Tiểu luận Môn Quản Trị Ngân Hàng DỰ ÁN THÀNH LẬP CÔNG TY VAMC - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

Môn: Quản Trị Ngân Hàng
Đề tài:
DỰ ÁN THÀNH LẬP CÔNG TY
VAMC

GVHD: PGS. TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG
NHÓM 02
LỚP CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 1 K22

Danh sách nhóm
1. Nguyễn Thị Nhật Vy
0909.656355
2. Vương Thị Thùy Linh
3. Phạm Thành Đạt
4. Nguyễn Mạnh Toàn
TPHCM, tháng 10 năm 2013.
Mục lục
Mục lục 2
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: Thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng Việt Nam 4
1.1 Thực trạng nợ xấu hiện nay 4
1.2 Nguyên nhân 10
1.2.1 Nguyên nhân từ Ngân hàng thương mại 10
1.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay 12
1.2.3 Nguyên nhân khác 13
1.3 Tác động của nợ xấu 14
1.3.1 Đối với hệ thống NHTM 14
1.3.2 Đối với nền kinh tế 15

nhiệm vụ khá nặng nề đặt ra đối với Công ty Mua bán nợ Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Không
chỉ các nước trong khu vực châu Á thành lập các công ty quản lý tài sản mà ngay cả nước
phát triển như Mỹ và các nước Mỹ La tinh cũng có các công ty chuyên về xử lý nợ xấu của
ngân hàng. Tuy nhiên, liệu sự có mặt của các công ty quản lý tài sản có cải thiện hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng hay không?
Sự ra đời của VAMC trong thời gian gần đây cũng đang tạo ra rất nhiều luồng ý kiến trái
chiều. Để hiểu rõ hơn về VAMC, Nhóm 2 đã thực hiện nghiên cứu về đề tài “Dự án thành lập
Công ty VAMC”.
3
Chương 1: Thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng Việt Nam
1.1 Thực trạng nợ xấu hiện nay
Cùng với tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng thì trong các năm qua nợ quá hạn tại hệ thống
Ngân hàng Việt Nam cũng tăng lên đáng kể. Cơ cấu các nhóm nợ của hệ thống Ngân hàng Việt
Nam giai đoạn 2008 – 2011 và 3 quý đầu năm 2012:
Bảng 1: Dư nợ theo nhóm của hệ thống Ngân hàng Việt Nam
ĐVT: Tỷ đồng
Dư nợ
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Quý
I/2012
Quý
II/2012
Quý

06 nhưng về số tuyệt đối lại tăng hơn 2 nghìn tỷ đồng với tốc độ tăng khoảng 4%.
Bên cạnh việc nợ xấu liên tục tăng nhanh thời gian qua thì nợ xấu có nguy cơ mất vốn (nhóm 5)
luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nợ xấu khiến nợ xấu của ngành ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi
ro và rủi ro tín dụng đang tăng theo chiều hướng xấu đi.
5
Bảng 3: Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của toàn hệ thống

Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Quý
I/2012
Quý
II/2012
Quý
III/2012
Nợ quá hạn 106,727 121,645 149,547 255,310 314,384 317,096 313,344
Tỷ lệ NQH/ dư nợ 9.47% 7.17% 6.86% 10.20% 11.61% 11.52% 11.10%
Nợ xấu 35,790 38,693 46,864 77,559 98,567 116,159 124,391
Tỷ lệ nợ xấu / dư nợ 3.18% 2.28% 2.15% 3.10% 3.64% 4.22% 4.41%
Tỷ lệ nợ xấu / NQH 33.53% 31.81% 31.34% 30.38% 31.35% 36.63% 39.70%
Tốc độ tăng nợ xấu 8.11% 21.12% 65.50% 27.09% 17.85% 7.09%
Nguồn: />Biểu đồ 1: Tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ, nợ quá hạn và tốc độ tăng nợ xấu

