LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản báo cáo, tôi luôn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo khoa Nông Lâm,
trường Đại học Tây Bắc, cùng các tập thể, cá nhân và gia đình.
Tôi xin được trân trọng cảm ơn: thầy giáo Th.S.Nguyễn Hoàng Phương,
giảng viên khoa nông lâm trường Đại Học Tây Bắc, Tống Mạnh Hổ, cán bộ
TTNCTN Nông lâm nghiệp, Thuận Châu- Sơn La, người đã trực tiếp hướng dẫn
tận tình.
Xin trân trọng cảm ơn:
- Các cán bộ, công nhân viên trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông lâm
nghiệp Thuận Châu –Sơn La.
- Các Thầy giáo, Cô giáo khoa Nông lâm và các sinh viên lớp Nông Học
K52, khoa Nông Lâm trường Đại Học Tây Bắc, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn.
- Tôi vô cùng biết ơn sự động viên, giúp đỡ của Thầy giáo, Cô giáo, gia
đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Sơn La, ngày 04 tháng 12 năm2014
Sinh viên thực hiện
Hà Văn Tâm
1
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTB: Nhiệt độ trung bình.
Tthấp: Nhiệt độ tối thấp.
Tcao: Nhiệt độ tối cao.
RHTB: Ẩm độ trung bình.
RH thấp: Ẩm độ tối thấp.
RH cao: Ẩm độ tối cao.
P
2
0
5
: Lân
Ctv: Cộng tác viên
HĐKHCN: hội đồng khoa học công nghệ
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển
nông thôn.
3
3
I. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L) đã được con người trồng hàng nghìn năm nay. Ngô
là một trong những cây quan trọng trên thế giới. Một số nước vùng Trung Mĩ,
Nam Mĩ và Châu Phi dùng ngô làm lương thực chính.
Ngô là cây ngũ cốc có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao nên ngô
được sử dụng với 3 mục đích chính như: làm lương thực cho con người, thức ăn
gia súc và nguyên liệu cho nghành công nghiệp khác. Ngoài ra người dân
còn tận dụng lõi ngô dùng làm chất đốt hoặc nghiền nhỏ ra làm giá thể trồng
nấm, tinh bột ngô làm nhiên liệu sinh học dùng chạy máy móc, nấu rượu,…
Hiện nay có khoảng 670 mặt hàng được chế biến từ ngô như bánh ngô, sữa
bắp, bột ngô, mì ăn liền từ ngô, cháo ngô…
Trên thế giới diện tích ngô đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước, sản
lượng đứng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc.
Tại Việt Nam ngô được trồng phổ biến ở phía Bắc trong đó Sơn La với
diện tích 162.000 ha ngô mỗi vụ (2013), sản lượng bình quân 600.000 - 700.000
tấn, Sơn La được coi vựa ngô lớn nhất cả nước. Trong đó diện tích tập trung chủ
yếu ở huyện Mai Sơn, Mộc Châu, Yên Châu…Và một số huyện có diện tích
trồng ít như Thuận Châu… chủ yếu là trồng độc canh, thời gian đất trống sau
phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây
ngô.
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển.
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại.
- Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại,
năng suất và hiệu quả kinh tế của cây trồng xen.
5
5
II. TỔNG QUAN
2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới.
