Nghiên cứu việc tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên trong trường đại học - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÈ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
r v i *

Tên đê tài:
“NG HIÊ N CỨU VIỆC TÒ CH Ứ C T Ư VÁN NGH È
CH O SIN H VIÊN TRONG TRƯ Ờ NG ĐẠI H Ọ C ”
M Ã SỔ: Q G .07.43
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Nguyễn Minh Thuyết
Đồng chủ nhiệm đề tài: TS. Trịnh Văn Tùng
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Công nghệ đào tạo
và Hệ thống việc làm
ĐA ỉ HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TĂM IHONG Ỉ1N THƯ ViẸN
0006000ũ0?9
Hà Nội, tháng 12/2010
■■ ■ t r e « H ì
;< iS U S K
vfij
u m a a trr* J
Trang
Bảng 3.1. Thực trạng định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề danh cho 86
sinh viên
Bảng 3.2. Định hướng giả trị nghề nghiệp của sinh viên 88
Bảng 3.3. Mức độ phù hợp giữa ngành học và định hướng nghề nghiệp 89
của sinh viên ĐHQGHN
Bảng 3.4: Vai trò của gia đình trong việc tư vấn nghề cho sinh viên 96
Bảng 3.5. Sự trao đổi nhằm định hướng nghề nghiệp giữa sinh viên và 97
gia đình
Bảng 3.6. Vai trỏ của mỏi trường đại học trong định hướng nghề nghiệp 98

-4-
DANH MỤC BIỂU ĐÒ
Trang
Biểu đồ 01. Mức độ được tư vấn thông tin về nghề gẳn với ngành học 92
của sinh viên khi lựa chọn ngành thi đại học
Biểu đồ 02. Các “kênh ” lựa chọn ngành học của sinh viên 94
Biểu đồ 03. Vai trò của giảng viên/cố vấn học tập trong định hướng 99
nghề nghiệp và tư vấn nghề cho sinh viên
Biểu đồ 04. Mức độ trao đổi của sinh viên với bạn bè về định hướng 106
nghề nghiệp và xu hướng chọn nghề sau khi tốt nghiệp đại học
Biểu đồ 05. Tỉ lệ sinh viên làm thêm 109
DANH MỤC Sơ ĐỒ
Trang
Hình 2. Tam giác hướng nghiệp 29
Hình 3. Mối quan hệ nguy hiểm giữa người lái xe với người đứng ờ 32
lòng đường
Hình 4. Miền chọn nghề tối ưu 34
Hình 5. Xác định công thức của nghề phù hợp 39
Hình 6. Mô hình giản lược phòng tư vấn nghề 67
Hình 7. Mô hình tư vấn nghề cho sinh viên đại học 1 26
Hình 1. Sơ đồ khái quát về giám định lao động 25
-6 -
MỤC LỤC
I. PHÀN MỞĐẰU 1 1 
1. Lí do chọn đề tài 11 -
2. Ý nghĩa lí luận và nghĩa thực tiễn của đề tài

- 13 -
3. Mục đích nghiên cứu 14 -
4. Đối tượng, khách thể và phạm vỉ nghiên cứu

5.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
18-
II. NỘI DƯNG CHÍNH 19 -
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐẺ LÝ LUẬN CHUNG VÈ T ư VẤN NGHÈ

.
- 19 -
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN c ứ u 19 -
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước -19
1.1.2. Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề trên thế giới-
21 -
1.2. TƯ VẤN NGHÈ TRONG HỆ THỐNG HƯỚNG NGHIỆP - 24 -
1.2.1. Một số khái niệm công cụ 24 -
1.2.1.1. Khái niệm “Giám định lao động” - 24 -
1.2.1.2. Khái niệm “Phù hợp nghề” - 27 -
1.2.1.3. Khái niệm về hướng nghiệp - 29 -
1.2.2. Những công việc cơ bản của tư vấn nghề 31
1.2.2.1. Chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc tư vấn nghề - 31 -
1.2.2.2. Xác định miền chọn nghề tối ưu - 34 -
1.2.2.3. Xác định công thức nghề phù hợp 36 -
1.2.3. Một số phương pháp cụ thể dung để đo đạc những phẩm chất tâm
lý với mục đích tư vấn nghề 40 -
1.2.3.1. Hứng thú và cách đánh giá hứng thú - 40 -
1.2.3.1.1. Một enquête (survey) tìm hiểu hứng thú học tập