Từ năm 2008 đến quý II/2012 nợ xấu luôn tăng với tỷ lệ cao và tăng cao vọt vào năm 2011, 6

tỷ lệ
Khối NHTM nhà nước 57.72% 60.59% 51.10% 47.96% 47.83% 37.32% 39.16%
Khối NHTM cổ phần 37.76% 33.40% 41.51% 36.99% 43.26% 50.58% 51.64%
Tổng cộng 95.48% 93.99% 92.61% 84.95% 91.08% 87.91% 90.80%
Nguồn: />7
Biểu đồ 2: Cơ cấu nợ xấu của khối NHTM so với toàn ngành tháng 09/2012
Trong 9 tháng đầu năm thì khối NHTM cổ phần tăng nợ xấu 8/9 tháng, khối NHTM nhà nước
tăng 7/9 tháng. Đến hết tháng 06/2012 nợ xấu tại các NHTM khoảng 102,110 tỷ đồng chiếm
87.91% tổng nợ xấu của toàn ngành, và tiếp tục tăng đến hết tháng 09 là 90.8% với mức 112,947 tỷ
đồng, tăng 10,837 tỷ đồng so với tháng 6.
So với cuối năm 2011 thì nợ xấu của khối NHTM cổ phần tăng 35,554 tỷ đồng, tăng 123.94%,
đây là mức tăng cao nhất trong các khối TCTD, trong đó 4/37 ngân hàng giảm nợ xấu (gồm
Saigonbank, VIB, DAB, Eximbank), 33 ngân hàng còn lại đều tăng nợ xấu với mức cao với 29 ngân
hàng có tỷ lệ tăng trên 10%, đặc biệt Ngân hàng Đại Tín tăng 52.2 lần so với cuối năm trước với
mức tăng là 86.4%. 2/3 số ngân hàng trong khối vẫn đang gia tăng nợ xấu với việc chuyển nhóm nợ
theo chiều hướng ngày càng xấu như: chuyển nợ nhóm 3 lên nhóm 4 có Ngân hàng Đại Tín, Ngân
hàng Công Thương, Ngân hàng Quân Đội, Ngân hàng Nhà Hà Nội, Sacombank, … chuyển từ nợ
nhóm 4 lên nhóm 5 có Ngân hàng Ngoại Thương, Ngân hàng Bảo Việt, Ngân hàng Liên Việt …
Đến tháng 09 thì nợ xấu của khối NTHM cổ phần chiếm 50% nợ xấu toàn ngành, và nợ nhóm 5
chiếm 38.19% nợ nhóm 5 toàn ngành.
Khối NHTM nhà nước (không bao gồm VDB) nợ xấu tháng 09/2012 tăng 11.507 tỷ đồng với tỷ
lệ tăng 30.93%, trong đó cả 4 ngân hàng đều tăng gồm BIDV tăng 52.1% (đạt 9,894 tỷ đồng);
Agribank tăng 26,25% (đạt 38,035 tỷ đồng); MHB tăng 33,91% (đạt 711 tỷ đồng) và Ngân hàng
Chính sách tăng 9,93% (đạt 67 tỷ đồng). Trong tháng 09 nợ nhóm 3 và nhóm 4 của khối tăng cao và
nợ nhóm 5 giảm ở cả 4 ngân hàng, trong đó 2 Ngân hàng lớn trong khối là BIDV và Nông nghiệp
đang có hiện tượng chuyển dịch nhóm nợ theo hướng xấu: BIDV tăng nợ nhóm 4 và Nông nghiệp
8
tăng nợ nhóm 3. Trong khi dư nợ của Khối hiện nay chỉ chiếm 29,13% tổng dư nợ toàn hệ thống thì
nợ xấu vẫn chiếm tới 39,15% tổng nợ xấu và riêng nợ nhóm 5 chiếm 51,29% tổng nợ nhóm 5 toàn
ngành.