Trên thế giới ngô là một trong năm loại cây lương thực chính, đứng thứ ba
sau lúa mì và lúa nước, có khả năng thích ứng rộng, được trồng từ 55
0
vĩ Bắc
đến 40
0
vĩ Nam thuộc 69 nước trên thế giới, đồng thời có khả năng thích ứng tốt
với các điều kiện sinh thái môi trường và địa bàn khác nhau, từ độ cao 1 - 2 m so
với mặt nước biển ở vùng Andet - Peru đến gần 4.000m (Ngô Hữu Tình, 1997),
[9]. Trong 10 năm gần đây năng suất ngô đã được tăng lên đáng kể, cùng với
những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai, sự kết hợp những phương pháp
truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong
canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và
lúa nước, góp phần giải quyết nhu cầu lương thực và protein động vật cho hơn 6
tỷ người dân trên hành tinh. Ngô lai đã phát triển nhanh chóng và hấp dẫn như
vậy là do ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về ưu thế lai, các biện pháp kỹ thuật liên
hoàn trong đó sử dụng phân bón hợp lý là biện pháp giúp tăng tới 40% năng suất
thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kĩ
thuật canh tác. Đặc biệt từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong
chọn giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học
thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác ngô đã góp phần đưa sản lượng
ngô của thế giới tăng lên.Với 52% trồng bằng giống tạo ra bằng công nghệ sinh
học, năng suất ngô nước Mỹ năm 2005 đạt hơn 10 tấn/ha trên diện tích 30 triệu
ha. Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới đạt 35,2 triệu ha,
riêng ở Mỹ đã lên đến 27,4 triệu ha chiếm 73% trong tổng số hơn 37,5 triệu ha
ngô của nước này. (GMO. COMPASS)
Sản suất ngô tại một số nước trên thế giới năm 2012
Bảng 2.2.sản xuất ngô tại một số nước trên thế giới năm 2012
Quốc gia
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ ha)
Sản lượng
(ngìn tấn)
Mỹ 67,55 6,3 422,96
Trung Quốc 335,6 6,0 208,26
Brazil 142,3 5,0 71,3
EU-27 183,1 5,1 94,09
Argentina 35 7,3 25,7
Ukraine 43,7 4,8 20,96
Ấn độ 84 2,5 21,06
Mexico 69,2 3,2 22,07
Nam Phi 34,6 3,7 12,5
Canada 14 8,4 11,7
Toàn cầu 1769,9 4,9 910.6
Theo Đại học Tổng hợp Iowa (2006), trong những năm gần đây khi thế
lai ở nước ta từ 0,1% trên hơn 400 nghìn hecta trồng ngô năm 1990 đã tăng lên
khoảng 95% trong số hơn 1 triệu hecta diện tích trồng ngô năm 2007 đã đưa
Việt Nam vào một trong những nước sử dụng giống lai cao và có năng suất cao
của khu vực Đông Nam Á. Những năm tiếp theo từ 2008 - 2012 diện tích, sản
lượng, năng suất ngô của Việt Nam ngày càng tăng và giữ đượcvị trí của mình
trên khu vực Trần Hồng Uy (2001)[32].
2.1.3. Điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La
8
8
Lê Thông, Lê Huỳnh [16] chú thích rằng: Tỉnh Sơn La nằm ở vùng Tây
Bắc, diện tích đất tự nhiên là 1403.8 km
2
, diện tích đất canh tác chỉ có 9.3 nghìn
ha, đa phần diện tích đất có độ dốc >25
o
. Toàn bộ tỉnh có độ cao trên 500 m nên
có những điểm đặc trưng về thổ nhưỡng và khí hậu. Cụ thể như sau:
Về khí hậu: Khí hậu Sơn La mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt. Tháng nóng
nhất nhiệt độ trung bình chỉ đạt 24,9
0
C, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống tới 14
0
C.
Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt mạnh nên có những tiểu khí hậu được hình
thành, tại một số thung lũng nhiệt độ tối cao có thể đạt tới là 42
0
C, nhiệt độ tối
thấp có thể xuống tới 0
0
C. Biên độ dao động nhiệt độ lớn: Mùa hè 8-9
cho thấy dấu vết hạt ngô và lá bi, ước tính tuổi của các bộ phận này khoảng
4500 năm. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thế Hùng [15] lại cho rằng: Cây ngô đã
xuất hiện khoảng 5000 năm trước công nguyên.
Tuy có sự sai khác về thời gian nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất
cho rằng: Thổ dân da đỏ cổ đại đã thuần hoá và lan truyền cây ngô ở Châu Mĩ.
Tại đây, ngô là loại cây lương thực chính và gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, tập
tục và cuộc sống của các bộ tộc tại đây.
