Phân tích chính sách chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Việt Nam - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BẢN BÁO CÁO
Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH/CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VIỆT NAM
GV
LỚP: QLKT-K21C
Nguyễn Thị Hiếu
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Nhóm 5 – QLKT K21C
MỤC LỤC
Mở đầu 2
1.1. Đặt vấn đề 2
1.2. Giới hạn, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 3
1.2.1. Giới hạn nghiên cứu 3
1.2.2. Mục êu nghiên cứu 4
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu 4
Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
2.1. Khái quát những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực nông thôn 6
2.2. Quy luật vận động của nguồn nhân lực nông thôn 8
2.3. Một số kinh nghiệm quốc tế 10
Nội dung và thảo luận 13
3.1. Thực trạng nguồn nhân lực 13
3.2. Hiện trạng đào tạo nghề 14
3.3. Vấn đề cung cầu về đào tạo nghề 16
3.4. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông thôn 20
3.5. Các vấn đề đặt ra 24
3.6. Đề xuất giải pháp chính sách 26
Kết luận 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Đề tài giới hạn trong phạm vi thời gian những năm gần đấy, liên quan đến bức tranh
nguồn nhân lực ở nông thôn và trong nông nghiệp, thực trạng công tác đào tạo nguồn
nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp, các thuận lợi, khó khăn và hạn chế của nó; Từ đó
có những khuyến nghị về chủ trương chính sách. Không đi sâu và mở rộng cho toàn bộ
các ngành kinh tế và khu vực khác ngoài khu vực nông nghiệp và nông thôn.
GV: 3
Nhóm 5 – QLKT K21C
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn nước ta,
chủ trương và chính sách hiện tại, từ đó đề ra khuyến nghị giải pháp chính.
1.2.2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa lý thuyết về nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn, đào tạo
nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
Thực trạng nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay.
Xu thế vận động của nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện
nay.
Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
Chủ trường và chính sách chủ yếu đối với công taccs đào tạo nguồn nhân lực cho
nông nghiệp, nông thôn. Khuyến nghị giải pháp chính.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Khai thác các nguồn số liệu có sẵn đa qua xử lý (số liệu thứ cấp) từ các nguồn khác
nhau để mô tả thực trạng.
Xây dựng khung lý thuyết để khái quát vấn đề:
GV: 4
Nhóm 5 – QLKT K21C
GV: 5
Nhóm 5 – QLKT K21C
Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1. Khái quát những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực nông thôn

cho nông nghiệp, nông thôn.
Theo giáo trình kinh tế lao động “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến
thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được
một số công việc nhất định. Đào tạo gồm đào tạo kiến thức phổ thông và đào tạo kiến
thức chuyên nghiệp”.
Theo quá trình quản trị nhân lực đào tạo được biểu hiện là các hoạt động nhằm giúp
cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Với nguồn nhân lực thì đào tạo luôn đi liền với phát triển. Theo nghĩa rộng: phát
triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong
những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của
người lao động. Theo nghĩa hẹp: phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi
công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa
trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp
của họ.
Một cách định nghĩa khác: Phát triển được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ
năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động để họ hoàn thành công việc ở vị trí
cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ.
Phát triển xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con
người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng … lẫn thể chất. Phát triển nguồn
nhân lực con người nhằm gia tăng các giá trị đó cho con người, làm cho con người trở
thành những người lao động có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008, Hội nghị lần thứ VII
Ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đào tọa nguồn
nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn được cụ thể hóa là : “Tăng cường đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại hóa cho nông
dân; đào tạo nghề cho bộ phân con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động;
đồng thời tập trung đao tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở. Hình
thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm
GV: 7

