LỜI CẢM ƠN
Để có được khóa luận ngày hôm nay cho phép em bày tỏ lòng biết ơn
chân thành, sâu sắc tới:
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn đến các Thầy (cô) giáo của Khoa
Quan hệ quốc tế, Trường Đại Học Đông Đô, những người đã truyền thụ và
trang bị cho chúng em những kiến thức nền tảng cũng như chuyên môn cần
thiết và bổ ích giúp chúng em tự tin hơn với công việc trong tương lai.
Em cũng xin được cám ơn các thầy cô giáo bộ môn, những người đã
truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản cần thiết để trở thành cử nhân
Quan hệ quốc tế!
Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới Phó giáo sư – Tiến Sĩ
Nguyễn Thường Lạng – Giảng viên môn Kinh tế quốc tế, Khoa Thương
mại và Kinh tế quốc tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Thầy đã truyền
đạt cho em kiến thức về thương mại trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đã
giúp đỡ và tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn luôn
động viên, và giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua.
Do hạn chế về thời gian, khóa luận không tránh khỏi những sai sót và
hạn chế, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nộị, ngày 9 tháng 4 năm 2011
Sinh viên
Trịnh Xuân Tiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ
VIẾT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
1 APEC Asia-Pacific Economic
cooporation
từ 1986 - 2010
24
Bảng 2.2 Cán cân mậu dịch giữa Việt Nam – Nhật Bản và của Việt
Nam
27
Bảng 2.3 Tỷ trọng mậu dịch Việt Nam – Nhật Bản
29
Bảng 2.4 Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam giai đoạn
1989 - 1996
35
Bảng 2.5 Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam - Nhật Bản 2008 - 2010
36
Bảng 2.6 20 mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản có kim ngạch lớn
nhất 2009 - 2010
38
Bảng 2.7 10 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Nhật Bản có kim ngạch
lớn nhất năm 2009 - 2010
43
Bảng 3.1 Dự kiến cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2011
55
Biểu đồ 2.1 So sánh cán cân mậu dịch của Việt Nam - Nhật Bản và của
Việt Nam 1991 - 2010
28
Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng hàng xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản 2008 -
2010
37
Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng xuất khẩu sang một số thị trường lớn năm 2010 và
dự kiến năm 2011
56
Biểu đồ 3.2 Dự báo xuất khẩu sang Nhật Bản đến năm 2015
kinh tế của cả hai nước là rất lớn. Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ thương
mại Việt - Nhật để đề ra những biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa
hai nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong xây dựng cũng như thực
hiện các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
1
Nhật Bản là nhà tài trợ ODA lớn nhất của Việt Nam. Trước một đối tác
có vị trí và tiềm lực kinh tế lớn mạnh trên thế giới như nhật Bản, các hoạt
động đối ngoại Việt Nam - Nhật Bản hết sức có ý nghĩa. Quan hệ giữa Nhật
Bản và Việt Nam đã - đang và sẽ tiếp tục được lãnh đạo hai nước quan tâm ở
mức cao nhất để phục vụ cho công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước ta.
Quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian qua mặc dù
đã có nhiều tín hiệu rất đáng mừng, nhưng nhìn chung vẫn chưa tương sứng
với tiềm năng của cả hai nước. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải có
các giải pháp để phát triển các quan hệ này trong giai đoạn sắp tới, chính vì
vậy đề tài “Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 1986 đền
2010” được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển quan hệ
thương mại Việt Nam – Nhật Bản tới năm 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự phát triển quan hệ
thương mại Việt Nam – Nhật Bản từ năm 1986 đến 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải
pháp phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản từ năm 1986
đến 2010 và tầm nhìn 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích kinh tế, thống kê, phương pháp
chuyên gia, phương pháp đối chứng, so sánh để đi sâu phân tích làm rõ sự phát
triển của quan hệ thương mại Viêt Nam –Nhật Bản từ năm 1986 đến 2010.
Các nguồn thông tin sử dụng trong khóa luận: Luật thương mại Việt
nhau giữa các nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của các quốc gia.
Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước
tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho
đất nước.