Fitch Ratings lại nhận định con số nợ xấu hiện tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khoảng
13%; ngày 7/6 vừa qua, tại diễn đàn của Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn
Bình cho rằng, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng khoảng 10%. Theo ý kiến của Ông Nguyễn
Hữu Nghĩa, quyền Chánh thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước thì kết quả giám sát của cơ
quan thanh tra có sự khác biệt so với báo cáo của các Ngân hàng là do:
Thứ nhất, các tiêu chí xác định nợ xấu theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng
(như: thời gian quá hạn, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ,…) và tiêu chí định tính (chấm điểm, xếp
hạng khách hàng, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng). Việc bao gồm các tiêu chí định tính và
định lượng trong phân loại nợ là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, do khoản nợ rủi ro và
năng lực quản trị rủi ro của các TCTD là khác nhau, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong
phân loại nợ dễ dẫn đến sự thiếu minh bạch trong xác định và ghi nhận nợ xấu của TCTD.
Thứ hai, một số TCTD không thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu thấp
hơn thực trạng và quy định để giảm chi phí trích lập DPRR.
Thứ ba, do thiếu thông tin về phân loại nợ của khách hàng tại các TCTD, nên dẫn đến có sự
khác nhau về nhóm nợ của 1 khách hàng quan hệ tại nhiều TCTD
Còn đánh giá của Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đối với nợ xấu của Việt Nam cao
hơn cơ quan thanh tra giám sát có thể là do Fitch Ratings áp dụng tiêu chuẩn phân loại nợ riêng
khác với hệ thống phân loại nợ của Việt Nam hoặc Fitch Ratings chỉ chọn mẫu điều tra và ước đoán
cho toàn bộ hệ thống tín dụng.
Dù các kết quả công bố về nợ cấu của các tổ chức đưa ra là khác nhau, nhưng thực tế hiện nay ở
Việt Nam nợ xấu đang ngày càng tăng cao và được ví như “cục máu đông” của nền kinh tế, nó làm
cho nền kinh tế không hấp thu được vốn dẫn đến không thể vận hành được nền kinh tế.
1.2 Nguyên nhân
1.2.1 Nguyên nhân từ Ngân hàng thương mại
Xuất phát từ những yếu kém trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng, cụ thể:
• Ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin của khách hàng, việc thu thập thông tin về
khách hàng chủ yếu thông qua hồ sơ vay vốn, báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp,
10
trong khi đó tính chính xác và kịp thời của các tài liệu này thường không cao. Dẫn đến Ngân
hàng không đánh giá được chính xác năng lực tài chính của khách hàng, khả năng thực hiện