GV: 8
Nhóm 5 – QLKT K21C
b. Giai đoạn hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa nền kinh tế
Trong giai đoạn này sự vận động của nguồn nhân lực xã hội nói chung và nguồn
nhân lực nông thôn nói riêng diễn ra theo xu hướng sau:
Cơ cấu lao động xã hội dịch chuyển theo sự chuyển dịch của cơ ccaaus các ngành
kinh tế với xu hướng chính là chuyển từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác như công
nghiệp, dịch vụ và các hoạt động phi nông nghiệp khác, nói cách khác là vận động của
nguồn nhân lực có hướng đi khỏi nông nghiệp, chuyển sang lĩnh vực kinh tế khác, sự
“quay về với nông nghiệp” vẫn có thể xảy ra, nhưng là hạn hữu và không thể trở thành xu
hướng chủ đạo trong nông thôn.
Lao động trẻ mới bước vào tuổi lao động càng nhanh chóng rời bỏ nông nghiệp để
tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông ngiệp trên địa bàn nông thôn và ở các đô thị,
khu công nghiệp.
Lao động làm nông nghiệp giảm dần và ngày càng “già hóa”, năng suất lao động
nông nghiệp giảm nhanh nếu như các hoạt động nông nghiệp không được thay thế bằng
máy móc và phương tieenjc ơ giới khác, mà vẫn giữ phương thức canh tác truyền thông,s
sử dụng lao động chân tay là chính (thô sơ).
Tỷ lệ nhân lực làm nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ dần trong tổng lao động xã hội,
tạo tiền đề để hình thành phương thức sản xuất nông nghiệp mới.
c. Giai đoạn công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ kinh tế nông thôn
Trong giai đoạn này sự vận động của nguồn nhân lực xã hội nói chung và phần nhân
lực nông thôn nói riêng diễn ra theo xu hướng khác nhau:
Nguồn nhân lực nông thôn chuyển dịch nhanh sang các ngành nghề khác theo nhịp
độ của công nghiệp hóa, đô thị hóa ở từng vùng và trên quy mô cả nước. Tốc độ chuyển
dịch biến động nhanh ở các vùng cận đô thị, vùng công nghiệp mới, ở những nơi này lao
động nông nghiệp có thể mất đi hoàn toàn trong thời gian ngắn, chuyển nhanh sang các
ngành nghề khác theo sức hút của các ngành này.
Biến động xã hội trong nguồn nhân lực nông thôn diễn ra mạnh do nguy cơ rủi ro và
ảnh hưởng tiêu cực của sự dịch chuyển quá trình nhanh từ nông nghiệp sang các ngành

GV: 10
Nhóm 5 – QLKT K21C
- Phân cấp rõ ràng việc quản lí đào tạo nghề theo ngành dọc và theo vùng địa lí để
đảm bảo tính chủ động của các cơ quan quản lí đồng thời tạo sự linh hoạt cho hoạt
động đào tạo nghề được phân bố tại các vùng địa phương theo quy hoạch tổng thể
của cả nước.
- Phát triển nguồn đào tạo nghề được nhất quán từ khâu đào tạo, sử dụng và bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đảm bảo cân bằng cung cầu lao
động trên thị trường theo các ngành kinh tế cũng như theo vùng địa lí.
- Phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện song song theo hai
hướng là đào tạo để chuyển dịch cơ cấu lao động (là chủ yếu, gắn liền với quá
trình công nghiệp hóa) và đào tạo nghề để nâng cao năng suất lao động trong nông
nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay từ cấp
PTCS để có định hướng học nghề ngay sau khi học hết PTTH.
- Đào tạo nghề được phát triển đa dạng và vai trò của các đối tác xã hội được chú
trọng; đồng thời phát huy tính chủ động của các cá nhân trong một xã hội học tập
suốt đời.
- Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành tại cơ sở đào tạo với thực
hành tại nơi sử dụng lao động, gắn kết chặt chẽ giữa “học” và “hành”, đào tạo
theo địa chỉ, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nơi sử dụng lao động.
GV: 11
Nhóm 5 – QLKT K21C
GV: 12
Nhóm 5 – QLKT K21C
Nội dung và thảo luận
3.1. Thực trạng nguồn nhân lực
Từ các số liệu thống ke cho thấy nước ta có quy mô dân số cao trên thế giới, phân
bổ không đều giữa thành thị và nông thôn; lao động chủ yếu tập trung ở khu vực nông
thôn và trong thành phần kinh tế tư nhân.
Quy mô dân số nước ta là 86,927 triệu người (năm 2010) đứng thứ 3 trong khu vực