Nguồn gốc di truyền của cây ngô có rất nhiều giả thuyết khác nhau. Tuy
nhiên, các tác giả Đinh Thế Lộc và CS [18], Ngô Hữu Tình [9], Nguyễn Thế
Hùng [15], Nguyễn Văn Hiển [25] và Trần Văn Minh [19] đều thống nhất ý kiến
về nguồn gốc di truyền cây ngô và được tóm lược như sau:
1. Là con lai giữa Teosinte và thành viên không rõ thuộc chi
Andropgoneae.
2. Là con lai nhị bội tự nhiên giữa các loại Á châu thuộc chi Maydeae và
Andropgoneae.
3. Là con lai giữa ngô bọc, Teosinte và Tripsacum.
4. Là con lai của ngô bọc Mỹ và Tripsacum Trung Mỹ tới Teosinte.
5. Ngô, Teosinte và Tripsacum bắt nguồn riêng rẽ từ một dạng tổ tiên chung.
6. Teosinte là nguồn gốc của Ngô sau 1 hoặc nhiều đột biến.
Ngày nay, từ những luận cứ khoa học nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ giả
thuyết thứ 3: Ngô trồng hiện đại có nguồn gốc từ ngô bọc - dạng dại của nó đã
phát sinh ở Mêxicô (Trung Mỹ). Ngô bọc nguyên thuỷ đã lai tự nhiên với
Teosinte và Tripsacum thành nhiều dạng cây, một trong những dạng đó đã trở
thành ngô trần
sang (phía Bắc), con đường thứ hai từ Indonesia sang (phía Nam).
Cây ngô đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình tại Việt Nam, diện
tích, năng suất và sản lượng ngô liên tục tăng cùng với những tiến bộ kĩ thuật
được áp dụng trong sản xuất. Cuối năm 1985 kĩ thuật trồng ngô đông trên đất
10
10
kg dầu ăn và gần 4 kg khô dầu. Trong phôi ngô có nhiều khoáng, vitamin và
khoảng 30% - 45% dầu.
2.2.2 Đặc điểm thực vật học
2.2.2.1 Hệ rễ ngô
Theo Đinh Thế Lộc và CS [18] Nguyễn Thế Hùng [15]: Ngô giống như
các loài cây hoà thảo khác có hệ rễ chùm, căn cứ vào hình thái vị trí và thời gian
phát sinh có thể chia rễ ngô thành 3 loại:
- Rễ mầm: Phát triển từ rễ sơ sinh của phôi, tồn tại trong thời gian ngắn
( từ khi ngô nảy mầm đến khi ngô có 4-5 lá).
- Rễ đốt: Phát triển từ những đốt thấp nằm dưới mặt đất từ 3-4 cm. Rễ đốt
xuất hiện khi ngô có 3-4 lá sau đó phát triển rất nhanh và chiếm ưu thế tuyệt đối.
- Rễ chân kiềng: Là loại rễ đốt mọc ở đốt gần sát mặt đất, rễ thường to,
nhăn, ít phân nhánh.
Tác giả Trần Văn Minh [19], Ngô Hữu Tình [9] quan sát thấy: Rễ mầm
của ngô có 2 loại là rễ mầm sơ sinh và rễ mầm thứ sinh.
2.2.2.2. Thân, lá ngô
Tác giả Nguyễn Thế Hùng [15] nhận định: Thân ngô đặc, đường kính từ
2-4 cm, chiều cao có thể từ 2-4 m. Trong điều kiện bình thường cây ngô cao 1,8-
2m và có số lóng thay đổi tuỳ giống.
- Giống ngắn ngày, cao 1,2-1,5 m có 14-15 lóng.
- Giống trung ngày, cao 1,8- 2,0 m có 18-22 lóng.
- Giống dài ngày, cao 2,0-2,5 m, có 20-22 lóng.
Chiều dài các lóng, hình thái các lóng trên thân ngô thay đổi tuỳ thuộc điều
kiện chăm sóc và giống (Đinh Thế Lộc và CS [18], Nguyễn Thế Hùng [15]).