- 41 -
1.2.3.1.2. Một test đo hứng thú nghề nghiệp

- 45 -
1.2.3.2. Năng lực và cách đánh giá năng lực nghề nghiệp

vấn nghề cho sinh viên ở ĐHQG Hà Nội

- 98 -
3.2.2. Vai trò cùa Nhà trường đổi với định hướng nghề nghiệp và tư vấn
nghề cho sinh viên ĐHQGHN 100 -
3.2.3. Vai trò“Truyền thông đại chúng” trong việc cung cấp thông tin về
thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên năm ĐHQGHN-
102
3.2.4. Vai trò của “Bạn/Nhóm bạn ” trong định hướng nghề nghiệp và tư
vấn nghề cho sinh viên ĐHQGHN 106 -
3.2.5. Ảnh hưởng của á‘thị trường ỉao động” đến xu hướng chọn nghề
của sinh viên tại ĐHQGHN.
- 108 -
3.3. Thực trạng công tác tư vấn chọn nghề cho sinh viên Đại học Quốc
Gia Hà Nội xét trong một số tương quan - 112 -
3.3.1. Tương quan giữa môi trường học tập và việc tư vấn chọn nghề của
sình viên ở Đại học Quốc gia Hà Nội 113
3.3.2. Tương quan giữa địa bàn cư trú và việc tư vấn chọn nghề của sinh
viên ở Đại học Quốc gia Hà Nội 115
3.3.3. Sinh viên chia theo nghề nghiệp của cha mẹ 117
3.3.4. Nhóm sình viên năm cuối các ngành khoa học xã hội chia theo kết
quả học tập 121 -
3.3.5. Nhóm sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội chia theo kết
quả học tập 123 -
-9-
in . KẾT LUẬN VÀ KHUYÉN NGHỊ MÔ HÌNH TỔ CHỨC T ư VẤN
NGHÈ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

- 125 -
- 10-

Do vậy, việc tiếp cận các nghề có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm ữọng:
1/người ta ở vào thế phải làm một nghề không hề phù hợp với chuyên môn hay
năng lực; 2/người ta có thể bị rơi vào tình huống làm một nghề không tạo ra
hứng thú, đam mê hay động lực và 3/ người ta có thể làm một nghề không phù
hợp với nhu cầu xã hội mấy. Những hệ quả này, một khi kết hợp lại, trở thành
những nguyên nhân sâu xa về sự kém sáng tạo của người lao động, sự bất hạnh
và sau cùng là sự chậm phát triển của xã hội. về mặt y sinh, có nhiều người
không rõ thể chất và tâm lí của mình có phù hợp với những nghề nào
Có bao nhiêu phần trăm sinh viên Việt Nam ữong các trường đại học hiện
nay xác định rõ ràng những nghề nào liên quan trực tiếp đến ngành mình đang
học? Những yêu cầu cụ thể của các nghề ấy là gì? Hầu hết các điều tra xã hội
học đối với sinh viên về nội dung “cỏ hay không cỏ định hướng ngành học
trước khi bước vào cổng trường đại học ? ” đều cho ra kết quả như sau: sinh
viên của chúng ta cơ bản định hướng ngành học theo năng lực (điểm học tập gắn
với điểm chuẩn vào ngành ấy)1. Hay nói cách khác, sinh viên coi rằng, việc vào
được trường đại học để rồi một ngày nhận tấm bằng đại học mói là điều
quan trọng. Điều này cũng dễ lí giải, bởi không ai nắm rõ năng lực của mình
hơn bản thân mình cả. Sinh viên gặp đày rẫy khó khăn khi chọn nghề vì các
thông tin về các nghề gắn với ngành học còn khiếm khuyết nghiêm trọng hoặc
cũng không có thiết chế chuyên nghiệp nói cho từng người biết rằng, với đặc
điểm tâm lí hay nhân cách này khác họ hợp với những nghề gì. Thêm vào đó,
thông tin về sự tiến triển hay biến đổi của thị trường lao động cũng vừa thiếu lại
vừa yếu. Do vậy, rất ít sinh viên nắm được những nghề gì là xã hội đang cần, sẽ
cần và sự biến chuyển quy mô cơ cấu của các nghề như thế nào.
Khi những dạng thông tin “ngoài mình” như vậy vừa thiếu lại vừa yếu,
sinh viên chỉ còn biết cách dựa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, dựa vào gia đình hay
1 Xem các nghiên cứu của Neuvễn Thị Như Trang, Phạm Ngọc Cường
- 12-
mạng lưới bạn bè để đưa ra cho mình một quyết định chọn nghề “phù hợp
nhất” phối hợp với cảm quan và trực giác của họ.

