Hoàn thiện việc áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại chi nhánh Phú Thọ - Pdf 25

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- BIDV : Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- TMCP: Thương mại cổ phần
- CBTD : Cán bộ tín dụng
- CIC : Trung tâm thông tin tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- DN : Doanh nghiệp
- BCTC: Báo cáo tài chính
- KH : Khách hàng
- NHNN : Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
- SXKD : Sản xuất kinh doanh
- TCTD : Tổ chức tín dụng
- TSĐB: Tài sản đảm bảo
- XHTD: Xếp hạng tín dụng
- HTXHTD: Hệ thống xếp hạng tín dụng
- XDCB: Xây dựng cơ bản
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô và cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng TMCP
ĐT&PT VN chi nhánh Phú Thọ giai đoạn 2009 - 2011
Bảng 2.2 Quy mô và cơ cấu tín dụng tại Ngân hàng TMCP
ĐT&PTVN chi nhánh Phú Thọ giai đoạn 2009 - 2011
Đồ thị 1 Tỷ trọng các mức xếp hạng năm 2009
Đồ thị 2 Tỷ trọng các mức xếp hạng năm 2010
Đồ thị 3 Tỷ trọng các mức xếp hạng năm 2011
Đồ thị 4 Tỷ trọng các doanh nghiệp được xếp hạng và không được
xếp hạng của chi nhánh giai đoạn 2009 - 2011
Đồ thị 5 Tỷ lệ nợ xấu toàn chi nhánh và tỷ lệ nợ xấu đến từ nhóm
khách hàng là doanh nghiệp giai đoạn 2009 - 2011
Phụ lục 1 Các chỉ tiêu tài chính và tỷ trọng trong khối khách hàng
doanh nghiệp

hàng nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn như giai đoạn hiện nay, sau một thời
khá dài hoạt động ngân hàng không được kiểm soát một cách chặt chẽ gây nên
tình trạng cho vay tràn lan khiến cho tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống tăng cao
nên vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp hạn chế, khắc phục tình hình này.
Trong quá trình thực tập tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh Phú Thọ, vấn đề tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề và tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện việc áp dụng hệ
thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam tại chi nhánh Phú Thọ”.
Đề tài được chia thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng
- Chương 2: Phân tích thực trạng áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng
doanh nghiệp của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại
chi nhánh Phú Thọ.
- Chương 3: Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại của BIDV
áp dụng tại chi nhánh Phú Thọ
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Tín dụng nói chung là một thuật ngữ kinh tế được nghiên cứu rất nhiều, do
đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng. Thuật ngữ tín dụng được bắt
nguồn từ tiếng Latinh là “Credo” (tin tưởng, tín nhiệm) nhưng trong quan hệ tài
chính hay cuộc sống thì thuật ngữ này lại được hiểu tùy theo góc nhìn nhận. Xét
trên góc độ chuyển dịch quỹ thì tín dụng sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người
cho vay sang người đi vay. Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là
một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả. Còn tín dụng ở nghĩa hẹp được
hiểu là một số tiền mà các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay.
Tuy nhiên, dựa trên góc độ từ phía ngân hàng thì tín dụng được hiểu là:
“một giao dịch về tiền giữa bên cho vay (ngân hàng thương mại và các định chế
tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế

- Bảo lãnh của ngân hàng: là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư
bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng,
khi khách hàng không thực hiện được đúng nghĩa vụ như cam kết với bên thứ ba.
Đối với đa số các ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động mang
lại thu nhập chính cho ngân hàng hơn là bảo lãnh hay chiết khấu giấy tờ có giá.
“Rủi ro đo lợi tức”, do vậy đây là hoạt động tiềm ẩn nguy cơ mang đến tổn thất
cho ngân hàng.
1.1.2.2. Căn cứ vào thời hạn
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn dưới 12 tháng nhằm tài trợ cho vốn lưu động
hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất…
2
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn
chủ yếu để đầu tư vào tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng
các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm và thường tài trợ cho các dự án
dài hạn, xây dựng xí nghiệp, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định,…có quy mô,
mua trái phiếu…
Vì những khoản vay càng dài, khả năng khó thu hồi gốc và lãi của ngân hàng sẽ
cao hơn so với những khoản vay có kỳ hạn ngắn hơn. Cho nên đây cũng chính là
một trong những tiêu chí để ngân hàng thương mại đánh giá mức độ rủi ro cho
từng khoản vay. Tùy vào thời hạn khoản vay là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn,
ngân hàng thương mại sẽ có chính sách khách hàng, chính sách lãi suất phù hợp
với thời hạn đó.
1.1.2.3. Căn cứ vào mức độ đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng khi có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Nghiệp vụ này áp dụng
với những khách hàng có sự yếu kém về tài chính (lý do thông thường nhất) hoặc
do kỳ hạn khoản vay dài hoặc ngân hàng chưa đủ tin tưởng về sự nhất định hoàn
trả vốn vay từ phía khách hàng. TSĐB chính là cơ sở để ngân hàng trích lập dự
phòng, nhằm hạn chế tổn thất xảy ra đối với các khoản vay này.