Theo Trần Văn Minh [19], Ngô Hữu Tình [9], Đinh Thế Lộc và CS [18],
Nguyễn Thế Hùng [15]: Lá ngô có 4 loại là:
- Lá mầm: Là lá đầu tiên khi cây còn nhỏ, chưa phân biệt được phiến lá
với vỏ bọc lá.
- Lá thân: Là những lá có mầm nách ở kẽ chân lá hay những lá mọc trên
những đốt thân.
13
13
- Thời kỳ chín (từ khi thụ tinh đến chín).
Tác giả Trần Đức Hạnh [14]: cho rằng ngô có các giai đoạn sinh trưởng
sau: Giai đoạn từ gieo - mọc đến có 3 lá; Giai đoạn từ 3 lá đến trỗ cờ phun râu;
giai đoạn từ phun râu đến chín
Theo (2003) [26]:
Cây ngô có các giai đoạn sinh trưởng phát triển như sau:
- Giai đoạn 1 (Giai đoạn sinh trưởng ban đầu).
- Giai đoạn 2 (Giai đoạn sinh trưởng thân lá).
- Giai đoạn 3 (Giai đoạn sinh trưởng sinh thực).
- Giai đoạn 4 (Giai đoạn làm hạt).
2.2.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây ngô
2.2.4.1. Yêu cầu về nhiệt độ, nước, ánh sáng và đất trồng ngô.
Các tác giả Đinh Thế Lộc và CS [18], Trần Văn Minh [19], Ngô Hữu
Tình [9], Nguyễn Thế Hùng [15], đã lập luận rằng: Cây ngô là loại cây trồng có
nguồn gốc từ vùng nhiệt đới. Nhiệt độ lý tưởng để ngô sinh trưởng và phát triển
là 25-30
0
C.
- Lúc gieo hạt ngô: Khi gieo nếu nhiệt độ thấp hơn 13
0
C, phần lớn các
giống ngô không nảy mầm. Nếu nhiệt độ khi gieo thấp dưới 15
0
C thời gian nảy
mầm sẽ kéo dài, tỷ lệ nảy mầm thấp, độ đồng đều của ruộng ngô sau này kém,
chăm sóc khó khăn, năng suất thấp.
- Giai đoạn ngô trổ cờ, tung phấn, phun râu, thụ phấn cây ngô rất mẫn
cảm với nhiệt độ. Nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn này là từ 22-28
tương đương với lượng mưa từ 300-400 mm.
Cùng quan điểm trên tác giả Trần Đức Hạnh [14] cho rằng: Ngô là cây
trồng cạn rất mẫn cảm với độ ẩm đặc biệt là chế độ ẩm của đất.
Đào Thế Tuấn [4] khi nghiên cứu về ngô đã nhận định: Ngô ra hoa sớm
nhất lúc ngày dài chừng 10-12 giờ/ngày. Nếu ngày dài hơn nữa thì nó ra hoa
chậm hoặc không ra hoa.
Theo Nguyễn Thế Hùng [15] ngô là cây trồng có phản ứng trung tính với
ánh sáng, hầu hết các giống ngô đang trồng ra hoa không phụ thuộc vào thời
gian chiếu sáng vì vậy có thể trồng nhiều vụ ngô trong 1 năm.
Theo Đinh Thế Lộc và CS [18], Nguyễn Thế Hùng [15], Trương Đích
[13], Trần Văn Minh [19], Ngô Hữu Tình [9] đất trồng ngô tốt nhất là đất thịt
nhẹ, giàu mùn, thông thoáng, ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ
đất thịt trung bình đến đất cát pha.
Tác giả Đào Thế Tuấn [5] cho rằng ngô thuộc nhóm không chịu chua,
độ PH thích hợp từ 6,0-7,5. Thích hợp với đất thịt nhẹ, khả năng mọc ở đất
mặn yếu.