nhóm tiêu chí phù hợp với đam mê, năng lực và đáp ứng nhu cầu xã hội, thì điều
ấy không chỉ có lợi cho bản thân họ mà là có lợi chung góp phần phát triển kinh
tế - xã hội một cách bền vững.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học có ba mục đích
chính sau đây:
• Tìm hiểu thực trạng nhận thức về hướng nghiệp và tư vấn
nghề của sinh viên hiện nay cũng như những yếu tố tác động đến hướng
nghiệp hay xu hướng chọn nghề của họ để từ đó tìm ra phương thức tư
vấn nghề (lời khuyên chọn nghề) phù hợp nhất.
• Tìm hiểu và phân tích các mô hình tư vấn nghề khác nhau ở
một số nước tiên tiến để từ đó rút ra những bài học quý báu về mặt lí luận
cũng như về mặt thực tiễn nhằm cung cấp những yếu tố cơ bản cho công
tác tư vấn nghề.
• Bước đầu xây dựng mô hình tư vấn nghề cho sinh viên các
trường Đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
- 14 -
4.1. Đổỉ tượng nghiên cứu: mô hình tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên
đại học
4.2. Khách thể nghiên cứu: sinh viên các trường đại học trực thuộc Đại
học Quốc gia Hà Nội
4.3. Phạm vi nghiên cứu
4.3.1. Phạm vi nội dung
Nghiên cứu tổ chức tư vấn nghề cho sinh viên đại học liên quan đến nhiều
lĩnh vực tri thức và thực tiễn. Do vậy, nó đòi hỏi sự tham gia của nhóm nghiên
cứu Hên ngành và hệ quả là yêu cầu nguồn lực tài chính cao. Tuy nhiên, trong
khuôn khổ nhân lực và tài lực khiêm tốn, nghiên cứu này tập trung vào đánh giá
nhận thức của sinh viên về định hướng và tư vấn nghề vì chỉ trên cơ sở hiểu
được những yếu tố ảnh hưởng đến việc hướng nghiệp cũng như vai trò tư vấn
nghề đối với sinh viên, thì nhà tư vấn đã có một hướng làm cơ sờ đưa ra lời