Thứ nhất , tín dụng ngân hàng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ
sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử
dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc và
lãi) đúng hạn.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Việc
xác định thời hạn đó dựa vào:
4
- Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay: thời hạn cho vay phải phù hợp
với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc đó người vay mới có điều
kiện để trả nợ. Nếu thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng
vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ. Ngược lại, nếu thời hạn
cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng có
nguồn vốn dư dừa và sử dụng vốn không đúng mục đích.
- Tính chất vốn của người cho vay: ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để
cho vay’’, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn sao cho
phù hợp với thời hạn huy động của ngân hàng, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả
vốn huy động
Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng có của tín dụng. Giá trị
hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả
giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng mộtkhoản lãi phải luôn luôn là
một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận
cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại, vì mục tiêu lợi nhuận.
Thứ tư, tín dụng là hoạt động rất rủi ro. Các rủi ro ngân hàng thương mại
thường gặp phải trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi
ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tồn đọng vốn trong đó rủi ro tín dụng
chiếm tỷ trọng cao nhất. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà
ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả
không đầy đủ vốn và lãi.

hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty bị phá sản, vỡ nợ. Thời
kỳ này chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tư
(các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái
phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín dụng. Và
6
chính những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín dụng
ngày một lên cao. Tuy nhiên, trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín dụng chỉ
được phổ biến ở Mỹ và chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín
dụng mới được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước.
Hiện nay, thuật ngữ “Credit Rating” được dịch theo nhiều nghĩa khác nhau
như “xếp hạng tín nhiệm”, “xếp hạng tín dụng”, “xếp loại tín dụng” và “phân
loại tín dụng”. Trong đó, sát nghĩa nhất và được dùng phổ biến là “xếp hạng tín
dụng” (phân loại có thứ bậc). Đã có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ này từ
các tổ chức tài chính và tổ chức xếp hạng trên thế giới. Theo định nghĩa của công
ty chứng khoán Merrill Lynch thì “xếp hạng tín dụng” là cách đánh giá hiện thời
về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai,
phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng
hạn. Trong kết quả xếp hạng tín dụng chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên
gia xếp hạng tín dụng”. Theo Standards & Poor, xếp hạng tín dụng là những ý
kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý
của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và
đúng hạn. Theo Moody's, xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất
lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân
tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C. Theo định
nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura: “Xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện tại về
mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc hoặc lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà
phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó”.
Như vậy, về định nghĩa, mỗi tổ chức tài chính định nghĩa “xếp hạng tín
dụng” khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi là : Xếp hạng tín dụng là các ý kiến
đánh giá về chất lượng tín dụng và sự sẵn lòng thanh toán các nghĩa vụ tài chính

