những
người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong doanh nghiệp.
14
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ,
phong cách, động cơ và ý thức lao động. Nói đến chất lượng NNL là nói đến
sức khỏe, trí tụê và phẩm chất đạo đức…ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có
quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành chất lượng NNL. Trong đó
thể lực là yếu tố cơ sở, nền tảng để phát triển, truyền tải tri thức, trí tuệ vào hoạt
động thực tiễn, tinh thần (phong cách đạo đức, tác phong, ý thức…) đóng vai
trò chi phối chuyển hoá thể dục, trí tuệ vào thực tiễn hoạt động. Trí tuệ là yếu
NNL xã hội và NNL doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chính NNL xã hội là nguồn bổ sung, cung cấp NNL cho các doanh nghiệp.
- NNL quản lý, điều hành các KCN: là đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào hoạt động quản
lý, điều hành các KCN. Tạo dựng những dịch vụ công cho hoạt động của KCN,
quản lý hoạt động của các KCN nhằm phát huy tối đa những tác động tích cực
và hạn chế tối thiểu những tác động tiêu cực của các KCN đến nền kinh tế - xã
hội quốc dân.
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, cán bộ
quản lý được hiểu là những người có chức vụ, chức trách điều hành, cầm đầu
trong cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh doanh như Giám đốc, trưởng ban,
trưởng phòng…họ đều là các chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của
một tổ chức.
Cán bộ quản lý được hiểu đó là người điều hành, quản lý, có chức trách
và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn
trong một khâu, một công đọan, một chương trình, dự án…Cán bộ quản lý
được hiểu tương đương với thuật ngữ Manager trong tiếng Anh.
16
Người cán bộ quản lý phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, phải có
năng lực và phẩm chất để điều hành, điều khiển, chỉ huy, tổ chức công việc và
đoàn kết cộng đồng. Người quản lý cần phải có những tố chất chuyên biệt, phù
hợp với điều kiện, yêu cầu, đòi hỏi, thách thức của quá trình phát triển của xã
hội, đòi hỏi của tiến trình lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
1.1.2.3- Nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp địa bàn cấp tỉnh
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP, ngày 14/3/2008 của Thủ tướng
Chính phủ, Nghị định qui định về KCN, KKT, KCX; Chỉ thị số 07/CT-TTg,
ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chính công tác quản lý,
nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công
nghiệp; Các quyết định của UBND các tỉnh về việc ban hành Quy chế phối hợp
quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chỉ rõ mối
nghiệp KCN đều thông qua cơ quan đầu mối là Ban Quản lý các khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh. Như vậy, có thể nói NNL quản lý thuộc Ban Quản lý
các khu công nghiệp ở cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo trong điều hành hoạt động
của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Xuất phát từ hoạt động quản lý các KCN tại địa bàn cấp tỉnh và những
văn bản qui định về hoạt động các KCN, tác giả luận văn đề xuất khái niệm
NNL quản lý các KCN như sau: Nguồn nhân lực quản lý các KCN trên địa bàn
tỉnh là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các Khu công
nghiệp được giao trên địa bàn tỉnh; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung
ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động
đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp.
18
1.1.2- Khái niệm năng lực, năng lực điều hành
1.1.2.1- Khái niệm về năng lực:
Từ năng lực có rất nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ này.
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1996 thì năng lực là “khả năng làm việc
tốt”. Theo gốc và nghĩa của từ Việt thông dụng thì năng lực được chia ra: năng
là làm nổi việc, lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có thể làm
nổi việc.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ thì năng lực được hiểu là
“khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có thể thực hiện một công việc
nào đó”.
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một
hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các
năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lực
của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác,
do tập luyện.
Theo sách Tâm lý học trong xã hội và quản lý của PTS Bùi Ngọc Oánh
thức thu thận được trong lĩnh vực nào đó vào thực hiện công việc. Kỹ năng
được thể hiện trong mức độ thành thạo, kỹ xảo trong thực hiện công việc.
Thành thạo do đã quen làm và có kinh nghiệm. Kỹ xảo là kỹ năng đạt đến mức
thành thục. Kỹ năng của một cá nhân được hình thành thông qua quá trình thực
hiện công việc hay còn gọi là thâm niên, kinh nghiệm công tác. Những người
làm việc lâu năm và thường xuyên thì có nhiều kinh nghiệm, có kỹ năng cao và
ngược lại. Tuy nhiên, kỹ năng của mỗi người còn phụ thuộc vào yếu tố bẩm
sinh, đôi khi còn phụ thuộc vào yếu tố bí quyết truyền lại từ các thế hệ trước.
20
Người có kỹ năng cao thì hoàn thành công việc với chất lượng cao, thời gian
ngắn và ngược lại.