2.2.4.2. Đặc điểm sử dụng chất dinh dưỡng, phân bón
15
15
Ngô là loại cây có khả năng tạo ra một khối lượng vật chất rất lớn trong
một vụ trồng, vì vậy ngô hút từ đất một lượng chất dinh dưỡng lớn trong quá
trình sống [18]. Theo Nguyễn Thế Hùng [15] lượng đạm cây ngô hút trong một
vụ trong điều kiện thâm canh cao từ 260-270 kgN. Các kết quả nghiên cứu cho
thấy cây ngô hút đạm trong suốt quá trình sống nhưng tập trung nhiều nhất vào
giai đoạn từ 25-75 ngày sau trồng tương đương với thời kì 4-9 lá đến trỗ cờ (đối
với giống ngô có thời gian sinh trưởng 125 ngày).
Theo Ngô Hữu Tình [9] Cây ngô hút Kali nhiều nhất vào các thời kì
giữa của quá trình sinh trưởng: 25 ngày đầu cây ngô hút 9%; 25 ngày tiếp
theo là 43%; thời kì phun râu là 30%; thời kì tạo hạt 15%; thời kì chín 3%.
Như vậy các thời kì lớn vọt (tạo đốt), thụ phấn thụ tinh, chín sữa và chín cây
; 3kg K
2
O.
16
16
2.2.5. Tình hình sâu bệnh hại ngô
2.2.5.1. Sâu hại ngô
Theo [29]: Tập
đoàn sâu hại ngô khá phong phú. Chúng là một trong những nguyên nhân làm
giảm năng suất. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ðức Khiêm (2005)[17] cũng
cho thấy, tập đoàn sâu hại ngô ở vùng Hà Nội gồm 35 loài, trong đó có 5 loài
thường xuyên gây hại. Kết quả điều tra sâu hại ngô ở Ðức Trọng - Lâm Ðồng
của Lưu Tham Mưu và ctv. (1995) [31] thu được 22 loài Những nghiên cứu
về sinh học, sinh thái của những loài sâu hại chính đã có nhưng chưa nhiều [17]
Theo Nguyễn Đức Khiêm [17]: Cho tới nay có khoảng hơn 100 loài côn
trùng phá hoại trên ngô. Căn cứ tính chất mức độ phổ biến có thể chia sâu hại
ngô thành 3 nhóm sau:
Nhóm 1: Gồm những sâu hại chủ yếu trên cây ngô, gây tác hại ở nhiều
nơi hoặc trong từng vùng, chúng bao gồm: Sâu xám, sâu cắn lá nõn ngô, sâu đục
thân ngô, rệp ngô.
Nhóm 2: Gồm những loại sâu hại phổ biến ở nhiều vùng và thường gặp
trên những ruộng ngô, nhưng không gây thiệt hại đáng kể: Châu chấu lúa, dế
mèn, dế trũi, bọ xít, bọ xít xanh, bọ xít hoa đỏ, sâu róm, sâu xanh, sâu khoang.
Nhóm 3: Gồm những sâu hại có thấy trên cây ngô nhưng mật độ thấp và
chưa bao giờ thấy gây ra tác hại đáng kể đối với cây ngô. Thuộc về nhóm này có
thể kể một số loài như: Bọ ba ba, bọ nhảy, bọ hung có sừng, bọ xí nhỏ.
Theo kết quả điều tra của cục BVTV thì hiện nay trên ngô có các loại sâu
hại chủ yếu sau: Sâu đục thân, rệp, sâu cắn lá nõn [12].
2.2.5.2. Bệnh hại ngô
Bệnh hại là vấn đề làm giảm năng suất nghiêm trọng không chỉ tại Sơn La
tuỳ thời vụ, giống nhưng có thể lên tới 70-80% [1].
2.3 Nhu cầu dinh dưỡng và sinh trưởng
2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Ngô là loại cây có khả năng tạo ra một khối lượng vật chất rất lớn trong
một vụ trồng, vì vậy ngô hút từ đất một lượng chất dinh dưỡng lớn trong quá
trình sống.