trong các giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng, và khả năng phát
hiện sớm các khoản tín dụng xấu.
8
Thứ hai, hỗ trợ Ban Giám đốc trong việc ra quyết định cấp tín dụng như
thế nào?
Hệ thống xếp hạng tín dụng sẽ lượng hóa các chỉ tiêu về doanh nghiệp một
cách khách quan thay vì hoàn toàn dựa vào đánh giá của cán bộ tín dụng. Nếu
như trước kia, kết quả thẩm định một khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào trình
độ, kinh nghiệm của bản thân nhân viên tín dụng và đã có những trường hợp giữa
Ban giám đốc và nhân viên tín dụng không có sự thống nhất về kết quả đánh giá
khách hàng, từ đó có thể bỏ qua cơ hội thiết lập quan hệ với một khách hàng có
tiềm năng. Do đó, sử dụng hệ thống với sự hiện đại của các thiết bị công nghệ, số
liệu sẽ được nhập vào máy tính và máy tính dựa trên phần mềm sẵn có sẽ đưa ra
kết quả một cách khách quan.
Hệ thống này có thể giải quyết công việc với số lượng lớn. Chính vì vậy
mà chi phí hoạt động có thể được giảm đi và hạn chế được rủi ro tác nghiệp do sự
thiếu kinh nghiệm của nhân viên ngân hàng, giảm bớt sự can thiệp từ con người.
Trong giai đoạn thẩm định, kết quả XHTD được sử dụng để quyết định việc đồng
ý hay từ chối cấp tín dụng cho khách hàng
Thứ ba, hệ thống XHTD là cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng.
Quan hệ khách hàng của các ngân hàng phụ thuộc vào mức độ XHTD của
khách hàng đó. Những khách hàng vay có mức XHTD thấp cần phải được chú
trọng theo dõi, “thăm hỏi”. Ngược lại, những khách hàng tốt với mức XHTD cao
sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch. Khi cho vay, điều kiện vay vốn
đối với từng nhóm khách hàng cũng có sự khác nhau. Nếu doanh nghiệp đó được
xếp vào mức an toàn sẽ được vay vốn với chính sách ưu đãi . Còn các doanh
nghiệp trong nhóm rủi ro cao sẽ phải vay vốn với các điều kiện khắt khe hoặc
không cho vay. Không chỉ có vậy, trong vấn đề xác định giá khoản vay - mức
giá cho khoản vay phải phù hợp và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng, và tương
ứng với mức độ rủi ro. Như vậy không phải doanh nghiệp nào cũng được vay với

10
thanh toán, Kết quả xếp hạng doanh nghiệp hàng năm sẽ tôn vinh các doanh
nghiệp có vị trí xếp hạng cao, đồng thời doanh nghiệp cũng phải có giải pháp khi
bị tụt hạng. Điều này sẽ góp phần rất lớn trong việc quảng bá và phát triển thực lực
của doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như ở nước ngoài.
Thứ ba, xếp hạng tín dụng là cơ sở để đánh giá năng lực của doanh nghiệp.
Qua đó tạo sự bình đẳng, cạnh tranh hơn trong hoạt động huy động vốn của doanh
nghiệp. Việc được xếp hạng tín dụng cao cũng là yếu tố giúp các doanh nghiệp
duy trì sự ổn định của nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp, có nhiều cơ hội tiếp cận
nguồn vốn với lãi suất hoặc các điều kiện ưu đãi từ ngân hàng…, nguồn vốn cũng
được chuyển giao đến doanh nghiệp tốt để thúc đẩy các doanh nghiệp này tiếp tục
duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
1.2.3. Quy trình xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp
Căn cứ vào chính sách tín dụng và các quy định có liên quan của từng ngân hàng
nhằm xác lập quy trình XHTD. Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản
như sau:
Bước 1: Thu thập, tổng hợp thông tin về tư cách và năng lực pháp lý, năng
lực điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao
động trong doanh nghiệp, thu thập, tổng hợp thông tin về tình hình sản xuất kinh
doanh, bán hàng và khả năng tài chính (thông qua các báo cáo tài chính, báo cáo
kiểm toán, thuế…); thẩm định tính chính xác của thông tin… Trong quá trình thu
thập thông tin, ngoài nhưng thông tin do chính khách hàng cung cấp, cán bộ thẩm
định phải sử dụng nhiều nguồn thông tin khác để đảm bảo tính khách quan và
chính xác. Chẳng hạn như thông tin từ các cơ quan quản lý, trung tâm thông tin
hoặc từ các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, đối với các thông tin
để đánh giá chỉ tiêu phi tài chính, các ngân hàng thương mại phải có nguồn dữ
liệu trong quá khứ được lưu trữ về khách hàng của mình. Trên đây là những
nguồn dữ liệu vô cùng quan trong để qua đó là cơ sở để xác định mức xếp hạng
cho các doanh nghiệp.
11