lên chỉ chiếm 2,12% trong tổng lực lượng lao động nông thôn. Bên cạnh đó, có tới trên
27,6 triệu lao động nông thôn không có trình độ chuyên môn kĩ thuật (lao động phổ
thông), chiếm 83,12% trong tổng lực lượng lao động nông thôn. Tỷ lệ này cao hơn rất
nhiều so với khu vực thành thị (tỷ lệ lao động phổ thông chỉ chiếm 49,3%).
Nhìn chung, cơ cấu lao động nông thôn theo trình độ chuyên môn kĩ thuật hiện nay
chưa hợp lý, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật bậc cao còn quá thấp. Tỷ lệ
tương quan trung bình giữa lao động có trình độ tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học trở lên/lao
động tốt nghiệp trung cấp/lao động đã qua đào tạo nghề (bao gồm đào tạo nghề ngắn hạn
và dài hạn) của cả nước vào năm 2005 là 1/0,86/2,74 và của lực lượng lao động nông
thôn là 1/1,51/5,46 và đây là một thách thức lớn cho nông thôn Việt Nam khi gia nhập
WTO nếu không cải thiện đáng kể chất lượng nguồn nhân lực.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Nhằm nâng cao chất lượng lao
động nông thôn đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, Đảng đã đề ra hàng loạt chủ trương lớn, và đã được thể chế hoá
thành các chính sách cụ thể của Nhà nước liên quan đến công tác dạy nghề, phát triển
nguồn nhân lực nông thôn. Gần đây nhất, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành
Trung ương ĐCSVN, Hội nghị lần thứ bảy khóa X về nông nghiệp nông dân và nông
1
Lao động có trình độ CMKT bao gồm những người đã được đào tạo, hay tự đào tạo từ trình độ sơ cấp, học nghề,
CNKT có bằng hoặc không bằng, Trung học chuyên nghệp, Cao đẳng và Đại học trở lên.
GV: 15
Nhóm 5 – QLKT K21C
thôn trong đó nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực nông thôn đã được đặc biệt quan tâm
thể hiện bằng chủ trương tăng cường đào tạo bồi dưỡng kiến thức khoa học kĩ thuật sản
xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân, đào tạo nghề cho bộ phận con em nông
dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ
quản lí, cán bộ cơ sở. Nghị quyết TW cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc hình thành
Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo
hàng năm đào tạo 1 triệu lao động nông thôn, thực hiện tốt việc xã hội hóa công tác đào
tạo nghề.

học nghề cần được điều chỉnh kể cả về mặt định mức cũng như hình thức hỗ trợ để đảm
bảo các chương trình đào tạo nghề cho người lao động được thực hiện một cách có hiệu
quả. Các chính sách hỗ trợ cho người đi học nghề cần đặc biệt lưu ý đến hai vấn đề định
mức hỗ trợ và phương thức hỗ trợ để đảm bảo người đi học có thể học được nghề và sau
đó sử dụng được nghề đã học. Vấn đề còn lại là với các hỗ trợ cung đào tạo nghề sẽ đáp
ứng mức cầu về đào tạo nghề này như thế nào?
Trên bình diện tổng thể cũng như trong quá trình khảo sát thực tế đều cho thấy hệ
thống cơ sở đào tạo hiện tại kể cả của cả nước cũng như của riêng Bộ NN&PTNT chưa
đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội về đào tạo nghề. Sự thiếu hụt về mức cung này không chỉ
đơn thuần liên quan đế lượng mà liên quan đến cả chất lượng của cung đào tạo nghề. Do
vậy, trong thời gian tới hệ thống cơ sở đào tạo nghề nói chung và các cơ sở đào tạo nghề
cho lao động nông thôn cần nhanh chóng mở rộng để đáp ứng về số lượng nhu cầu đào
tạo nghề đồng thời cải thiện cơ sở hạ tầng, vật chất cũng như đội ngũ giáo viên, giáo
trình… để nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Với đặc thù của công tác đào tạo nghề đòi
hỏi đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị… tương đối lớn nên vấn đề này chắc chắn sẽ
cần phải có sự chung tay của nhiều bên vừa đề giảm gánh nặng ngân sách vừa tăng hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư. Đây cũng chính là nguyên nhân để trong quá trình đầu tư phát
triển cần đặc biệt chú ý đến chính sách xã hội hóa công tác đào tạo nghề.
Để đảm bảo cung và cầu gặp nhau về mặt chính sách cũng cần có những điều
chỉnh nhất định đối với cả phía cầu (người muốn đi học nghề), phía cung (nơi cung cấp
GV: 17
Nhóm 5 – QLKT K21C
việc dạy nghề) và cả cầu nối (hệ thống kết nối cung-cầu) đào tạo nghề. Các chính sách
này được xây dựng nhằm tạo ra những sự can thiệp từ phía Nhà nước để sửa chữa những
thất bại của thị trường, tập trung vào ba khía cạnh:
- Hỗ trợ người muốn đi học nghề nhưng chưa đi học được vì không đáp ứng được các
yêu cầu về tài chính, trình độ văn hóa hay thời gian học tập trung ;
- Hỗ trợ phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo đặc biệt là vấn đề về đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng, vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học nghề đảm bảo vừa đáp ứng
đủ về số lượng vừa đạt chất lượng đào tạo nghề theo đúng yêu cầu của thị trường, của