thăng hoa đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, giai đoạn này đã có 13 NHTM
nông thôn đã được chuyển đổi thành NHTM đô thị (ABBank, OceanBank, SHB, NaviBank,
GPBank, KienlongBank, TrustBank, WesternBank, DaiABank, PGBank,
MekongDevBank, ). Vốn điều lệ của các ngân hàng này chỉ khoảng vài chục đến vài trăm
tỷ đồng nên trong vòng khoảng 5 năm các Ngân hàng phải tăng vốn điều lệ tối thiểu là 3,000
tỷ đồng vào năm 2011. Hậu quả là các ngân hàng này phải tăng trưởng tài sản bằng mọi giá
để tương ứng với vốn chủ sở hữu tăng thêm nhưng trình độ quản trị của các ngân hàng này
không theo kịp với đà tăng của tài sản dẫn đến chất lượng tín dụng tại các Ngân hàng này
kém. Cụ thể 9 tháng đầu năm tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng này là TrustBank 88.06%,
GPbank 32.87%, ABBank 6.97%, WesternBank 6.32%, DaiABank 4.27%, SHB 3.58%.
• Các ngân hàng phân phối một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp là “sân sau”: Các ngân
hàng chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị để tăng vốn chủ sở hữu lớn trong thời gian ngắn thì
buộc phải dựa vào vốn góp của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp này
trở thành cổ đông của Ngân hàng. Chính vì vậy rất có thể các NHTM đã trở thành “sân sau”
của các doanh nghiệp, huy động vốn để cho các doanh nghiệp (hoặc công ty con của các
doanh nghiệp) vay vốn, từ đó có thể xuất hiện việc cho vay thiếu cẩn trọng, chủ yếu cho vay
dựa vào mối quan hệ như trên. Hơn nữa để có nguồn vốn lớn trong thời gian ngắn góp vốn
vào các TCTD là “sân sau” của mình thì các tập đoàn này cũng phải đi vay vốn từ các ngân
hàng khác dẫn đến hiện tượng nợ xấu xảy ra dắt dây trong toàn bộ hệ thống.
• Nợ xấu tại các NHTM nhà nước tăng cao một phần là do lãnh đạo tại các Ngân hàng được
trao quyền tự chủ cao, thẩm quyền phán quyết tín dụng của giám đốc chi nhánh Ngân hàng
cao nhưng lại không bị ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm đối với toàn bộ khoản vay
1.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay
• Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay: xảy ra khi việc triển khai dự án sản
xuất, kinh doanh không khoa học, không được thực hiện kỹ, có sự tính toán sai về nhu cầu
thị trường (thị trường đầu vào, đầu ra), các chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm,
• Năng lực tài chính của khách hàng yếu, cơ cấu vốn đầu tư của khách hàng tham gia vào dự
án không đúng cam kết ban đầu dẫn đến dự án không tiếp tục được triển khai.
12
• Do khách hàng cố tình không thanh toán nợ vay khi đến kỳ trả nợ mặc dù khách hàng có khả

• Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng trong một thời gian dài chưa phát huy hiệu quả cao
trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tín
dụng của các TCTD, nhất là các vi phạm quy định hạn chế cấp tín dụng và đầu tư quá mức
vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.
• Kể từ cuối năm 2008, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu nên môi trường kinh doanh trong nước gặp rất nhiều khó khăn từ đó làm cho chất
lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh. Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, tổng cầu của
nền kinh tế giảm mạnh, tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho lớn, thị trường
bất động sản đóng băng, năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút Số lượng doanh
nghiệp giải thể, ngưng hoạt động ngày càng nhiều (Theo ông Vũ tiến Lộc chủ tịch phòng
thương mại và công nghiệp VN thì Quý II có 26.324 doanh nghiệp ngưng sảng xuất thì đến
Quý III ước tính số lượng doanh nghiệp giải thể và ngưng sản xuất đã lên đến gần 49.000
doanh nghiệp) càng làm cho nợ xấu tăng cao hơn.
1.3 Tác động của nợ xấu
1.3.1 Đối với hệ thống NHTM
Tỷ lệ nợ xấu tăng cao khiến người dân lo ngại về khả năng kiểm soát tín dụng, khả năng kiểm
soát sử dụng nguồn vốn huy động. Từ đó làm giảm uy tín của ngân hàng, ảnh hưởng đến hoạt dộng
kinh doanh của ngân hàng.
• Nợ xấu đang khiến nhiều ngân hàng thanh khoản mạnh vẫn tiếp tục phải nuôi lãi suất. Nó
gây sức ép lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, là điểm nghẽn của dòng chảy vốn ra nền
kinh tế. Nhiều người dân có nhu cầu rút tiền để mua sắm hay kinh doanh, và trong số đó sẽ
có những khoản tiền đang nằm trong nợ xấu. Nợ không đòi được, lại phải trả cả lãi lẫn gốc
cho các khoản tiền huy động đang tạo sức ép mạnh lên thanh khoản của các ngân hàng.
Những khoản nợ nào không thể thu hồi được thì giải pháp hiện nay đã và đang làm là sử
dụng dự phòng để bù đắp những khoản nợ khó đòi và không đòi được. Bên cạnh đó ngân
hàng còn thực hiện tái cơ cấu ngân hàng mình, làm lành mạnh tài chính để đảm bảo thanh
khoản cho các ngân hàng thương mại.
• Nợ xấu tăng nhanh buộc ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản
nợ này. Đặc biệt khi có thêm thông tin về tình hình kinh tế vĩ mô, sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp diễn biến tiêu cực, những khoản vay mới đến hạn nhưng doanh nghiệp không

sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh
tế. Về mặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam
15
sẽ khó mà duy trì được mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới
môi trường đầu tư.
16
Chương 2: Quá trình hình thành VAMC và thực tế tại Việt Nam
2.1 Quá trình hình thành Công ty xử lý nợ xấu tại Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay cao nhất trong khu
vực, trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực với thị phần tín dụng chiếm tới xấp xỉ 95%
của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế,
trong bối cảnh thị trường vốn còn chưa phát triển, tín dụng ngân hàng (TDNH) luôn đóng vai trò là
kênh dẫn vốn chủ đạo trên thị trường tài chính, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, phát triển
sản xuất kinh doanh và góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. TDNH đã tăng trưởng
bình quân trên 30%/năm trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 40,1% vào năm
2000 lên tới 125% vào năm 2010.
Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ với những đóng góp tích cực cho nền kinh tế trong thời gian
vừa qua, hoạt động TDNH cũng còn rất nhiều vấn đề tồn đọng mà nổi bật và luôn được quan tâm
nhiều là vấn đề nợ xấu. Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, vì vậy
sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực sự nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao hoặc bối cảnh kinh tế, tình
hình tài chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy hiểm trong
tương lai.
Sau khi khối lượng nợ tồn đọng từ những năm 1990 được xử lý thì tỷ lệ nợ xấu từ năm 2000 với
mức 2 con số đã giảm xuống còn ở mức thấp 1 con số. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ
xấu đang có chiều hướng gia tăng.
Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các
TCTD chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà
nước là 125,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại
nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 60,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư
nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.

Năm là, tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm các tổ
chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quy định về cấp tín
dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạt động tín dụng.
Ngoài ra, NHNN cũng chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một số giải
pháp hỗ trợ khác, như: triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ giải phóng
18
hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, tích cực triển khai
đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế
và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp này; Phối hợp với các địa
phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này
phát triển lành mạnh
Trên thực tế, Việt Nam đã thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn động của DN (DATC)
thuộc Bộ Tài chính để thực hiện sứ mệnh giúp lành mạnh hóa tài chính của DNNN, đồng thời thúc
đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi DNNN. Tuy nhiên, căn cứ vào diễn biến nợ xấu hiện nay, thì
chủ của các món nợ xấu không còn giới hạn trong khu vực DNNN, dù đây là thành phần cần được
xử lý chính yếu. Do đó, việc xây dựng một công ty theo hướng AMC, dù là thuộc cơ quan nào, đơn
vị nào, thì cần phải nghiên cứu cơ chế xử lý thực sự có hiệu quả và phù hợp với tình hình sản xuất
kinh doanh của mỗi DN.
Mặc dù những biện pháp này đã giúp làm dịu đi những căng thẳng trên thị trường tín dụng,
nhưng không thể giải quyết tận gốc vấn đề nợ xấu đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam hiện nay. Tuy nhiên nợ xấu trong hệ thống ngân hàng không phải do riêng bản thân ngân hàng
gây ra nên để xử lý dứt điểm nợ xấu cần phải có những giải pháp tích cực cơ cấu lại DN, nâng cao
năng lực tài chính, khả năng kinh doanh, mở rộng thị trường của DN
2.2 Mô tả VAMC
2.2.1 Giới thiệu mô hình VAMC và phạm vi xử lý
2.2.1.1 Giới thiệu mô hình VAMC
Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam được thành lập và hoạt động theo
Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 5
năm 2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ
chức tín dụng Việt Nam.