Ngày nay thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là
buôn bán, mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao
động quốc tế. Vì vậy phải coi trọng thương mại quốc tế như là một tiêu đề,
một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu
sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế.
Có thể nói chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập niên 90 của thế kỷ thứ
20 đã tạo ra một diện mạo mới cho các quan hệ kinh tế quốc tế. Nó tác động
lớn đến nhiều quốc gia, làm thay đổi lớn cục diện thế giới. Mở đầu được đánh
dấu bằng sự tan rã của chế độ chính trị ở Liên Xô và một loạt các nước Xã
Hội Chủ Nghĩa ở Đông Âu. Tình hình an ninh chính trị trên thế giới về cơ bản
đã ở trong trạng thái ổn định. Nguy cơ của bùng nổ chiến tranh hạt nhân
(chiến tranh thế giới thứ 3) đã bị đẩy lùi. Điều này đã khiến cho các quốc gia
cảm thấy yên tâm hơn để bắt tay vào xây dựng và phát triển nền kinh tế của
đất nước. Bên cạnh việc các quốc gia không ngừng xây dựng và củng cố về
4
quốc phòng và an ninh quốc gia thì vấn đề xây dựng và phát triển nền kinh tế
vững mạnh cũng đã được các nước đặt mục tiêu phát triển nên hàng đầu. Các
xu thế cạnh tranh đối đich giữa các quốc gia, mâu thuẫn luôn luôn cùng tồn
tại và phát triển.nhưng nó không thể nào ngăn được xu thế toàn cầu hóa và
khu vực hóa đang phát triển mạnh mẽ.
Ngày nay xu thế này đã trở thành một yêu cầu khách quan của nền kinh
tế thế giới, thêm vào đó là sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật –
công nghệ, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển, cạnh tranh và hợp
tác giữa các nước trên thế giới mà nổi bật là vấn đề toàn cầu hóa. Ngày nay xu
thế này đã trở thành một yêu cầu khách quan của nền kinh tế thế giới. Thêm
vào đó là sự bùng nổ của cách mạng khoa học kĩ thuật-công nghệ đã mở ra
nhanh quá trình giao lưu hợp tác mạnh mẽ giữa các nền kinh tế trên thế giới.
Đây là nhân tố nổi bật giúp cho việc điều hành dễ dàng các hoạt động kinh tế
phân tán ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Bằng cách sử dụng rộng rãi
các thiết bị tin học ở nhiều quốc gia. Nhờ đó mà các quốc gia phát triển và các
nhà kinh doanh,doanh nghiệp. không những có thể mở rộng các hoạt động
kinh tế về qui mô ra nước ngoài, mà còn có thể tăng cường các hoạt động
kinh tế về chiều sâu, đổi mới về phương thức tổ chức và quản lý.
- Thứ ba, dưới tác động của toàn cầu hóa và cách mạng tin học, quá
trình liên kết khu vực cũng đang diễn ra mạnh mẽ giữa các nước, đòi hỏi các
quốc gia phải sử dụng tối ưu các nguồn lực để hội nhập có hiệu quả về quá
trình hợp tác và phân công lao động quốc tê. Các tiến trình này sẽ làm nảy
sinh nhu cầu kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách thương mại với đầu tư và
viện trợ , đẩy mạnh tự do hóa thị trường bằng cách dỡ bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan giữa các nước.
6
Tuy nhiên toàn cầu hóa như con dao hai lưỡi, một mặt nó là cỗ xe có
động cơ mạnh làm tăng tốc độ phát triển kinh tế, tạo cơ hội to lớn để cải thiện
điều kiện sống của người dân ở nước giàu lẫn nước nghèo. Nhưng mặt khác
nó cũng là cả một tiến trình đầy gian nan và thách thức. Nó sẽ tiến công vào
chủ quyền của mỗi quốc gia, có thể làm xói mòn nền văn hóa của mỗi dân
tộc, dẫn tới nguy cơ phân hóa xã hội, tạo ra hố ngăn cách giữa các quốc gia
cũng như các tầng lớp trong xã hội và nó ngày càng trở lên mạnh mẽ và sâu
săc hơn.