18
18
Theo Nguyễn Thế Hùng (2000) [15], lượng đạm cây ngô hút trong một
vụ trong điều kiện thâm canh cao từ 260-270 kg N. Các kết quả nghiên cứu cho
thấy cây ngô hút đạm trong suốt quá trình sống nhưng tập trung nhiều nhất vào
giai đoạn từ 25-75 ngày sau trồng tương đương với thời kì 4-9 lá đến trỗ cờ (đối
với giống ngô có thời gian sinh trưởng 125 ngày).
Theo Ngô Hữu Tình, (2003)[9] Cây ngô hút Kali nhiều nhất vào các
thời kì giữa của quá trình sinh trưởng: 25 ngày đầu cây ngô hút 9%; 25 ngày tiếp
theo là 43%; thời kì phun râu là 30%; thời kì tạo hạt 15%; thời kì chín 3%. Như
vậy các thời kì lớn vọt (tạo đốt), thụ phấn thụ tinh, chín sữa và chín cây ngô cần
nhiều kali.
Nhu cầu dinh dưỡng tính theo 1 tạ hạt khô là: 2.5 kg N; 1.2 kg P2¬O5; 2
kg K20. Ngô có nhu cầu dinh dưỡng lớn nhất vào thời gian ra hoa và hình thành
hạt (3/4 lượng đạm được hút trong 1/3 thời gian sinh trưởng) nhưng thời kỳ này
đối với ngô lại diễn ra trong mùa hè vì vậy nước thường là yếu tố giới hạn năng
suất dù số lượng chất dễ tiêu là bao nhiêu. Sinh trưởng trong mùa hè cây ngô sẽ
sử dụng rộng rãi được quá trình khoáng hoá mạnh của phân chuồng và những
chất hữu cơ dự trữ trong đất, nhất là trong những tháng nóng nhất trong năm
nhất là khi trời mưa,[9].
2.3.2 Sinh thái
Theo (Đường Hồng Dật (2005); Nguyễn Tấn Dũng (2005), Ngô Hữu
Tình,(2003) [11], [12], [9], Cây ngô là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt
đới.Nhiệt độ lý tưởng để ngô sinh trưởng và phát triển là 25-30
Tác giả Trần Hồng Uy [32] cho rằng độ ẩm đất từ 30% -40% ngô mọc
chậm và không đều, dù các thời kỳ sau có được chăm sóc tốt ngô vẫn chín
không đều. Thời kỳ 3-4 lá đến 7-8 lá độ ẩm đất từ 50%-60% làm giảm năng suất
ít hơn so với độ ẩm 30% -40% hay 90% -100%. Trong suốt quá trình sinh
trưởng cây ngô yêu cầu độ ẩm đất thích hợp từ 70% -85%, thấp hoặc cao hơn
đều không có lợi cho sinh trưởng phát triển và có thể giảm năng suất từ 9%
-32%.
Đào Thế Tuấn, (1978) [5] cây ngô cần lượng nước từ 500-800mm để sinh
trưởng, phát triển tốt. Ngô là cây ít chịu hạn. Tuy nhiên tác giả Nguyễn Thế
Hùng, (2000) [6] lại cho rằng cây ngô chỉ cần lượng nước tưới từ 3000- 4000m
3
tương đương với lượng mưa từ 300-400 mm.
Đào Thế Tuấn, (1978) [5] ngô ra hoa sớm nhất lúc ngày dài chừng 10-12
giờ/ngày. Nếu ngày dài hơn nữa thì nó ra hoa chậm hoặc không ra hoa.
Theo Nguyễn Thế Hùng, (2000) [15] ngô là cây trồng có phản ứng trung
tính với ánh sáng, hầu hết các giống ngô đang trồng ra hoa không phụ thuộc vào
thời gian chiếu sáng vì vậy có thể trồng nhiều vụ ngô trong 1 năm.
Đinh Thế Lộc và CS, (1997); Nguyễn Thế Hùng (2000), Ngô Hữu Tình,
2003) [18], [15], [9]: đất trồng ngô tốt nhất là đất thịt nhẹ, giàu mùn, thông
thoáng, ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất thịt trung bình đến
đất cát pha.