tiêu chuẩn quốc tế.
Việc xếp hạng tín dụng là một chu trình xuyên suốt với số lượng doanh
nghiệp được xếp hạng là rất lớn. Mỗi doanh nghiệp lại có một tập hợp các thông
tin để mô tả về tình hình của doanh nghiệp đó. Nếu ngân hàng có được hệ thống
kỹ thuật hiện đại thì sẽ giải quyết được khối lượng công việc đồ sộ đó một cách
nhanh chóng hơn, là nền tảng để ngân hàng giảm thiểu sự phụ thuộc vào ý kiến
chủ quan của con người, từ đó tạo nên sự khách quan, độc lập hơn trong việc
đánh giá chất lượng tín dụng khách hàng, xây dựng chính sách khách hàng được
chính xác hơn.
1.3.1.2. Trình độ, năng lực, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng
Tuy có sự trợ giúp của hệ thống kỹ thuật hiện đại nhưng không thể phủ
nhận tầm quan trọng của con người trong việc vận hành hệ thống xếp hạng tín
dụng vì cho dù có hiện đại, tự động hóa đến đâu cũng không thể bao quát hết
được tất cả các tình huống xảy ra trên thực tế. Hệ thống kỹ thuật chỉ phản ánh
được những gì cơ bản nhất cho phần lớn các doanh nghiệp được xếp hạng sau khi
trải qua quá trình tác nghiệp của cán bộ tín dụng. Việc này đòi hỏi cán bộ tín
dụng phải có năng lực chuyên môn, linh hoạt trong các tình huống chứ không chỉ
áp dụng máy móc các tiêu chuẩn đặt ra.
Bên cạnh đó, các chỉ tiêu phi tài chính trong xếp hạng tín dụng doanh
nghiệp là những chỉ tiêu phụ thuộc rất lớn vào khả năng thu thập thông tin, thẩm
định thông tin của người xếp hạng. Do đó, khi nhân viên tín dụng tìm kiếm được
thông tin một cách có chọn lọc, kiểm tra thông tin cẩn thận kỹ lưỡng sẽ góp phần
đánh giá đúng năng lực của khách hàng. Điều này gợi mở vấn đề về đạo đức
nghề nghiệp của nhân viên tín dụng. Chỉ cần một sự gian lận trong quá trình đánh
giá sẽ dẫn đến kết quả xếp hạng sai và sẽ đem lại rủi ro cho ngân hàng.
13
1.3.1.3. Chính sách của từng ngân hàng
Mỗi ngân hàng có thể tự xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng cho
riêng mình thông qua sự cố vấn, trợ giúp của các chuyên gia do vậy quy trình
XHTD của các ngân hàng khác nhau là khác nhau. Có ngân hàng coi trọng các

Như vậy để đánh giá doanh nghiệp được đầy đủ, chính xác thì nguồn thông
tin từ báo cáo tài chính chưa đủ, đòi hỏi phải có nhiều nguồn thông tin khác nhau
như từ các tổ chức thống kê, từ các cơ quan thuế, hải quan, thông tin quan hệ với
các tổ chức tín dụng, các thông tin về tranh chấp kinh tế, từ hệ thống lưu trữ của
chính ngân hàng đó… Và chất lượng các thông tin này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
việc xếp hạng doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định tín dụng
của ngân hàng.
1.3.2.2. Quy định của Nhà nước
Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận nhiều nhất nhưng cũng đem lại
rủi ro cao nhất cho ngân hàng. Và hoạt động của một ngân hàng sẽ có ảnh hưởng
dây chuyền đến toàn hệ thống ngân hàng. Do vậy, Nhà nước rất quan tâm và có
các biện pháp kiểm soát chặt chẽ bằng việc ban hành các quy định về quản trị rủi
ro trong đó có các quy định về xếp hạng tín dụng khách hàng. Các ngân hàng có
thể tự có 1 hệ thống XHTD của riêng mình nhưng tất cả đều phải tuân theo một
chuẩn mực chung do Nhà nước cung cấp. Đó chính là những định hướng của Nhà
nước đối với các ngân hàng nhằm qua đó xây dựng được hệ thống XHTD phù
hợp với hoạt động của chính ngân hàng mình.
15
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ
THỐNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP CỦA
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM TẠI
CHI NHÁNH PHÚ THỌ
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi
nhánh Phú Thọ
2.1.1. Quá trình hình thành
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, có tên giao dịch quốc tế
là Bank for Investment and Development of Vietnam viết tắt BIDV, tiền thân là
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, được thành lập theo Quyết định 177/TTg ngày
26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng ban đầu là cấp phát và quản
lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách phục vụ tất cả các lĩnh vực kinh