Như vậy toàn cầu hóa là xu hướng khách quan và nó đang trong quá
trình vận động không ngừng tạo những cơ hội và cả những thách thức cho các
quốc gia. Vì vậy các quốc gia cần phải biết khai thác những ưu thế và hạn chế
những thách thức của toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, từ đó tạo ra cơ hội để tham
gia ngày càng có hiệu quả hơn của hội nhập kinh tế quốc tê.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng đang diễn ra mạnh
mẽ, xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư được thúc đẩy bởi sự gia tăng
thương mại Việt Nam - Nhật Bản đó là APEC và ASEAN.
Ngày 11/01 2007 là một ngày lịch sử đối với Việt Nam và thương mại
toàn cầu, đánh dấu sự bắt đầu một kỷ nguyên mới trong quan hệ thương mại
Việt – Nhật, sự hợp tác thương mại giữa hai bên được đẩy lên tầm cao mới.
1.1.2. Đăc trưng của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
Trong suốt một giai đoạn dài của sự hợp tác và phát triển kinh tế của
Việt Nam, hầu như có sự góp mặt của Nhật Bản trong rất nhiều lĩnh Vực. Do
những điều kiện khác nhau của mỗi nước cả về kinh tế lẫn chính trị, mà hai
nước có những hướng đi khác nhau nhằm tìm kiếm những lợi ích cho đất
nước mình. Quan hệ thương mại giữa hai nước kể từ năm 1986 trở đi đã
không ngừng được mở rộng, cho đến nay Việt Nam và Nhật Bản trải qua một
thời kì dài hợp tác đã trở thanh đối tác kinh tế chiến lược(12/2008), mở ra thời
kì mới trong quan hệ thương mại và hợp tác giữa hai bên.
8
Nét đặc trưng của sự hợp tác là một sự hợp tác kinh tế mạnh mẽ và thân
thiện. Hai bên đều phát huy những khả năng tối đa, những lợi thế sẵn có để
hợp tác phát triển.
* Về phía Việt Nam, hầu hết là xuất khẩu những nguyên, nhiên liệu mà
Nhật Bản cần như: Nông, lâm và thủy sản….,đây là những mặt hàng mà thị
trường Nhật cần thiết. Và Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Nhật là những máy
móc, các trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho sự phát triển của đất nước.
* Về phía Nhật Bản, do kém lợi thế về mặt tài nguyên khoáng sản, do
vậy đã rất coi trọng hợp tác với Việt Nam để khắc phục những mặt yếu kém
đó. Hơn thế nữa là Nhật tăng cường đầu tư làm ăn ra nước ngoài, vừa là để
chiếm lĩnh thị trường, vừa tận dụng được những lợi thế ở nước ngoài như; tài
nguyên, nhân công, đất đai…,trên cơ sở tôn trọng luât pháp.
Trong những năm gần đây sự đầu tư của Nhật vào Việt Nam đặc biệt
mạnh mẽ, nhờ những cơ chế thông thoáng và đặc biệt năm 2007 Việt Nam
cũng đã là thành viên chinh thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều
này đã mở ra kỷ nguyên mới cho sự hợp tác về kinh tế giữa hai bên với những
Việt Nam vẫn là một nước nghèo, lạc hậu vẫn bị cô lập và bao vây về
kinh tế. Giai đoạn này tình hình quốc tế đã có những thay đổi, nhân tố này đòi
hỏi Việt Nam phải có sự chuyển hướng chiến lược thiết lập nền hoà bình ổn
định khu vực. Mở hướng quan hệ kinh tế với các nước Đông Nam Á, Châu Á
Thái Bình Dương thực hiện phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả
các nước vì hoà bình, độc lập và hợp tác phát triển”.
Để thực hiện đường lối đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chính sách
cải tổ cơ cấu và mở cửa kinh tế vào năm 1986. Việt Nam bắt đầu thực hiện sự
chuyển hướng của mình với ba nội dung chính:
(1) Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
10
(2) Từ bỏ mô hình công nghiệp hoá cũ, chuyển hướng cơ cấu ngành và
điều chỉnh cơ cấu đầu tư. Ưu tiên trọng tâm cho ngành sản xuất lương thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
(3) Mở cửa nền kinh tế đa phương hoá quan hệ thương mại và đầu tư, đa
dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, tự do hoá thương mại.