làm nòng cốt của việc phát triển bền vững. Với phương châm lấy lao động (con
người) là thị trường cơ bản đầu tiên và xuyên suốt như vậy, Đảng và Nhà nước
đã ra nhiều văn bản khác nhau về vấn đề hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp,
đồng thời có những chương trình lớn về đào tạo nghề giúp cho thanh niên nói
chung và sinh viên nói riêng tìm được công ăn việc làm phù hợp, phát huy được
năng lực và trí tuệ, thể hiện được động cơ và đam mê của cá nhân và đáp ứng tốt
- 16-
nhu cầu xã hội. Yếu tố hạnh phúc của con người được Đảng và Nhà nước ta coi
là quan trọng nhất. Do vậy, mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đặt ra là, mỗi
người (trong đó có sinh viên) chọn được nghề phù hợp với năng lực chuyên
môn, hoà quyện với đặc điểm tâm lí của bản thân và đáp ứng tốt nhu cầu xã
hội.
Trong hệ thống vàn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước, trước hết chúng
ta có thể kể đến Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Chủ tịch Hội đồng
bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) về công tác hướng nghiệp trong trường
phổ thông và việc sử dụng hợp lí học sinh phổ thông các cấp THCS, PTTH tốt
nghiệp ra trường, Luật giáo dục (1998), Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc
hội, Chiến lược phát triến Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (ban hành
theo Quyết định sổ 201/2001/QĐ-TTG ngày 28/1/2001).
Nhiều văn kiện của Đảng, như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 cũng thể
hiện rất rõ tầm tư duy chiến lược và sự chỉ đạo sát sao đói với giáo dục thông
qua hướng nghiệp của Đảng ta. Đảng đã nhấn mạnh vai trò của hướng nghiệp và
tư vấn hướng nghiệp gắn với công tác phân luồng học sinh phổ thông, quy
hoạch mang lưới hướng nghiệp và tư vấn nghề từ phổ thông đến đại học trên cơ
sở xem xét nhu cầu kinh tế - xã hội. Đây quả thực là những định hướng quan
trọng bậc nhất cho vấn đề hướng nghiệp và tư vấn nghề ở nước ta.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
5.3.1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp kết hựp với điều tra
xã hội học bổ sung
Đe trả lời cho câu hỏi thứ nhất liên quan đến thực trạng nhận thức của

phần mềm SPSS 13.0.
5.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Dựa vào số lượng 550 đơn vị mẫu đã được lựa chọn, chúng tôi tiếp tục
tuyển 20 đơn vị mẫu để phỏng vấn sâu chia đều cho năm trường và hai khoá
(mỗi trường phỏng vấn bốn sinh viên).
- 18-
n. NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
Tư VẤN NGHỀ
1.1. Tống quan về Vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tinh hình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu quan tâm đến vấn đề hướng nghiệp của sinh
viên nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và mang tính liên
ngành về các yếu tố tác động đến hướng nghiệp cũng như tư vấn nghề cho nhóm
đối tượng đặc thù là sinh viên thể nói là chưa có ở Việt Nam. Trong quá trình điểm
luận các nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, chúng tôi thấy rằng, cũng có một số
đề tài phân tích phần nào đó các yếu tố tác động đến hướng nghiệp và tư vấn nghề
cho sinh viên hay có nhũng đề tài nghiên cứu được trực tiếp triển khai với khách
thể nghiên cứu là sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Tại Hội thảo Pháp - Á có tiêu đề vẩn để và hướng đi cho giáo dục
hướng nghiệp (11- 13/1/2010) được tổ chức tại Khoa Sư phạm (nay là Trường
ĐH. Giáo dục) - Đại học Quốc gia Hà Nội, có rất nhiều khía cạnh về hướng
nghiệp và tư vấn nghề đã được đề cập. Tiến sĩ Mạc Văn Tiến có bài viết “Một số
vấn đề hướng nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề” đề cập đến tương tác quan trọng
giữa ba chức năng: 1/ giúp đối tượng hiểu được “mình là ai” trong quyết định
lựa chọn nghề; 2/ giúp đối tượng khám phá và làm quen với thị trường lao động
và 3/ thông tin về các hệ thống đào tạo nghề. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
rất quan tâm đến hai chức năng đầu của công tác tư vấn nghề cho sinh viên đại
học: khía cạnh tâm lí và khía cạnh thị trường lao động. Kết luận của nghiên cứu