Trình độ - mức độ hiểu biết về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo
tiêu chuẩn nhất định của mỗi cá nhân cao hay thấp, được thể hiện bằng văn
bằng, chứng chỉ mà cá nhân đó nhận được thông qua quá trình học tập. Người
có bằng cấp càng cao (qua các cấp học cao hơn theo phân loại trong hệ thống
giáo dục, đào tạo quốc dân và quốc tế) thì chứng tỏ cá nhân đó có trình độ cao
và được nhà nước thừa nhận. Và tương ứng với trình độ cao thì cá nhân được
hưởng lương, phụ cấp…tương xứng và có thể được bổ nhiệm và chức vụ cao
hoặc ngạch chuyên môn cao hơn. Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy có những
người trải qua rất ít các khóa học, đào tạo, bồi dưỡng và nhận được chứng chỉ,
bằng cấp thấp nhưng lại rất có khả năng trong công tác quản lý. Bởi họ đã trải
qua rất nhiều thực tiễn quản lý; tri thức của họ được hình thành nhờ quá trình tự
nghiên cứu, tự học tập, rèn luyện, tổng kết thực tiễn công tác và phần nào có
yếu tổ bẩm sinh. Tất nhiên, số lượng này không phải là nhiều.
Thư ba, thái độ, hành vi (tác phong hay phong cách của cá nhân): là khả
năng làm chủ hành vi, thái độ, trạng thái tinh thần của bản thân trong việc giải
quyết các công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tác phong là thái độ và cách ứng xử của mỗi cá nhân trước những sự vật,
hiện tượng. Người có tác phong tốt là người có thái độ và cách ứng xử phù hợp
với từng sự việc hoặc người cộng tác với mình. Nhờ có thái độ và cách ứng xử
ngành khác nhau. Những kiến thức này không nhất thiết phải học qua trường
lớp và có bằng cấp mới biết, có nhiều cách tiếp cận và tiếp thu khác như qua
phương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo, qua lao động thực tiễn…
22
Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từng
cương vị công tác là đòi hỏi tất yếu đối với người cán bộ chuyên nghiệp. Kiến
thức và trình độ chuyên môn là điều kiện giúp người cán bộ có khả năng lôi
cuốn mọi người và kiểm tra công việc của họ. Không có kiến thức và trình độ
chuyên môn thì người quản lý không thể khẳng định năng lực của mình trong
hoạt động thực tiễn.
- Kỹ năng thực hiện công việc:
Đó là những khả năng vận dụng những hiểu biết có được vào hoạt động
thực tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng cao.
Có nhiều kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng
dụng, kỹ năng phân tích, kỹ năng tổng hợp, kỹ năng diễn đạt, truyền đạt…Kỹ
năng có được thường do quá trình làm việc thâm niên, kinh nghiệm tạo nên,
ngoài ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinh nghiệm truyền giao.
Người có kỹ năng tiến hành công việc tự tin, nhanh chóng và chất lượng, dễ thu
hút sự hài lòng của mọi người có liên quan. Đối với cán bộ chủ chốt cần có kỹ
năng lãnh đạo điều hành.
Kỹ năng lãnh đạo điều hành đó chính là kỹ năng ra quyết định, kỹ năng
trong việc tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cấp dưới, của nhân dân
và doanh nghiệp; kỹ năng trong việc giải quyết những khiếu kiện của cấp dưới
và nhân dân; kỹ năng giao tiếp ứng xử đối với đồng nghiệp, nhân dân và doanh
nghiệp; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng trong việc phát huy tinh
thần tập thể, đoàn kết để phát huy sức mạnh của tập thể.
- Thái độ, cách ứng xử (tác phong) trong thực thi công việc:
Thái độ làm việc là sự đánh giá đúng, sai và nỗ lực tự thân, sự cố gắng,
mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà họ
đang thực hiện. Thái độ làm ảnh hưởng đến năng lực thực thi công việc của
24
trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa, thực hiện các hoạt
động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng.
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc
(UNIDO) trong tài liệu KCX tại các nước đang phát triển (Export processing
Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì KCN là khu vực tương
đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu
tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các
ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt
so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà.
Theo quan điểm của Hiệp hội Thế giới về KCX (World Export Processing
Zone Association - WEPZA), KCX là tất cả khu vực được chính phủ các nước
cho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự
do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức này
công nhận. Cũng từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của các mối quan hệ
thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng, xuất phát từ yêu cầu
bức thiết của quá trình công nghiệp hóa, hướng về xuất khẩu của các nước đang
phát triển, khái niệm này đã được bổ sung bằng những quan niệm mới như Khu
kinh tế mở, Thành phố mở, Đặc khu kinh tế Như vậy, quan niệm của Hiệp hội
thế giới về KCX là một quan niệm rất rộng, nó đòi hỏi các chính sách quản lý
có độ linh hoạt cao và mức độ tự do hóa khá lớn.
Các nước như Thái Lan, Philippin, quan niệm KCN như một thành phố
công nghiệp, vì thực tế KCN là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc cung
cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện tích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải,
KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện,
các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân Các KCN ở Indonesia và Thái Lan
thường gồm ba bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất
hàng xuất khẩu và khu thương mại và dịch vụ [18, tr. 30,31,33.]
Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ
25