nông thôn khác ngoài hệ thống Bộ NN&PTNT hàng năm tuyển sinh khoảng 12.000 sinh
viên đại học - cao đẳng, 20.000 học sinh hệ trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Giả sử
các điều kiện khác không đổi, hàng năm hệ thống cơ sở đào tạo nghề trung và dài hạn sẽ
thiếu năng lực để đáp ứng yêu cầu học nghề của khoảng hơn 300 ngàn lao động muốn học
nghề. Mặt khác, giả sử hệ thống đào tạo nghề ngắn hạn hiện tại không đổi với năng lực
đào tạo nghề khoảng hơn 900 ngàn lao động/năm tức là từ nay đến năm 2010 cũng sẽ chỉ
đào tạo được cho khoảng hơn 1,8 triệu lao động - còn dư khoảng gần 500 ngàn lao động
cần được đào tạo ngắn hạn không có nơi đào tạo.
Như vậy, tình trạng hiện nay trên thị trường đào tạo nghề là thiếu cung - thừa cầu.
Để cân bằng được thị trường, một cách tự nhiên sẽ cần phải điều chỉnh tăng cung để đáp
ứng với mức cầu hiện có. Có nghĩa là trong thời gian tới sẽ cần đẩy mạnh việc đầu tư mở
rộng hệ thống cơ sở đào tạo nghề để trước hết đáp ứng về mặt số lượng nhu cầu học nghề
của lao động. Quá trình đầu tư này sẽ cần được xem xét và thực hiện sao cho vừa cân đối
được lượng cung và cầu vừa đảm bảo đáp ứng đầu yêu cầu về chất lượng của đào tạo
nghề. Nói cách khác, cần tăng cả chất và lượng cung đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu
của xã hội. Đồng thời, để đảm bảo cung và cầu gặp nhau về mặt chính sách cũng cần có
những điều chỉnh nhất định đối với cả phía cầu (người muốn đi học nghề), phía cung (nơi
cung cấp việc dạy nghề) và cả cầu nối (hệ thống kết nối cung-cầu) đào tạo nghề. Các
chính sách này được xây dựng nhằm tạo ra những sự can thiệp từ phía Nhà nước để sửa
chữa những thất bại của thị trường.
GV: 19
Nhóm 5 – QLKT K21C
3.4. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông thôn
Theo TS. Nguyễn Tiến Dũng, tổng số lao động đang làm việc trong các lĩnh vực
của nền kinh tế quốc dân là trên 47 triệu người, trong đó lao động đang làm việc trong
nông thôn chiếm gần 70%, làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 51%. Để đáp ứng
nhu cầu nhân lực của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, cần phải chuyển dịch
mạnh mẽ cơ cấu lao động trong nông thôn (mục tiêu đến năm 2020 chỉ còn 30% lao động
trong nông nghiệp) và đào tạo nghề có sứ mạng rất lớn, góp phần rất quan trọng vào việc
chuyển dịch này. Trong Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 5-8-2008 của Ban chấp hành

thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi
lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào
tạo nghề cho lao động nông thôn”. Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: “ Bình quân
hằng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi
dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch
cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn…”. Đối tượng của Đề án này là lao động nông thôn trong độ tuổi lao
động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong đó ưu tiên đào
tạo nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có
công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo,
người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người thuộc diện có đất thu hồi…
Đề án đã đề ra đồng bộ các chính sách đối với người học nghề, chính sách đối với
người dạy nghề (bao gồm giáo viên, giảng viên trong các cơ sở dạy nghề; cán bộ kỹ thuật,
kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và
các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề) và chính
sách đối với các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn.
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã nêu, Đề án đã đề ra đồng bộ 5 nhóm giải
pháp, gồm (1) Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của cán bộ, công chức
xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với tạo việc làm, tăng thu nhập
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn; (2) Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo
nghề; (3) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý; (4) Phát triển chương
GV: 21
Nhóm 5 – QLKT K21C
trình, giáo trình, học liệu; (5) Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực
hiện Đề án.
Đề án cũng đã đề ra 8 nhóm hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn, bao gồm
(1) Tuyên truyển, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn; (2) Điều tra,
khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn; (3) Thí điểm các mô hình
dạy nghề cho lao động nông thôn; (4) Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề

khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn; nhu cầu sử dụng lao động
qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; năng
lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn. Công tác điều tra được thực hiện từ các
thôn, bản, xóm, ấp, tới từng hộ gia đình, trên cơ sở nhu cầu nghề nghiệp thực tiễn của
người dân nông thôn. Tính đến nay 63/63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc điều tra,
khảo sát nhu cầu và có 33 tỉnh, thành phố đã tổng hợp số liệu điều tra. Theo thống kê sơ
bộ, hiện có khoảng 12% - 15% số lao động nông thôn có nhu cầu được đào tạo nghề với
trên 600 nghề khác nhau, trong đó nhóm nghề nông nghiệp chiếm trên 42%. Đây là căn
cứ rất quan trọng để các cơ sở dạy nghề trong cả nước tổ chức xây dựng chương trình và
mở các khóa dạy nghề phù hợp.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã hướng dẫn các địa phương tổ chức triển
khai thực hiện đề án theo 19 nhóm công việc cụ thể. Tuy mới triển khai thực hiện, nhưng
các ngành, các địa phương đã có những hoạt động thiết thực, sáng tạo, đã đưa ra nhiều mô
hình dạy nghề và hình thức dạy nghề thích hợp. Một số mô hình đã bước đầu triển khai có
hiệu quả, như mô hình đào tạo nghề cho lao động ở các vùng chuyên canh, vùng nguyên
liệu cho các cây công nghiệp như thuốc lá, chè… (có sự phối hợp giữa địa phương và các
doanh nghiệp); mô hình dạy nghề cho lao động trong các làng nghề (sự phối hợp giữa
địa phương, các cơ sở dạy nghề và các làng nghề); mô hình dạy nghề ngắn hạn cho
người nông dân ở cộng đồng (sự phối hợp giữa địa phương, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
và các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư)… Hoạt động dạy nghề cho nông
dân và lao động nông thôn không chỉ huy động các cơ sở chuyên dạy nghề mà còn thu hút
được sự tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học; sự tham gia giảng dạy của
những lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp; những nghệ nhân, người có tay nghề cao
GV: 23
Nhóm 5 – QLKT K21C
trong các làng nghề… Bản thân người nông dân và lao động nông thôn là những đối
tượng được thụ hưởng chính sách cũng đã tích cực, ủng hộ chủ trương của Chính phủ, từ
việc xác định được nhu cầu học nghề của mình phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương đến việc tham gia đầy đủ các khóa đào tạo. Qua thí điểm một số mô
hình đào tạo nghề cho lao động vùng chuyên canh ở một số địa phương (như Lạng Sơn,

cầu sử dụng lao động thực sự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh- dịch vụ trên địa bàn; từ
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; đồng thời dựa trên nhu cầu thực
tế về nghề nghiệp của người dân, chứ không phải là các hoạt động có tính phong trào,
nhất thời. Vì vậy, công tác điều tra, khảo sát nhu cầu phải thực hiện thường xuyên; nắm
chắc các nhu cầu thực tế (theo từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc…) của người dân ở
từng địa phương (xã, huyện) và của doanh nghiệp. Để làm tốt việc này, ngoài việc huy
động các cơ quan chuyên môn (lao động, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thống
kê…) cần kết hợp với công tác tuyên truyền, tư vấn nghề nghiệp, thông tin đến từng người
dân về nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp
Thứ ba, do tính đa dạng vùng miền và tính đặc thù của người nông dân và lao
động nông thôn (trình độ học vấn không đồng đều, lao động theo mùa vụ, thói quen canh
tác…), nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình
thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt… Chương trình đào tạo phải
gắn với học liệu sinh động, đa dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ của người học.
Thứ tư, đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn phải gắn với giải quyết
việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động; gắn với xóa đói, giảm nghèo và góp phần bảo đảm
an sinh xã hội ở nông thôn; gắn với xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, trong quá trình thực
hiện, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các cơ sở đào tạo và
doanh nghiệp, nhất là vai trò của chính quyền cấp xã, cấp huyện. Thực tế thời gian qua
cho thấy, ở nơi nào có sự phối hợp tốt giữa các đối tác này thì ở đó công tác đào tạo nghề
đạt được kết quả rất tích cực (người dân có việc làm, năng suất lao động và thu nhập của
người dân được nâng lên, giảm nghèo bền vững…). Đặc biệt, dạy nghề cho nông dân và
lao động nông thôn phải gắn kết chặt chẽ với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ (theo Quyết định số 800/QĐ-
TTg ngày 4-6-2010).
GV: 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status