mảng nghiên cứu nhỏ của đề tài lấy khách thể nghiên cứu tập trung vào sinh
viên là con em cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
-20-
Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu tìm hiểu một yếu tố tác động cũng được
một số tác giả quan tâm, trong đó sự tác động của gia đình đến định hướng nghề
nghiệp của thanh niên nói chung được lưu ý hơn cả. Có thể kể đến đề tài luận
văn “ Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học và nghề nghiệp của con
cái trong gia đình nông thôn hiện nay” của Nguyễn Thị Phương Dung (Khoa Xã
hội học, Trường Đại hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội) hay đề tài khoa học “Vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề
nghiệp cho con hiện nay (Qua khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh) của tác giả Nguyễn
Bảo Huân Chương - ĐH Mở TP Hồ Chí Minh. Các tác giả đã đi sâu phân tích
vai trò quan trọng của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho con. Trên
cơ sở những số liệu thu thập được, tác giả đã chỉ ra thực trạng vai trò định
hướng nghề nghiệp của gia đình đối với con cái đồng thời tác giả cũng đã đi sâu
phân tích các mối tương quan giữa thực trạng đó với giữa trình độ học vấn, nghề
nghiệp của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình. Tuy nhiên chúng ta đều nhận
thấy khách thể nghiên cửu của đề tài có sự khác biệt nhiều, thậm chí hoàn toàn
so với đối tượng đề tài luận văn này hướng tới.
Chúng ta còn có thể kể đến nhiều đề tài khác nữa có đề cập tới vấn đề
nghề nghiệp, ừong đó có đi vào phân tích các yếu tố tác động đến định hướng
nghề nghiệp của khách thể nghiên cứu rộng hơn là thanh niên hay sinh viên nói
chung. Tuy nhiên có thể khẳng định ràng đi sâu phân tích một cách toàn diện có
hệ thống các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của nhóm khách thể
nghiên cứu đặc thù là sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội là việc làm
còn mới mẻ.
1.1.2. Nghiên cứu về công tác hướng nghiệp và tư vân nghề trên thế giói
Công tác hướng nghiệp và tư vấn nghề xuất hiện khá sớm, điển hình là
Pháp đã xuất hiện xu hướng này từ cuối thé kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ ở các
châu lục trên thế giới, từ Châu Ầu, Châu Á, Châu Mỹ, cho đến Châu Phi.

Những nghiên cứu về công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề tại mỗi quốc gia cũng
rất được chú trọng. Trong đó, những nghiên cứu của các học giả Pháp đã tổng
-21 -
A
kết được những đặc điểm cơ bản của công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề hiện
đại, điển hình là nghiên cứu “về lịch sử phát triển mô hình hướng nghiệp nhà
trường và chuyên môn Pháp” của GS. Anne Lancry-Hoestlandt, Viện trường
Viện INETOP. Nghiên cứu này đã khái quát những yếu tố cơ bản nhất của công
tác hướng nghiệp và tư vấn nghề, bao gồm: phương pháp tiếp cận, thông tin về
thị trường nghề, nghiên cứu đặc điểm tâm lý người tìm việc và tác động của môi
trường đến người tìm việc.
GS. Anne Lancry-Hoestlandt đã chỉ ra xu hướng hiện này là tiếp cận công
tác hướng nghiệp, tư vấn nghề theo hướng đa ngành, và triển khai dưới dạng liên
ngành. Phát triển mô hình tư vấn nghề với sự tham gia của nhiều bộ phận chức
năng - đại diện cho những thành tố chính tác động đến việc lựa chọn nghề
nghiệp: nhà kinh té chính ữị, nhà xã hội học, nhà tâm lý học đang là mô hình lý
tưởng trên thế giới hiện nay. Ba nhóm chức năng này có thể tác động trực tiếp
đến sinh viên, học viên hay tác động gián tiếp đến cách thức hướng nghiệp, tư
vấn nghề của những giảng viên đại học, cao đẳng hay trường nghề, từ đó, ảnh
hưởng trực tiếp tới quyết định của lựa chọn nghề nghiệp của người học. Nghiên
cứu của TS. Réne Pierre Halter, trưởng Ban Hướng nghiệp, Vụ Giáo dục học
đường, Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp với tiêu đề “Hướng nghiệp tại Pháp: Một
năng lực được chia sẻ, một chính sách đặc thù của nền giáo dục quốc dân, một
tổ chức phục vụ cho chỉnh sách đỏ” cũng góp phần chứng minh điều này. Ngoài
ra còn một số nghiên cứu khác cũng đề cập tới những phương pháp tiếp cận liên
ngành như “Mối quan hệ đào tạo - việc làm từ góc độ kinh tế học”, GS Jean
Michel Plassard, Phó hiệu trưởng trường đại học Khoa học Xã hội Toulouse 1
(UT1), Giám đốc Ban nghiên cửu về kinh tế học - Labô nghiên cứu liên ngành
về nguồn nhân lực và việc làm (LIRHE), Trần Thị Thanh Như, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, NCS kinh tế học giáo dục