2.2.1.2 Phạm vi xử lý của VAMC
Đề án tập trung xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam, bao gồm nợ xấu cấp tín dụng,
nợ xấu mua trái phiếu doanh nghiệp và nợ xấu ủy thác cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp.
Tập trung xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% tổng dư nợ và nợ xấu có tài
sản bảo đảm, trong đó ưu tiên xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản.
2.2.2 Cách thức mua bán nợ của VAMC
- Mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do công ty quản
lý tài sản phát hành.
- Mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu
đặc biệt.
21
• Thông tư số 19/TT-NHNN qui định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý
tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC):
+ Mua nợ thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt. Công ty sẽ lên phương án phát hành hành
trái phiếu đặc biệt và trình NHNN xem xét phê duyệt. Giá trị trái phiếu đặc biệt tương ứng
với một khoản nợ xấu được mua bán. Trong trường hợp khoản nợ xấu được mua bán là
khoản cấp tín dụng hợp vốn, thì VAMC phát hành TPĐB cho từng TCTD tham gia cấp tín
dụng hợp vốn tương ứng với giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu sau khi khấu trừ số
tiền dự phòng. Cụ thể, số tiền này đã trích lập, chưa sử dụng cho khoản nợ xấu đó và đang
được theo dõi tại TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn.
TCTD bán nợ phải trích lập dự phòng rủi ro đối với TPĐB vào chi phí hoạt động. Hệ số rủi
ro của TPĐB là 20% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TCTD. Hàng năm TCTD phải
trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) cho TPĐB không thấp hơn 20%. Như vậy đảm bảo sau 5
năm khoản nợ xấu sẽ được trích lập đầy đủ. Số tiền trích lập DPRR bằng mệnh giá/thời hạn
của TPĐB.
+ Các khoản nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bao thanh toán và các khoản nợ xấu theo quy định của NHNN; khoản mua trái phiếu DN
chưa niêm yết trên thị trường chứng khoản hoặc chưa đăng ký giao dịch; khoản nợ xấu có tài
sản đảm bảo
Trong trường hợp đặc biệt, nếu khoản nợ xấu của TCTD không đáp ứng đủ các điều kiện để

không vượt quá thời hạn tái cấp vốn lần đầu của khoản tái cấp vốn đó.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể về trình tự xem xét tái cấp vốn hoặc gia hạn tái cấp
vốn; Trả nợ vay tái cấp vốn; Xử lý đối với việc TCTD không trả nợ đúng hạn; Trách nhiệm của
TCTD, VAMC và trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHNN.
2.2.3 Các hoạt động chính của VAMC
Công ty Quản lý tài sản có một số hoạt động chính sau đây:
1. Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
2. Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm.
3. Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của
khách hàng vay.
4. Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được Công ty
Quản lý tài sản thu nợ.
23
5. Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản
nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay.
6. Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản.
7. Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần.
8. Tổ chức bán đấu giá tài sản.
9. Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng.
10. Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công ty Quản lý tài sản sau khi được
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Công ty Quản lý tài sản được ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ (i) quản lý khoản nợ đã
mua, tài sản bảo đảm của khoản nợ và các hồ sơ, tài liệu liên quan đến khoản nợ; (ii) thực hiện
quyền của Công ty Quản lý tài sản đối với khoản nợ; (iii) thực hiện các hoạt động từ Điểm 2 đến
Điểm 5 nói trên.
2.2.4 Quyền hạn và trách nhiệm của VAMC
2.2.4.1 Quyền hạn của VAMC
Công ty Quản lý tài sản có các quyền sau đây:
1. Yêu cầu tổ chức tín dụng bán nợ, khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm và các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các thông tin, tài liệu về tổ chức và hoạt động của

động.
5. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Điều lệ và quy định của pháp luật.
25

Trích đoạn Bài học từ các quốc gia trên thế giới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status