20
20
Tác giả Đào Thế Tuấn,(1978)[4] cho rằng ngô thuộc nhóm không chịu
chua, độ PH thích hợp từ 6.0-7.5. Thích hợp với đất thịt nhẹ, khả năng mọc ở đất
mặn yếu.
2.4 Cơ sở khoa học và thực tế của trồng xen
* Cơ sở khoa học:
-Một số luận điểm về trồng xen và canh tác đa tầng:
Nhìn chung, mục đích của người nông dân là sử dụng đất tối đa để thu lợi
(Willey R.W, 1979).
- Ngăn cản lẫn nhau: đây là trường hợp mà năng suất thực của mỗi loại cây
ít hơn mong muốn. trương hợp này sảy ra trong thực tế ( Willey R. W, 1979) .
* đánh giá thuận lợi về trồng xen
Theo Phan Huy Chương (2011) [35]. Khi nghiên cứu hiệu quả của trồng
xen, Aijer, 1949 đã nêu những thuận lợi sau:
- Sự ổn định năng suất lớn hơn trải qua những mùa khó khăn.
- Sử dụng tốt hơn những nguồn tài nguyên thiên nhiên (ánh sáng, dinh
dưỡng, nước….).
- Khống chế dịch bệnh và cỏ dại tốt hơn.
- Một cây hỗ trợ cây khác.
- Một cây phòng hộ cây khác.
- Chống xói mòn nhờ tán cây che phủ mặt đất.
- Thích hợp với người nông dân sản xuất nhỏ.
Willey R.W, 1979, đánh giá thuận lợi của trồng xen với ba hình thức cơ bản là:
- Năng suất của những cây trồng xen phải vượt hơn năng suất của những
cây trồng thuần cao nhất. đây là một chỉ tiêu truyền thống để đánh giá việc trồng
lẫn ở đồng cỏ (Donald, 1963 ; Vanden Bergh,1968 . Chỉ tiêu dựa vào giả thiết
năng suất mỗi thành phần có thể chấp nhận bằng nhau và người nông dân
thường không tính đến những yếu tố đóng góp vào năng suất tối đa.
-Trồng xen phải đầy đủ năng suất của cây trồng chính cộng với năng suất
của cây trồng thứ hai. Chỉ tiêu nay áp dụng với những nơi trồng một vài cây
lương thực thiết yếu hoặc cây trồng có giá trị cao.
22
22
- Năng suất trồng xen phối hợp phải vượt năng suất của của từng cây trồng
cộng lại. chỉ tiêu này áp dụng đối với những nơi trồng cả hai những cây trồng
tham gia trồng xen để thỏa mãn đòi hỏi về ăn về phân bố lao động, chống lại sự
may rủi của thi trường. cơ sở của đánh giá trồng xen là cho năng suất nhiều hơn
cây trồng giêng rẽ. điểm quan trọng ở đây là yêu cầu năng suất trồng xen có liên
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Trung tâm NCTN Nông Lâm nghiệp – Thuận
Châu – Sơn La
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
24
24
Đề tài được thực hiện từ tháng 06 đến tháng 11 năm 2014.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Đối với cây ngô:
+) Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển.
+) Nghiên cứu mức độ nhiễm sâu bệnh.
+) Nghiên cứu năng suất và hiệu quả kinh tế.
Đối với cây trồng xen
+) Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển.
+) Nghiên cứu mức độ nhiễm sâu bệnh.
+) Nghiên cứu năng suất và hiệu quả kinh tế
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thiết kê và công thức thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 4
công thức và 3 lần nhắc lại. Diện tích 1 ô thí nghiệm là: 21,6 m
2
. Diện tích cả
khu thí nghiệm là: 260 m
2
.
+ CT1: Khoảng cách hàng 30 cm, khoảng cách cây 10 cm tương ứng với
mật độ 34 cây/m
2
+ CT2: Khoảng cách hàng 30 cm, khoảng cách cây 15 cm tương ứng với
mật độ 23 cây/m