bối cảnh kinh tế xã hội dẫn đến khác biệt trong triển khai hướng nghiệp, tư vấn
nghề giữa Pháp với các quốc gia khác, dù quốc gia đó có thể áp dụng mô hình
mẫu của Pháp: “Hướng nghiệp tại Burkina Faso: Những điểm tương đồng và
-23-
khác biệt với hệ thống hướng nghiệp tại Pháp” của TS. Rasmata Nabaloum,
Khoa Tâm lý, Trường Đại học Ouagadougou, Burkina Faso; “Hướng nghiệp tại
Quebec: vấn đề hiện tại, điểm tương đồng và khác biệt so với hệ thống hướng
nghiệp tại Phảp'\ GS Marcel Monette, trường Đại học Laval-Quebec; “ơ/áo
dục trung học dạy nghề tại Hồng Kông”, TS Ken Volk, Khoa Công nghệ ứng
đụng và thông tin, Viện Nghiên cứu giáo dục Hồng Kông; “Khái niệm hóa sự
phát triển nghề giáo viên tại Singapore - Hướng giáo viên thành những người
học suốt đời”, GS. Lee Sing Kong & GS. Tan Kwang San Steven, Trường Đại
học Công nghệ Nanyang; “Hoạt động hướng nghề tại Ảo”, TS. Julia Zdrahal-
Ưrbaneck.
Nhìn chung, công tác hướng nghiệp mà đặc biệt là tư vấn nghề ở các quốc
gia có nhiều điểm chung bên cạnh những đặc điểm chịu sự chi phối của bối cảnh
kinh tế, văn hóa xã hội của quốc gia đó.
1.2. TƯ VẤN NGHÊ TRONG HỆ THỐNG HƯỚNG NGHIỆP
*

1.2.1. Một sô'khái niệm công cụ
1.2.1.1. Khái niệm “Giám định lao động”
Để đưa một người vào một nghề cụ thể, việc quan trọng đầu tiên là phải
tìm xem người ấy có phù họp với lao động của nghề đó không. Công việc xác
lập sự phù hợp của người với những yêu cầu lao động của nghề được gọi là
giám định (Expertise) lao động. Trên thực tế, bên cạnh giám định lao động còn
có giám định tâm lý, giám định pháp y, giám định y khoa, giám định tội phạm
V.V Ở đây, chúng ta chỉ đi vào giám định lao động mà thôi.
Chuyên viên giám định là một người nắm vững chuyên môn, hiểu rõ kỹ
thuật, có kinh nghiệm và vốn nghiệp vụ cao. Nhiệm vụ của họ là soi sáng vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status