ngân hàng thương mại lớn nhất ở Việt Nam Bên cạnh việc hoạt động đầy đủ các
chức năng của một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng
hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, đầu tư tài chính,
làm ngân hàng đại lý…, NHĐT&PTVN luôn khẳng định là ngân hàng chủ lực
phục vụ đầu tư phát triển, huy động vốn cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
cho các thành phần kinh tế.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ
được thành lập ngày 27/5/1957, là chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng TMCP
ĐT&PT Việt Nam; có địa chỉ tại số 1167, Đại lộ Hùng Vương, Phường Tiên Cát,
Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ. Đây là một trong bảy chi nhánh được thành
lập sớm nhất trên toàn miền Bắc giải phóng. Cùng với sự phát triển của BIDV,
BIDV chi nhánh Phú Thọ đã trải qua 55 năm phát triển cùng với sự phát triển
kinh tế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Ban đầu khi mới được thành lập trong bối nền
kinh tế kiệt quệ vì chiến tranh, mọi thứ đều thiếu thốn khó khăn, Ngân hàng với
số vốn cấp ít, số lượng và chất lượng nhân viên của chi nhánh còn hạn chế, công
nghệ còn lạc hậu, chủ yếu giao dịch mang tính thủ công là chính, hoạt đông của
17
chi nhánh chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì cho tới nay với những
nỗ lực không ngừng của tập thể lãnh đạo, nhân viên chi nhánh trong suốt quá
trình phát triển mà những dịch vụ chi nhánh đem lại cho khách hàng đã được
nâng cao dần lên, đa dạng hóa các sản phẩm nhằm phù hợp với các yêu cầu của
khách hàng. Bên cạnh đó, chi nhánh đã trang bị hệ thống máy tính kết nối trong
toàn bộ các phòng, ban nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên tác nghiệp và
nâng cao hiệu quả hoạt động chung. Hơn nữa, xác định nguồn lực con người luôn
là nguồn lực quan trọng nhất nên chi nhánh tập trung quan tâm đến việc đào tạo
đội ngũ nhân viên, coi đây là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và lâu dài.
Không chỉ có nhân viên mới vào được học tập rèn luyện và thử thách với môi
trường làm việc mà các nhân viên lâu năm có kinh nghiệm vẫn luôn phải được
đào tạo bổ xung cho thích ứng với sự thay đổi của chính sách mà Nhà nước đưa
ra, qua đó tạo ra được đội ngũ nhân viên thực sự chất lượng với môi trường làm

với việc tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động tín dụng đầu tư BIDV Phú
Thọ đã từng bước chuyển hướng từ cho vay theo kế hoạch Nhà nước sang tự
cho vay tự chịu trách nhiệm. BIDV Phú Thọ không chỉ đáp ứng để cho vay
đơn thuần mà còn phục vụ đầu tư các chương trình phát triển kinh tế, các dự
án trọng điểm trên địa bàn, đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho gần 500 dự án để
các doanh nghiệp có điều kiện đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng sản
xuất tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho thị trường và xuất khẩu.
Cùng với đó nhiều chương trình, dự án kinh tế trọng điểm của tỉnh cũng
được triển khai thuận lợi hơn với sự tham gia của BIDV Phú Thọ, đặc biệt là chủ
trương sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của tỉnh. Hơn nữa, BIDV Phú Thọ còn
tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế lớn của đất nước khá thành
công với số vốn hàng trăm tỷ đồng như chương trình phát triển 5 triệu ha rừng,
chương trình 1 triệu tấn đường, 5 triệu tấn xi măng, chương trình kiên cố hóa
19
kênh mương. Cùng với hệ thống BIDV, BIDV Phú Thọ cũng đã trưởng thành
hơn rõ rệt với điều kiện hoạt động dần được quy chuẩn bằng công nghệ hiện.
Điều đặc biệt, năm 2012 là năm ghi dấu chặng đường 55 năm xây dựng và
trưởng thành của BIDV nói chung và BIDV Phú Thọ nói riêng, và kể từ ngày
27/4/2012 BIDV chính thức hoạt động theo mô hình Ngân hàng TMCP. Đây là
một cuộc “cách mạng” toàn diện, sâu rộng, đột phá, triệt để trong hoạt động của
BIDV, thực sự gắn với thị trường, hướng tới khách hàng.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức
Chi nhánh BIDV Phú Thọ hoạt động theo mô hình chi nhánh hỗn hợp với
nhiệm vụ trọng tâm là cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa năng và tiện ích
cao cho khách hàng trên nền tảng công nghệ hiện đại nhằm góp phần nâng cao
năng lực tài chính quản lý, công nghệ và trình độ cán bộ trong hệ thống. Sơ đồ về
cơ cấu tổ chức của chi nhánh được mô tả như hình sau:
Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
– Chi nhánh Phú Thọ


Phòng Quan hệ
khách hàng CN
Khối Quản
lý nội bộ
Tổ Điện toán
Phòng Kế
hoạch Tổng hợp
Phòng Tổ chức
Hành chính

Trích đoạn Nâng cao chất lượng thu thập và thẩm định thông tin về doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tín dụng Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước PHỤ LỤC 2: CÁC CHỈ TIÊU PHI TÀI CHÍNH VÀ TỶ TRỌNG KHỐI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status