Việt Nam chuyển hướng phát triển kinh tế nhằm thu hút vốn kỹ thuật
tiên tiến của các nước nhằm thoát ra khỏi tình trạng cô lập và lạc hậu. Với
chính sách đổi mới đó tháng 12 năm 1987 Việt Nam đã ban hành luật đầu tư.
Sau đó cùng với chính sách tự do hoá thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu bộ
mặt nền kinh tế Việt Nam được thay đổi cũng nhờ luật đầu tư nước ngoài.
Nhận thấy được tầm quan trọng phải xây dựng nền kinh tế phát triển,
nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế
giới, Việt Nam đã có những chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, tăng
cường hợp tác với các các nước trên thế giới, đặc biệt là Nhật Bản .
* Về phía Nhật Bản
Nhật Bản bước vào thập kỷ 90 đã tích cực điều chỉnh các chính sách đối
ngoại nhằm tăng cường ảnh hưởng kinh tế và chính trị của mình trên trường
quốc tế. Có thể nói trọng tâm chính sách đối ngoại của Nhật hiện nay là Châu
phẩm của Nhật. Nhiều tài nguyên của Việt Nam chưa được khai thác hoặc đã
được khai thác nhưng còn trữ lượng rất lớn đang được chờ khai thác.
Việt Nam còn nhiều sản phẩm để phát triển công nghiệp khai mỏ, công
nghiệp, ngư nghiệp và một số nghành trọng điểm. Việt Nam cũng là một nơi
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nhật do còn nhiều tài nguyên thiên nhiên,
trong đó có các mỏ dầu đang khai thác, nền nông nghiệp và công nghiệp của
Việt Nam còn nhiều khả năng phát triển trong tương lai.
1.2.2. Tầm quan trọng của đẩy mạnh quan hệ thương mại với Nhật
Bản
Việt Nam là một nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới,
12
đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, những chiến lược phát triển công nghiệp và hạ tầng cơ sở lớn là những
nhiệm vụ kinh tế nặng nề mà Việt Nam giải quyết.
Khác với các nước công nghiệp đi trước – NIC, Đông Nam Á và các
nước ASEAN, sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam diễn
ra trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi và không thuận lợi. Chiến tranh lạnh
chấm dứt trên phạm vi toàn cầu, hoà bình được tái lập ở Đông Nam Á và quá
trình hội nhập ở vùng này cũng như quan hệ được cải thiện ở Trung Quốc và
các nước Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Nhật Bản đã tạo ra môi
trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của Việt Nam.
Là nước đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Việt
Nam có lợi thế là có thể học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và đặc
biệt là của Nhật Bản.
Là một thành viên lâu đời của APEC và WTO, Nhật Bản có tiếng nói
quan trọng và có những ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế thế giới. Việt
Nam đẩy mạnh quan hệ thương mại với Nhật Bản sẽ học được nhiều kinh
nghiệm lớn trong kinh doanh và được ưu đãi về nhiều mặt, đặc biệt là những
chính sách ưu đãi về thuế khi Việt Nam cũng đã là thành viên chính thức của
nhiều hơn cho các tỉnh, thành phố, khu tự trị trong quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp FDI. Nhà nước cho phép mỗi tỉnh, thành phố, khu tự trị có
những đặc quyền trong quản lý, phê chuẩn dự án đầu tư
- Công khai các kế hoạch phát triển kinh tế: Trung quốc cũng công bố
rộng rãi và tập trung hướng dẫn đầu tư nước ngoài vào các ngành được
khuyến khích phát triển, đặc biệt là những lĩnh vực mà trong nước chưa sản
xuất được.
- Trung Quốc giảm thuế, có chính sách ưu đãi hấp dẫn cho các nhà đầu
14
tư nước ngoài: Các dự án đầu tư vào đặc khu kinh tế, khu công nghệ cao sẽ
được ưu đãi về thuế, các dự án đầu tư vào các vùng kinh tế khó khăn như
miền Tây, miền Trung – sẽ được thuê đất miễn phí, miễn thuế thu nhập trong
vòng 10 năm. Cho phép nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính, mở
rộng các quy định về ngoại hối.
- Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng hiện đại,
thuận tiện cho việc buôn bán và giao lưu quốc tế luôn là yếu tố quan trọng
hấp dẫn các nhà đầu tư. Trung quốc chú trọng xây dựng nhiều đặc khu kinh tế
và các thành phố duyên hải. Tại các đặc khu này, Trung Quốc tập trung xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị, nhà ở, trường học, bệnh viện, trung tâm
công cộng. Nhà nước cho phép địa phương tự khai thác khả năng để có vốn
đầu tư cơ sở hạ tầng, để khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào
quá trình tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
- Trung Quốc đặc biệt coi trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ
cao: Nguồn nhân lực có trình độ sau đại học của Trung Quốc chỉ đứng sau
Mỹ và Ấn Độ, tạo những điều kiện tốt nhất cho nghiên cứu khoa học và thu
hút nhân tài, không những ở trong nước mà còn ở nước ngoài đến Trung
Quốc để phục vụ công quộc xây dựng đất nước.
Chính những yểu tố quan trọng đó đã góp phần không nhỏ làm lên sự
thành công của Trung Quốc trong giai đoạn gần đây.
1.3.1.2. Kinh Nghiệm của Thái Lan
Thai Lan rất coi trọng và đầu tư cho giáo dục: Chính phủ giao cho một
số viện nghiên cứu thực hiện hoạt động dự báo nhu cầu sử dụng nguồn lao
động nhằm chủ động trong công tác đào tạo nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu
lao động cho thị trường. Trang bị miễn phí máy tính cho mỗi lớp học, miễn
phí dạy tin học cho mọi đối tượng. Thái lan có tới 22% sinh viên tốt nghiệp
đại học các ngành toán, máy tính.
1.3.2. Bài học đối với Việt Nam
Đối với Việt Nam, do chúng ta có những điểm khác biệt về nhiều mặt so
16
với Trung Quốc Và Thái Lan, trong khi hai nước này đã tiến hành xây dựng
và phát triển kinh tế thì chúng ta vẫn phải tiến hành các cuộc đấu tranh thống
nhất đất nước, do vậy có trình độ phất triển chậm hơn là điều không thể phủ
nhận. Tuy nhiên với những lỗ lực không ngừng của cả nước trong thập niên
gần đây, Việt Nam đã là tâm điểm lớn thu hút sự chú ý của khu vực và thế
giới, có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định. Mặc dù vậy trước mắt chúng
ta vẫn là vô vàn khó khăn và thách thức trước làn sóng kinh tế phát triển và
hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu cấp thiết đặt ra là: Chúng ta phải biết
phát huy nội lực, chớp lấy thời cơ, đón đầu những cơ hội để dẩy lùi những
khó khăn, nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Để đạt được mục tiêu đó một mặt chúng ta phải không ngừng cải cách
hơn nữa các thủ tục pháp lý về đầu tư trong nước, mặt khác phải biết tiếp thu
những tinh hoa và bài học kinh nghiệm của các nước, ứng dụng có chọn lọc
vào công cuốc phát triển kinh tế của việt Nam.
Môi trường pháp lý có vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài, đặc biệt sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản, thể chế chính trị
ổn định, hệ thống pháp luật đồng bộ, thủ tục đầu tư đơn giản và nhiều chính
sách khuyến khích, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư là mặt mà Việt
Nam cần đẩy mạnh hơn nữa.
Chúng ta cần phải đơn giản và rút ngắn hơn nữa các thủ tục, quy trình
động hơn trong việc quy hoạch sản xuất, phát triển sản xuất nhằm tạo ra sự
đồng bộ và thống nhất giữa hoạt động sản xuất và quy hoạch.
18
CHƯƠNG 2
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
GIAI ĐOẠN 1986 - 2010
2.1. Chính sách phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
Nhằm mục tiêu đưa kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển sâu rộng và
hội nhập quốc tế manh hơn nữa, quan hệ thương mại song phương Việt Nam
– Nhật Bản được chính phủ hai nước đặc biệt quan tâm.
Sau một loạt những thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực châu Á
Thái Bình Dương từ chính trị, đến an ninh, kinh tế, toàn cầu hóa và khu vực
hóa trước những năm 1992 đã tạo ra những cơ hội và thách thức cho các quốc
gia cả song phương và đa phương …, hối thúc các quốc gia thiết lập và mở
rộng giao lưu kinh tế song phương; Quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt –
Nhật được “tái lập” lại và thúc đẩy mạnh mẽ hơn.
Nếu chúng ta coi bối cảnh quốc tế và khu vực là yếu tố tác động “bề
ngoài” thì yếu tố Việt Nam - tiếp tuc đổi mới kinh tế, những lợi thế và nhu
cầu lợi ích là những yếu tố “bên trong” quan trọng thúc đẩy sự tái lập và
phát triển quan hệ kinh tế với Nhật Bản. Cả hai yếu tố này đều không thể
thiếu, trong việc tạo ra cơ sở để cho quan hệ giữa Việt Nam – Nhật Bản được
phát triển.
Yếu tố Nhật Bản cũng là yếu tố “bên trong” không kém phần quan trọng
trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước. Nói khác đi chính tiềm lực kinh tế,
chính sách kinh tế đối ngoại hương về Châu Á, và lợi ích của Nhật Bản trong
quan hệ với Việt Nam đã tạo ra cơ sở trong quan hệ giữa Việt Nam – Nhật
Bản được phát triển.
Trong những năm gần, đây chính phủ hai nước đặc biệt quan tâm và trú
trọng đến việc tạo những hành lang pháp lý, để tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho sự hợp tác giữa hai bên trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là hợp tác kinh tế.
mà chính phủ Nhật đặt ra.
Về phía Việt Nam vẫn kế thừa và phát huy có chọn lọc, những quan điểm
đổi mới của Đảng từ Đại Hội VI, Đại Hội VII của Đảng đề ra nhằm đưa kinh tế
Việt Nam phát triển. Với nhiều biện pháp cải cách mạnh mẽ và táo bạo, sau hơn
20 năm kiên trì thực hiện đường lối đổi mới, và mở rộng quan hệ thương mại với
Nhật Bản, đã đạt được nhưng kết quả đáng kể (năm 2010 Tổng kim ngạch thương
mại giữa Việt Nam – Nhật Bản đã đạt hơn 16 Tỷ USD).
Sự hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản đang được mở rộng không chỉ
trong quan hệ song phương, mà cả ở khu vực và trên trường quốc tế, tháng 12
năm 2008 hai nước đã ký Hiệp định đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
(VJEPA). Quyết tâm xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản.
2.1.2. Nguyên tắc
Trong suốt mấy thập niên gần đây, quan hệ thương mại Việt – Nhật không
ngừng được thiết lập, và ngày càng mở rộng hợp tác trên rất nhiều lĩnh vực. Đạt
được những thành công như vậy là nhờ vào quá trình lỗ lực rất lớn của cả hai
bên dựa trên nguyên tắc; tăng cường hợp tác, giao lưu trao đổi và học hỏi lẫn
nhau nhằm thúc đẩy mạnh hơn nữa sự trao đổi mậu dịch giữa hai bên.
Mục tiêu phát triển kinh tế bền vững nhằm mở đường và tạo điều kiện
thuân lợi hơn cho những hoạt động giao lưu hợp tác trên tất cả các phương diện.
Hai bên phát huy tối đa những ưu thế và kinh nghiệm nhằm giúp đỡ và
trao đổi, chuyển giao về khoa học và công nghệ, cũng như những giá trị văn
hóa truyền thống làm tiền đề cho sự hợp tác rộng rãi về kinh tế.
Việt Nam sẽ không ngừng hoàn thiện thêm hệ thống Luật pháp để tạo
điều kiện thuận lợi nhất, thu hút hơn nữa các nhà đầu tư quốc tế vào Việt
Nam, trong đó có phần lớn là các công ty Nhật.
Theo những thông tin từ phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam,
trong thời gian tới cả hai nước sẽ tăng cường đầu tư hợp tác nhiều hơn nữa tạo
ra bước đột phá mới về hợp tác kinh tế trong tương lai. Trên nguyên tắc bình
21